Quan hệ Việt Nam - Liên Bang Nga

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Quan hệ Việt - Nga)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quan hệ Nga-Việt
Bản đồ cho thấy vị trí của Russia và Vietnam

Nga

Việt Nam

Quan hệ Việt-Nga (tiếng Nga: Российско-вьетнамские отношения) là quan hệ giữa hai nước Việt NamNga hay Việt NamLiên Xô (trước đây). Quan hệ Việt - Xô đã chính thức được thiết lập vào 30 tháng 1, 1950 khi Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết mở đại sứ quán tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vladimir Putin trong lễ đón chính thức tại Việt Nam, 2006

Quan hệ Việt - Xô[sửa | sửa mã nguồn]

Báo chí hai nước luôn ca ngợi sự khăng khít trong quan hệ giữa hai nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nói:[2]

Đối với Lênin, đối với Cách mạng Tháng Mười, đối với Đảng Cộng sản, Chính phủ Liên Xô và nhân dân Xô Viết, chúng ta 'Uống nước phải nhớ nguồn'.

Lê Duẩn, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng nói:

Nhân dân Việt Nam hiểu sâu sắc rằng mỗi bước đi lên, mỗi chặng đường thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với những sự kiện trọng đại diễn ra trên đất nước Liên Xô.

Năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập theo thể chế chủ nghĩa xã hội.

Nước Việt Nam non trẻ phải đối mặt với nhiều khó khăn: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm... Chính quyền cách mạng chưa được củng cố, lực lượng vũ trang còn non yếu. Vì vậy, một trong những cố gắng đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phá vỡ thế bao vây của kẻ thù và tranh thủ sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa.

Ngày 22-9-1945 - 20 ngày sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi mật điện cho I.V. Stalin (qua Đại sứ Liên Xô A.E.Bogomolov tại Pháp), thông báo về sự ra đời của Chính phủ cách mạng ở Việt Nam:[3]

Bức mật điện đầu tiên Liên Xô nhận được từ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (22-9-1945)

Kính gửi đồng chí Stalin. Moksva.

Chúng tôi xin thông báo với Ngài rằng Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập với Chủ tịch là Hồ Chí Minh. Ngày 25 – 8, Hoàng đế Bảo Đại thoái vị và chuyển giao chính quyền cho Chính phủ mới được toàn dân ủng hộ.

Trong khi đó, do hệ thống đê điều bị phá vỡ, một nửa Bắc Bộ bị ngập lụt, gây thiệt hại to lớn, dân bắt đầu chết đói. Chúng tôi xin Ngài giúp đỡ ở mức độ có thể.

Trân trọng. Hồ Chí Minh

Nguồn: Архив внешней политики Российской Федерации (АВП РФ), ф. 0136, оп. 29, п.197, д. 31, л.187.

Bức điện trên và một loạt các bức điện khác được gửi trong tháng 9,10/1945 đều không được hồi âm. Theo Bukharkin, "Matxcova tiếp nhận những bức điện khẩn của lãnh đạo Việt Nam với thái độ khá dè dặt".[4] Vấn đề Đông Dương đã không được ưu tiên bởi Moskva như vấn đề phương Tây sau chiến tranh thế giới thứ hai, đồng thời, Stalin "không muốn làm suy yếu Đảng Cộng sản Pháp khi ủng hộ cuộc chiến giành độc lập ở Đông Dương", vì thế, Stalin đã "khoán" cho Trung Quốc nhiệm vụ hỗ trợ Hồ Chí Minh và Việt Minh. Maurice Thorez, lãnh đạo Cộng sản Pháp, từng nói rằng "Stalin không tin tưởng nhóm của Hồ Chí Minh". Thorez nói rằng Hồ Chí Minh đã đi quá xa trong quan hệ với Mỹ và tình báo Anh. Hơn thế nữa, Stalin không vui khi Hồ Chí Minh không chịu nghe lời mình.[5]

