Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam
Bản đồ cho thấy vị trí của Hàn Quốc và Việt Nam

Hàn Quốc

Việt Nam

Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc là mối quan hệ giữa hai quốc gia có nhiều nét tương đồng về lịch sử và văn hóa. Khác với Quan hệ Việt Nam – CHDCND Triều Tiên mang tình hữu nghị cộng sản thì quan hệ giữa Việt - Hàn là mối quan hệ giữa "Thù cũ bạn mới". Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao với Hàn Quốc là ngày 22 tháng 12 năm 1992.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Trung Quốc đô hộ[sửa | sửa mã nguồn]

Bán đảo Triều Tiên đã có quan hệ với Việt Nam từ thời các triều đại Trung Quốc thôn tính Việt Nam hoặc gây ảnh hưởng lên hai quốc gia này. Khi đó quan hệ giữa 2 bên không có nhiều đáng kể.

Những người tị nạn Việt Nam đầu tiên ở Bán đảo Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Đến thời Cao Ly, xuất hiện những người tỵ nạn đến từ Đại Việt thuộc Nhà Lý. Ghi nhận đầu tiên là đoàn tị nạn của Đô đốc Lý Dương Côn tới Cao Ly năm 1150.[1] Sau đó, khi Nhà Trần lên nắm quyền ở Đại Việt năm 1226, hoàng tử Lý Long Tường của Nhà Lý cùng đoàn tùy tùng đã đến tị nạn ở Cao Ly. Với việc Đế chế Mông - Nguyên xâm lược Cao Ly lần thứ 1, Lý Long Tường đã sử dụng thủ thuật binh pháp Đại Việt để đánh họ, góp phần làm nên kết quả là Cao Ly đã thắng Mông - Nguyên, để lại cho lịch sử Triều Tiên những chiến thuật quý giá.[cần dẫn nguồn]

Sau năm 1392, Nhà Triều Tiên - một triều đại cũng mang họ Lý - lên nắm quyền, Triều Tiên bắt đầu mở rộng quan hệ thương mại với Việt Nam.

Chiến tranh Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Hiệp định Genève được ký kết, Việt Nam tạm chia làm 2 miền tồn tại 2 chính quyền khác nhau, trong thời gian này vào năm 1957, Hàn Quốc và Việt Nam Cộng hòa bắt đầu thiết lập quan hệ ngoại giao với nhau. Trước đó trong thời gian Chiến tranh Đông Dương đang xảy ra, phía Hàn Quốc cũng muốn sớm thiết lập quan hệ với Quốc gia Việt Nam và tổng thống Lý Thừa Vãn cam kết với Quốc gia Việt Nam là sẽ gửi quân tham chiến giúp chống lại Việt Minh sớm nhất vào năm 1954, tuy nhiên lời đề nghị và cam kết của phía 2 bên bị từ chối bởi Bộ Ngoại giao Mỹ dẫn đến kết quả là hoãn thiết lập quan hệ ngoại giao.

Bản đồ thể hiện vùng căn cứ điểm của Quân đội Đại Hàn trong Chiến tranh Việt Nam vào năm 1966

Trong thời Chiến tranh Việt Nam, quân đội Mỹ đã cùng một số đồng minh của họ đến để hỗ trợ cho Việt Nam Cộng hoà. Hàn Quốc không phải ngoại lệ với đồng minh của Mỹ. Vào thời điểm Chiến tranh Việt Nam đang ngày bắt đầu leo thang, tổng thống Lý Thừa Vãn đã cho gửi 2000 quân hỗ trợ miền nam Việt Nam sớm nhất là năm 1954 nhưng lời điều kiện này đã bị từ chối bởi Bộ Ngoại giao Mỹ, cho đến năm 1966, trước sự leo thang đỉnh cao giữa 2 miền Việt Nam, tổng thống Hàn Quốc Phác Chung Hy đã gửi 6000 quân theo lệnh của Hoa Kỳ tham chiến, giúp đỡ cho Việt Nam Cộng hòa, tuy nhiên tội ác của Quân đội Đại Hàn đã dựng lên quan hệ giữa Việt NamĐại Hàn ngày càng xấu đi, việc Quân đội Đại Hàn đã lạm dụng tình dục với những trẻ em, phụ nữ chưa 18 tuổi một cách bừa bãi, cộng thêm việc đàn áp trẻ em đi lính, cầm súng giết người, quân đội này đã rút khỏi Việt Nam vào đầu năm 1970. Cho đến năm 1975 khi Việt Nam Cộng hoà thất thủ thì mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt NamHàn Quốc dần ổn định trở lại.

