Quan hệ ngoại giao Hoa Kỳ – Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quan hệ Hoa Kỳ-Việt Nam
Bản đồ cho thấy vị trí của USA và Vietnam

Hoa Kỳ

Việt Nam

Sau hai mươi năm gián đoạn kể từ khi kết thúc chiến tranh, Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton tuyên bố chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào ngày 11 tháng 7, 1995 và nâng cấp Văn phòng Liên lạc thành tòa đại sứ đặt tại Hà Nội. Việt Nam đặt tòa đại sứWashington D.C., một tòa tổng lãnh sự tại San Francisco (tiểu bang California) và một tại Houston (tiểu bang Texas). Hoa Kỳ có một tòa tổng lãnh sự tại Thành phố Hồ Chí Minh và dự kiến mở thêm một tòa tổng lãnh sự ở Đà Nẵng[1].

Ngoại giao Hoa Kỳ và Việt Nam đã trở nên sâu và đa dạng hơn trong những năm đã bình thường hóa chính trị. Hai nước đã thường xuyên mở rộng trao đổi chính trị, đối thoại về nhân quyền và an ninh khu vực. Họ ký kết Hiệp định Thương mại song phương vào tháng 7 năm 2000, bắt đầu có hiệu lực từ tháng 12 năm 2001. Tháng 11, 2007, Hoa Kỳ chấp thuận Quy chế Quan hệ Thương mại Bình thường Vĩnh viễn (PNTR) cho Việt Nam.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước thế kỷ 20[sửa | sửa mã nguồn]

Trong chuyến hành trình đến vùng biển châu Á năm 1845, chiến thuyền Constitution (thường gọi là Old Ironsides) của Hoa Kỳ đã cập bến Đà Nẵng. Thuyền trưởng là John Percival liên lạc với các quan địa phương xin được tiếp xúc với triều Nguyễn để đặt mối giao hảo. Được tin, vua Thiệu Trị tại Huế cử viên ngoại lang Nguyễn Long đi hỏa tốc vào Đà Nẵng hiệp cùng Kinh lịch thuộc viên ở tỉnh là Nguyễn Dụng Giai đến thăm hỏi, làm việc với Percival. Nhưng thay vì gây thêm cảm tình, Percival khi nhận được thư cầu cứu của giám mục Dominique Lefebvre thì chiếm đoạt lấy 3 chiến thuyền và một số người làm con tin, đòi nhà chức trách phải thả Lefebvre. Sự việc không giải quyết được, Percival sai nổ súng bắn lên bờ rồi nhổ neo ra khơi ngày 16 tháng 5, khiến tình hình thêm rắc rối.[2]

Năm 1873, Bùi Viện được vua Tự Đức cử sang Mỹ như một "đại sứ đặc mệnh toàn quyền" để cầu viện chống Pháp. Bùi Viện sau đó đã đi qua Yokohama (Nhật) để đáp tàu sang Mỹ, rồi lưu lại đó một năm mới gặp được Tổng thống Ulysses Grant (nhiệm kỳ 1868-1876). Lúc này Pháp và Mỹ đang đụng độ trong trận chiến ở Mexico nên Mỹ cũng tỏ ý muốn giúp một quốc gia đang bị Pháp uy hiếp. Nhưng Bùi Viện không mang theo quốc thư nên hai bên không thể có một cam kết chính thức. Vì vậy, ông lại quay về Việt Nam trở lại kinh thành Huế. Có được thư ủy nhiệm của vua Tự Đức, Bùi Viện lại xuất dương một lần nữa. Năm 1875 ông lại có mặt tại Hoa Kỳ. Có trong tay quốc thư nhưng lại gặp lúc Mỹ và Pháp đã hết thù địch nên Ulysses Grant lại khước từ sự cam kết giúp Đại Nam đánh Pháp.

Thời Pháp thuộc và Chiến tranh Đông Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đại diện hội "Những người An Nam yêu nước" gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam đến Hội nghị Hòa bình Versailles cho tổng thống Mỹ Woodrow Wilson nhưng không được trả lời.

Đầu thập niên 1940, cơ quan OSS (tiền thân của CIA) của Mỹ đã giúp đỡ Việt Minh thuốc men và một số vũ khí để chống Nhật, đối tượng lúc ấy là kẻ địch của cả Mỹ và Việt Nam. Việt Minh giúp đỡ lực lượng Mỹ về tin tức tình báo và giúp cứu các lính Mỹ rồi chuyển giao cho người Mỹ.

Trong Chiến tranh Đông Dương (1945-1954), Mỹ đã giúp Pháp trong cuộc chiến chống cộng và tái chiếm thuộc địa của họ. Đến cuối chiến tranh, 80% chiến phí chủ yếu của Pháp do Mỹ tài trợ, lên đến 1,5 tỷ USD. Trong trận Điện Biên Phủ, Mỹ trực tiếp chở khoảng 16 ngàn quân Pháp vào Điện Biên Phủ và hỗ trợ không quân cho quân đội Pháp. Nhờ điều đó mà thực dân Pháp mới có thể duy trì được cuộc chiến.