Sau khi được Trung Quốc đặt quan hệ ngoại giao (18-1-1950), Chủ tịch Hồ Chí Minh tới Bắc Kinh (21-1-1950). Nhân dịp này, Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ Trung Quốc thông báo cho Stalin biết Hồ Chí Minh đang thăm Trung Quốc và đề nghị được gặp Stalin để thông báo cho Chính phủ Liên Xô biết về tình hình cách mạng Việt Nam.[6]

Ngày 23-1-1950, Bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám thay mặt Chính phủ Việt Nam gửi công hàm cho Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô, đề nghị hai nước kiến lập quan hệ ngoại giao chính thức và trao đổi đại sứ. Mao Trạch Đông, lúc đó đang đàm phán với Stalin để kí Hiệp ước Hữu nghị, Đồng minh và Tương trợ Trung - Xô tại Moskva, đã đề nghị Stalin mời Hồ Chí Minh tới Moskva để bàn về việc hợp tác Xô - Việt. Stalin đã miễn cưỡng chấp nhận điều này và ngày 30-1-1950, Moskva chính thức công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[5]

Từ năm 1950 trở đi, Liên Xô bắt đầu viện trợ những khoản vật chất quan trọng cho Việt Nam. Số lượng hàng đầu tiên gồm "pháo cao xạ 37 ly, một số xe vận tải môtôrôla và thuốc quân y". Nhìn chung, nếu từ tháng 5-1950 đến tháng 6-1954, Việt Nam nhận được 21.517 tấn hàng viện trợ quốc tế với tổng trị giá 54 triệu rúp từ Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân khác, thì trong đó "toàn bộ pháo cao xạ 37 ly- 76 khẩu, toàn bộ hỏa tiễn (cachiusa), toàn bộ số tiểu liên K50, phần lớn số ôtô vận tải 685 trên tổng số 745 chiếc và một số lượng lớn thuốc kháng sinh ký ninh là của Liên Xô".[7]

Sau sự kiện Liên Xô tan rã, mối quan hệ mật thiết lại được tạo dựng giữa Việt NamLiên bang Nga, quốc gia kế tục Liên Xô.

Quan hệ Việt - Nga[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 16/6/1994, Việt Nam và Nga đã ký Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị. Tháng 3/2001, Việt Nam và LB Nga đã xác lập mối quan hệ song phương lên tầm đối tác chiến lược nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Vladimir Putin. LB Nga là nước đầu tiên Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác chiến lược.[8]

Tình hình hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng thống Vladimir Putin và chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết

Hai nước duy trì cơ chế Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế - thương mại và khoa học - kỹ thuật đồng thời thành lập Hội đồng Doanh nghiệp Việt Nam – Liên Bang Nga nhằm trao đổi biện pháp tăng cường hợp tác và hỗ trợ xúc tiến thương mại, đầu tư cho doanh nghiệp hai nước.

Năm 2007, Việt Nam và Nga đã công nhận lẫn nhau có nền kinh tế thị trường, tạo thêm điều kiện cho doanh nghiệp của nhau thâm nhập thị trường. Gần 5% con số chính thức người Việt tại Nga là sinh viên theo học bằng học bổng của chính phủ Nga.[9].

Tháng 1, năm 2001, để kỉ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước, tổng thống Nga Vladimir Putin đã có chuyến thăm chính thức tới Hà Nội, hội đàm cùng Chủ tịch nước Việt Nam Trần Đức Lương[1].

Thương mại song phương hai nước đã đạt tới 550 triệu USD vào năm 2001; Nga xuất khẩu sang Việt Nam máy móc và thép; trong khi Việt Nam xuất khẩu sang Nga lúa gạo và vải vóc. Hai nước cũng giữ vững mối quan hệ trong lĩnh vực năng lượng với việc liên doanh Vietsovpetro khai thác dầu thô tại mỏ Bạch Hổ.[10]

Hợp tác quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Tương phản với quan hệ ngoại giao và thương mại, hợp tác quân sự giữa hai nước đã đi xuống kể từ sau khi Liên Xô tan rã[10]. Hải quân Liên Xô đã duy trì hiện diện quân sự tại căn cứ ở vịnh Cam Ranh (được Mỹ xây dựng và chuyển giao cho Hải quân Việt Nam Cộng hòa trước khi quân đội miền Bắc giành được năm 1975). Trước năm 1987, căn cứ này đã được mở rộng ra gấp 4 lần kích thước ban đầu của nó, có vai trò gìn giữ hòa bình cho khu vực Đông Nam Á, điều này trái ngược với thông tin tình báo của Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ.