Bình thường hoá[sửa | sửa mã nguồn]

Sau năm 1975, với sự bao vây cấm vận của Mỹ, quan hệ giữa Việt NamHàn Quốc ngày càng khó khăn. Vào đầu năm 1980, khi Mỹ nới lỏng chính sách cấm vận vì lý do thiếu lương thực phục vụ cho quân đội trong thời kỳ chiến tranh lạnh, mối quan hệ này đã dần được cải thiện đáng kể, hàng hoá của Việt Nam vào Hàn Quốc thời bấy giờ là gạo và lúa. Cho đến năm 1990, khi Việt Nam đã thực hiện chính sách mở cửa thì mối quan hệ này đã dần tốt hơn, đồng thời sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao với Hàn Quốc thì chính phủ Hàn Quốc đã ào ạt đầu tư hạ tầng giáo dục, hợp tác, truyền bá ngành phim ảnh truyền hình; âm nhạc,... Vào đầu năm 1996, ngôi trường được Hàn Quốc đầu tư tại Việt Nam đầu tiên đã được khánh thành và nhằm đẩy mạnh mối quan hệ hữu nghị Việt - Hàn.

Nâng cao quan hệ[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam còn biết đến là một quốc gia Đông Nam Á gần gũi nhất với Hàn Quốc bởi nét đặc trưng về văn hóa, phong tục tập quán, ngày lễ cũng như các hoạt động dân giả, có tính quyết tâm phấn đấu mà mỗi dân tộc Á Đông luôn có quan niệm cứng rắn trong việc xây dựng chính sách kinh tế có đường lối đúng đắn.

Ngoài ra hình ảnh Hàn Quốc còn thâm nhập, truyền bá nét đặc trưng văn hóa của mình vào người Việt nhưng phía Hàn Quốc lại có chiều hướng hình ảnh Việt Nam chinh phục nhiều người Hàn như sinh viên, doanh nhân,... như các văn hóa nghìn năm của người Việt, nét đặc trưng lâu đời mà phía Hàn Quốc còn phải học hỏi Việt Nam để cải thiện Văn hóa của mình ngày càng tốt hơn.

Hợp tác, giao lưu trong công cuộc xây dựng nước và các chuyến thăm ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Vốn là một nước nghèo tài nguyên, thị trường trong nước hẹp, tích luỹ trong nước ít, nhưng qua hơn 1/4 thế kỷ, Hàn Quốc đã công nghiệp hoá thành công, trở thành một nước công nghiệp phát triển mới (NICS). Trong giai đoạn 19621992, Hàn Quốc đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm 9%. Năm 1996, GDP tính theo đầu người đạt 11.385 USD, là nước thứ hai ở Châu Á (sau Nhật Bản) gia nhập tổ chức kinh tế OECD. Thành công phát triển kinh tế của Hàn Quốc được gọi là "Kỳ tích sông Hàn". Từ một nước có GDP tính theo đầu người năm 1962 chỉ đạt 82 USD, năm 2006 là 20.000 USD.

Hiện nay, Hàn Quốc đang phấn đấu để trở thành Trung tâm trung chuyển Đông Bắc Á.

Trong chiến tranh Việt - Hàn đưa 3 vạn quân sang Việt Nam tham gia chiến tranh Việt Nam giữa hai phe cộng sản và quốc gia.