Thời kỳ Việt Nam bị chia đôi[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Chiến tranh Việt Nam (1954-1975), chính phủ Mỹ hậu thuẫn Việt Nam Cộng hòa chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rồi cả Mặt trận Giải phóng miền Nam. Mỹ có tham gia Hội nghị Genève năm 1954 với một phái đoàn do Bedell Smith làm trưởng đoàn nhưng cũng như phái đoàn Quốc gia Việt Nam, không ký bản hiệp định. Khi chính phủ Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam của Tổng thống Ngô Đình Diệm từ chối tổng tuyển cử, Hoa Kỳ cũng ủng hộ lập trường đó. Dựa trên thuyết Domino trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh Hoa Kỳ tăng viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa. Đến năm 1963 có hơn 16.000 cố vấn quân sự Hoa Kỳ và đến đầu năm 1965 thì Tổng thống Lyndon B. Johnson cho đổ bộ lực lượng Thủy quân lục chiến, chính thức tham chiến.[3] Đến năm 1973, đã có trên 600.000 binh lính Mỹ và đồng minh chiến đấu trên chiến trường miền Nam Việt Nam.

Trong cuộc chiến này, quân đội Hoa Kỳ đã gây ra nhiều tội ác đối với dân thường Việt Nam, những tội ác chiến tranh này làm ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ hai nước, và là cơ sở để Việt Nam yêu cầu Hoa Kỳ bồi thường chiến tranh, vụ kiện hậu quả chất độc da cam tại Hoa Kỳ và các hợp tác tẩy trừ chất độc màu da cam ở Việt Nam sau này, trong nỗ lực hàn gắn vết thương chiến tranh giữa hai quốc gia.

Năm 1973, Hoa Kỳ ký hiệp định Paris với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và rút quân chính quy ra khỏi chiến trường miền Nam Việt Nam.

Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Người Cộng sản chiến thắng và lên nắm quyền tại miền Nam Việt Nam năm 1975, đây là kết cục sau ba thập kỷ Hoa Kỳ can thiệp vào Việt Nam. Cuộc chiến này đã tạo ra sự chia rẽ trong xã hộichính trị của cả hai nước.

Từ 1975 đến 1994, Hoa Kỳ đã cấm vận Việt Nam, và dùng quyền lực của mình ngăn cản các nỗ lực giúp đỡ Việt Nam từ quốc tế. Trong thời gian này, từ 1977 đến 1978 Việt Nam và Hoa Kỳ đàm phán bình thường hóa quan hệ nhưng không thành, một phần do Việt Nam yêu cầu Hoa Kỳ bồi thường những tổn thất mà họ đã gây ra ở Việt Nam, nhưng Hoa Kỳ đã bác bỏ.

Năm 1993, Hoa Kỳ mới tuyên bố không ngăn cản các nước khác cho Việt Nam vay tiền trả nợ cho các tổ chức tài chính quốc tế. Năm 1994, Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn cấm vận Việt Nam và lập cơ quan liên lạc giữa hai quốc gia. Ngày 11 tháng 7 năm 1995, Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam.

Biên niên sử[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ đề quan hệ ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Hoa Kỳ thường bất đồng quan điểm với Việt Nam về vấn đề nhân quyền tại Việt Nam. Đây cũng là một trong những nội dung được tranh luận sôi nổi ở Quốc hội Hoa Kỳ, nhưng nó rất ít khi được đề cập ở Quốc hội Việt Nam[cần dẫn nguồn]. Bất đồng cơ bản là cách hiểu "nhân quyền" của cả hai bên. Trong khi Hoa Kỳ đòi hỏi Việt Nam những quyền cơ bản nhất tương tự như ở quốc gia họ hay một số quốc gia khác thì Việt Nam cho rằng, nhân quyền có những khác biệt tùy theo hoàn cảnh của mỗi quốc gia. Trong năm 2007, chính phủ Việt Nam bắt giam một số người bất đồng chính kiến mà họ cho là đã vi phạm luật pháp Việt Nam, có cả người Mỹ, trong đó có những người gốc Việt. Chính phủ Hoa Kỳ cho rằng mặc dù có những hạn chế tự do ngôn luận (như không cho phép báo chí tư nhân, không cho phép tuyên truyền chống Nhà nước, sự chỉ trích chính phủ hoặc biểu tình / tụ tập đông người bị hạn chế[cần dẫn nguồn]), Việt Nam cũng đã có những tiến bộ đáng kể về mở rộng tự do tôn giáo. Trong năm 2005, Việt Nam đã thông qua luật về tự do tôn giáo, một số nhóm giáo phái, tôn giáo ngoài vòng pháp luật được chính thức công nhận và cho phép hoạt động. Kết quả là, vào tháng 11 năm 2006, Hoa Kỳ đã loại Việt Nam ra khỏi danh sách "Những quốc gia cần quan tâm đặc biệt".