Các nhà phân tích cho rằng phía Việt Nam nhìn nhận sự có mặt của Liên Xô là đối trọng chống lại bất kỳ mối đe dọa tiềm tàng nào từ phía Trung Quốc. Liên Xô và Việt Nam luôn chính thức phủ nhận bất kỳ sự hiện diện quân sự nào ở đây[11]. Tuy nhiên, vào đầu năm 1988, ngoại trưởng Liên Xô khi đó Eduard Shevardnadze đã thảo luận về khả năng rút quân khỏi vịnh Cam Ranh và sự cắt giảm quân đội cụ thể đã được thi hành vào năm 1990.[12][13] Nga bắt đầu rút nốt số quân ít ỏi còn lại vào năm 2002[14].

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, Việt Nam trở thành đối tác quốc phòng quan trọng của Nga, thể hiện qua hầu hết các khí tài quân sự hiện đại của Việt Nam đều nhập từ Nga, một phần do lệnh cấm vận của Mỹ đối với Việt Nam.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Mối quan hệ bền chặt Viêt-Nga đạt được những tầm cao mới”. Đại sứ quán Việt Nam tại Mỹ. 5 tháng 3 năm 2001. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2007. 
  2. ^ Lê Quỳnh, BBC Vietnamese. “Bài học từ quan hệ Việt - Xô”. Truy cập 8 tháng 8 năm 2014. 
  3. ^ Nguyễn Thị Mai Hoa (26 tháng 8 năm 2013). “Quan hệ Việt Nam - Liên Xô những năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám”. Truy cập 6 tháng 8 năm 2014. 
  4. ^ Бухаркин И.В, "Кремль и Хо Ши Мин 1945-1969", Tk, № 3, стр. 29(Bukharkin I.V, "Kremlin và Hồ Chí Minh 1945 - 1969")
  5. ^ a ă Ilya V., Gaiduk (2003). Confronting Vietnamm, Soviet Policy toward the Indochina Conflict, 1954 - 1963. Mỹ. tr. 2,5. ISBN 0-8047-4712-1. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2014. 
  6. ^ Nguyễn Thị Hương (23 tháng 11 năm 2013). “Hồ Chí Minh với quan hệ Việt - Xô trong những năm 1950 - 1969”. Truy cập 19 tháng 8 năm 2014. 
  7. ^ Nguyễn Thị Mai Hoa (31 tháng 1 năm 2014). “Quan hệ Việt Nam - Liên Xô những năm đầu kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1964)”. Truy cập 8 tháng 8 năm 2014. 
  8. ^ [1] Tăng cường hơn nữa quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - LB Nga
  9. ^ “Ngoại trưởng Nga nhấn mạnh mối quan hệ truyền thống với Việt Nam”. Bộ ngoại giao Việt Nam. 25 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2007. 
  10. ^ a ă Blagov, Sergei (12 tháng 7 năm 2002). “Russia committed to Vietnamese oil”. Asia Times. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2008. 
  11. ^ Trainor, Bernard E. (1 tháng 3 năm 1987). “Russians in Vietnam: U.S. sees a threat”. The New York Times. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2007. 
  12. ^ Mydans, Seth (23 tháng 12 năm 1988). “Soviets Hint at Leaving Cam Ranh Bay”. The New York Times. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2008. 
  13. ^ Weisman, Steven R. (4 tháng 6 năm 1990). “Japanese-U.S. Relations Undergoing a Redesign”. The New York Times. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2008. 
  14. ^ Arthurs, Clare (26 tháng 3 năm 2002). “Russia to stress Vietnam ties”. BBC News. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2008. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phái đoàn ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]