Từ 19751982, Việt Nam và Hàn Quốc bắt đầu có quan hệ buôn bán tư nhân qua trung gian; từ 1983 bắt đầu có quan hệ buôn bán trực tiếp và một số quan hệ phi chính phủ.

Chuyến thăm Ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 20/4/1992, ký thoả thuận trao đổi Văn phòng liên lạc giữa hai nước.
  • Ngày 22/12/1992, ký Tuyên bố chung thiết lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ. Cùng ngày, Hàn Quốc khai trương Đại sứ quán tại Hà Nội.
  • Ngày 19/11/1993 Hàn Quốc khai trương Tổng lãnh sự quán tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Các đoàn Việt Nam thăm Hàn Quốc:
  • Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm (tháng 02/1993),
  • Thủ tướng Võ Văn Kiệt (tháng 5/1993),
  • Tổng Bí thư Đỗ Mười (tháng 4/1995),
  • Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh (tháng 3/1998),
  • Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên (tháng 8/2000),
  • Chủ tịch nước Trần Đức Lương (từ 22-25/8/2001), cùng Tổng thống Hàn Quốc Kim Te Chung ra Tuyên bố chung thiết lập khuôn khổ quan hệ đối tác mới là "Quan hệ Đối tác toàn diện trong thế kỷ 21",
  • Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn Dũng (từ 29/8-02/9/2002),
  • Thủ tướng Phan Văn Khải (từ 15-19/9/2003),
  • Đồng chí Phan Diễn (từ 27/10-01/11/2003),
  • Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt (tháng 12/2003),
  • Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa (tháng 6/2004),
  • Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An (21-25/7/2004).
  • Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên (25/5/2005),
  • Chủ tịch nước Trần Đức Lương dự Hội nghị APEC13 tại Hàn Quốc tháng 11/2005, đã có cuộc gặp song phương cấp cao với Tổng thống Rô Mu Hiên.
  • Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng thăm làm việc tại Hàn Quốc (21-24/5/2007)
  • Các đoàn Hàn Quốc thăm Việt Nam:
  • Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lee Sang Ok (ngày 22/12/1992, cùng Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Cầm ký Tuyên bố chung thiết lập Quan hệ Ngoại giao cấp Đại sứ),
  • Bộ trưởng Ngoại giao Han Sung Joo (tháng 5/1994),
  • Thủ tướng Lee Young Dug (tháng 8/1994),
  • Bộ trưởng Ngoại giao Gong Ro Myong (tháng 7/1996),
  • Chủ tịch Quốc hội Kim Soo Han (tháng 8/1996),
  • Tổng thống Kim Young Sam (tháng 11/1996),
  • Bộ trưởng Ngoại giao và Thương mại Park Chung Soo (tháng 7/1998),
  • Tổng thống Kim Tae Chung (tháng 12/1998, thăm chính thức Việt Nam và dự Hội nghị Cấp cao ASEAN6),
  • Bộ trưởng Ngoại giao và Thương mại Hong Soon Young (tháng 7/1999),
  • Thủ tướng Lý Hân Đông (từ 0811/4/2002),
  • Chủ tịch Quốc hội Park Hwang Ying (từ 30/9-04/10/2003),
  • Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Thương mại Yoon Yong Ham (từ 24-26/12/2003),
  • Chủ nhiệm Uỷ ban Ngoại giao Quốc hội Seo Jong Hwa (từ 10-14/02/2004),
  • Tổng thống Rô Mu Hiên (10-12/10/2004),
  • Thủ tướng Li He Chan (19-21/4/2005),
  • Chủ tịch Quốc hội Hàn Quốc Kim Won Ki (14-18/1/2006).
  • Tổng thống Hàn Quốc Roh Mun Hyung dự Hội nghị APEC14 tại Hà Nội, đã có cuộc gặp song phương cấp cao với Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ngày 17/11/2006.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

