Quan hệ Việt - Nga

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quan hệ Nga-Việt
Bản đồ cho thấy vị trí của Russia và Vietnam

Nga

Việt Nam

Quan hệ Việt-Nga (tiếng Nga: Российско-вьетнамские отношения) đã chính thức được thiết lập vào 30 tháng 1, 1950 khi Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết mở đại sứ quán tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vladimir Putin trong lễ đón chính thức tại Việt Nam, 2006

Việt Nam Dân chủ Cộng hòaLiên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 30/1/1950.

Suốt nhiều năm Liên Xô đã là một trong những cường quốc sát cánh cùng Việt Nam. Sau sự kiện Liên Xô tan rã, mối quan hệ mật thiết lại được tạo dựng giữa Việt NamLiên bang Nga, quốc gia kế tục Liên Xô.

Ngày 16/6/1994, Việt Nam và Nga đã ký Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị. Tháng 3/2001, Việt Nam và LB Nga đã xác lập mối quan hệ song phương lên tầm đối tác chiến lược nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Vladimir Putin. LB Nga là nước đầu tiên Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác chiến lược.[2]

Tình hình hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng thống Vladimir Putin và chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết

Hai nước duy trì cơ chế Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế - thương mại và khoa học - kỹ thuật đồng thời thành lập Hội đồng Doanh nghiệp Việt Nam – Liên Bang Nga nhằm trao đổi biện pháp tăng cường hợp tác và hỗ trợ xúc tiến thương mại, đầu tư cho doanh nghiệp hai nước.

Năm 2007, Việt Nam và Nga đã công nhận lẫn nhau có nền kinh tế thị trường, tạo thêm điều kiện cho doanh nghiệp của nhau thâm nhập thị trường. Gần 5% con số chính thức người Việt tại Nga là sinh viên theo học bằng học bổng của chính phủ Nga.[3].

Tháng 1, năm 2001, để kỉ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước, tổng thống Nga Vladimir Putin đã có chuyến thăm chính thức tới Hà Nội, hội đàm cùng Chủ tịch nước Việt Nam Trần Đức Lương[1].

Thương mại song phương hai nước đã đạt tới 550 triệu USD vào năm 2001; Nga xuất khẩu sang Việt Nam máy móc và thép; trong khi Việt Nam xuất khẩu sang Nga lúa gạo và vải vóc. Hai nước cũng giữ vững mối quan hệ trong lĩnh vực năng lượng với việc liên doanh Vietsovpetro khai thác dầu thô tại mỏ Bạch Hổ.[4]

Hỗ trợ quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Tương phản với quan hệ ngoại giao và thương mại, hợp tác quân sự giữa hai nước đã đi xuống kể từ sau khi Liên Xô tan rã[4]. Hải quân Liên Xô đã duy trì hiện diện quân sự tại căn cứ ở vịnh Cam Ranh (được Mỹ xây dựng và chuyển giao cho Hải quân Việt Nam Cộng hòa trước khi quân đội miền Bắc giành được năm 1975). Trước năm 1987, căn cứ này đã được mở rộng ra gấp 4 lần kích thước ban đầu của nó, có vai trò gìn giữ hòa bình cho khu vực Đông Nam Á, điều này trái ngược với thông tin tình báo của Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ.

Các nhà phân tích cho rằng phía Việt Nam nhìn nhận sự có mặt của Liên Xô là đối trọng chống lại bất kỳ mối đe dọa tiềm tàng nào từ phía Trung Quốc. Liên Xô và Việt Nam luôn chính thức phủ nhận bất kỳ sự hiện diện quân sự nào ở đây[5]. Tuy nhiên, vào đầu năm 1988, ngoại trưởng Liên Xô khi đó Eduard Shevardnadze đã thảo luận về khả năng rút quân khỏi vịnh Cam Ranh và sự cắt giảm quân đội cụ thể đã được thi hành vào năm 1990.[6][7] Nga bắt đầu rút nốt số quân ít ỏi còn lại vào năm 2002[8].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Mối quan hệ bền chặt Viêt-Nga đạt được những tầm cao mới”. Đại sứ quán Việt Nam tại Mỹ. 5 tháng 3 năm 2001. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2007. 
  2. ^ [1] Tăng cường hơn nữa quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - LB Nga
  3. ^ “Ngoại trưởng Nga nhấn mạnh mối quan hệ truyền thống với Việt Nam”. Bộ ngoại giao Việt Nam. 25 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2007. 
  4. ^ a ă Blagov, Sergei (12 tháng 7 năm 2002). “Russia committed to Vietnamese oil”. Asia Times. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2008. 
  5. ^ Trainor, Bernard E. (1 tháng 3 năm 1987). “Russians in Vietnam: U.S. sees a threat”. The New York Times. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2007. 
  6. ^ Mydans, Seth (23 tháng 12 năm 1988). “Soviets Hint at Leaving Cam Ranh Bay”. The New York Times. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2008. 
  7. ^ Weisman, Steven R. (4 tháng 6 năm 1990). “Japanese-U.S. Relations Undergoing a Redesign”. The New York Times. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2008. 
  8. ^ Arthurs, Clare (26 tháng 3 năm 2002). “Russia to stress Vietnam ties”. BBC News. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2008. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phái đoàn ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]