  • Về chính trị: Việc hai bên thường xuyên trao đổi các đoàn cấp cao và các cấp, các ngành đã giúp tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, tăng cường quan hệ hợp tác song phương.
  • Về kinh tế, Hàn Quốc đã trở thành đối tác kinh tế quan trọng của Việt Nam. Trong 15 năm qua (19922007), Hàn Quốc luôn đứng trong danh sách nhóm 5 nước có quan hệ kinh tế quy mô lớn nhất với Việt Nam.
  • Hai nước đã thành lập Uỷ ban liên Chính phủ về Hợp tác Kinh tế và Khoa học kỹ thuật Việt Nam Hàn Quốc để thúc đẩy hợp tác kinh tế song phương.
  • Hai bên đã ký nhiều hiệp định quan trọng như: Hiệp định hợp tác kinh tếkhoa học kỹ thuật (02/1993), Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tưsửa đổi (9/2003), Hiệp định Hàng không, Hiệp định Thương mại (5/1993), Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần (5/1994), Hiệp định Văn hoá (8/1994), Hiệp định Vận tải biển (4/1995), Hiệp định Hải quan (3/1995), Hiệp định về hợp tác du lịch (8/2002), Hiệp định hợp tác dẫn độ tội phạm (9/2003), Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự ( 9/2003), Hiệp định về viện trợ không hoàn lại và hợp tác kỹ thuật (4/2005)…
  • Về hợp tác phát triển, đến nay, Hàn Quốc đã cấp và cam kết cấp 188 triệu USD tín dụng ưu đãi và viện trợ không hoàn lại 80 triệu USD; quyết định trong giai đoạn 20062009 tăng mức cung cấp tín dụng ưu đãi cho Việt Nam lên 100 triệu USD/năm, viện trợ không hoàn lại 9,5 triệu USD/năm.
  • Về hợp tác đầu tư, tính đến tháng 5/2007, Hàn Quốc là nước đứng thứ 2 trong số các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với 1365 dự án đầu tư còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký trên 8,54 tỷ USD.
  • Về thương mại, năm 2006, kim ngạch buôn bán giữa hai nước ước đạt gần 5 tỷ USD, gấp 10 lần so với kim ngạch tại thời điểm hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức năm 1992. Hiện nay, hai bên đang nỗ lực tìm các giải pháp khắc phục tình trạng nhập siêu của Việt Nam.
  • Về hợp tác lao động: Hiện nay, Việt Nam có gần 40 nghìn lao động đang làm việc tại Hàn Quốc. Ngày 25/5/2004, Việt Nam và Hàn Quốc ký thoả thuận mới về đưa lao động Việt Nam sang Hàn Quốc theo Luật cấp phép lao động (EPS) của Hàn Quốc.
  • Hợp tác du lịch: Trong vài năm gần đây, Hàn Quốc đã trở thành 1 thị trường cung cấp khách du lịch trọng điểm của Việt Nam với lượng khách du lịch Hàn Quốc vào Việt Nam tăng trung bình 30%/năm, với 13 vạn lượt khách năm 2003, hơn 20 vạn năm 2004, hơn 40 vạn năm 2006. Từ ngày 01/7/2004, Việt Nam đã đơn phương miễn visa cho công dân Hàn Quốc.
  • Hợp tác văn hoá giáo dục: Hai nước đã ký Hiệp định Văn hoá tháng 8/1994 cùng nhiều thoả thuận hợp tác giao lưu thanh niên và giáo dục khác, thường xuyên có các hoạt động giao lưu văn hoá, nghệ thuật, triển lãm, điện ảnh và công diễn. Nhiều người Việt Nam đã tốt nghiệp đại học, cao học tại Hàn Quốc.
  • Tháng 9/1994 Việt Nam thành lập Hội Hữu nghị Việt Nam Hàn Quốc. Năm 2001 Hàn Quốc thành lập Hội Giao lưu Hữu nghị Hàn Quốc Việt Nam. Tháng 5/1993 Hàn Quốc thành lập Hội Nghị sỹ hữu nghị Hàn Quốc Việt Nam. Tháng 5/1995 Việt Nam thành lập Hội nghị sỹ hữu nghị Việt Nam - Hàn Quốc

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]