Đầu năm 2011, tạp chí Mỹ Foreign Policy đã liệt kê Việt Nam đứng chót trong danh sách 8 đồng minh khác "đáng xấu hổ nhất" của Hoa Kỳ[5][6] với các lý do:

  • Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất được pháp luật cho phép bổ nhiệm các nhà lãnh đạo từ hàng ngũ của chính đảng này.
  • Việt Nam đã "tăng cường trấn áp nhân quyền" trong năm qua, bỏ tù những người bảo vệ quyền con người, blogger và những người vận động chống tham nhũng."
  • Các nhóm tôn giáo "bị sách nhiễu nhiều lần trong khi sự tàn bạo của cảnh sát và các trường hợp tử vong khi bị cảnh sát giam xảy ra thường xuyên."
  • Như một số nước, Việt Nam dựng tường lửa internet, chặn các trang web họ phản đối và "đòi các nhà cung cấp dịch vụ và các quán cafe internet theo dõi người dùng".
  • Một nhà ngoại giao của Hoa Kỳ ở Việt Nam "bị vật xuống đất và khiêng đi khi đến thăm một linh mục bất đồng chính kiến có tiếng ở Huế".

Báo Quân đội Nhân dân của Việt Nam cho rằng Hoa Kỳ đã từng có điều 2385 về tội danh "Advocating overthrow of Government" (tiếng Việt: Vận động lật đổ chính quyền) của Bộ Hình luật Hoa Kỳ quy định: "Bất kỳ ai cố ý hô hào, kích động, khuyến khích lật đổ hoặc phá rối Chính phủ Mỹ và các tổ chức chính quyền cấp dưới đều phải bị tuyên phạt cao nhất tới 20.000USD, hoặc phải ngồi tù 20 năm. Sau khi mãn hạn tù 5 năm cũng không được Chính phủ và các tổ chức khác tin dùng", và Alien and Sedition Acts (tiếng Việt: Đạo luật Phản loạn) năm 1798 quy định: "Việc viết, in, phát biểu hay phổ biến... mọi văn bản sai sự thật, có tính chất xúc phạm hay ác ý chống chính quyền đều là tội…", là những luật có nội dung tương tự những đạo luật Việt Nam mà Hoa Kỳ đang phản đối và cho rằng việc Hoa Kỳ phản đối là tiêu chuẩn kép và là cái cớ để Hoa Kỳ can thiệp nội bộ vào các quốc gia khác.[7] Tuy nhiên báo Quân đội Nhân dân khi tóm lược nội dung của điều 2385 trong Bộ Hình luật Mỹ không nhắc rõ vấn đề bạo lực mà chỉ tập trung nhắc rõ vấn đề vận động lật đổ chính quyền và các hình phạt, trong khi điều luật này cấm các hành vi kêu gọi, vận động lật đổ hoặc hủy hoại chính phủ bằng bạo lực[8]. Còn Alien and Sedition Acts thì đã hết hạn và bị bãi bỏ từ hơn 200 năm trước[9][10].

Cuối năm 2012 Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho ra mắt bản báo cáo thường niên năm 2012, trong đó có nhận xét là tình hình nhân quyền tại Việt Nam, nhất là tự do báo chítự do ngôn luận đã có chiều hướng xấu đi vì các biện pháp bắt giam và sách nhiễu những ai thực thi tự do phát biểu quan điểm chỉ trích chính phủ. Việt Nam thường dùng điều 88 "tuyên truyền chống Nhà nước" để truy tố và kết án đương sự.[11]

Biển Đông và chủ quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tương quan tranh chấp chủ quyền ở hai quần đảo Hoàng SaTrường Sa trên Biển Đông, đại sứ Hoa Kỳ David Shear cho biết "Mỹ có lợi ích quốc gia đối với hòa bình, ổn định ở Biển Đông cũng như về an ninh hàng hải và tự do đi lại. Chúng tôi quan ngại về đe dọa vũ lực và Mỹ ủng hộ tiến trình ngoại giao giữa các nước có quan hệ trực tiếp".[12] Ngoại trưởng Hillary Clinton tuyên bố Hoa Kỳ có lợi ích quốc gia tại Biển Đông và cho rằng "đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông vượt quá những gì mà công ước Liên Hiệp quốc về luật biển Unclos cho phép".[13] Những tuyên bố này đã làm Trung Quốc không hài lòng và báo chí Trung Quốc đăng nhiều bài chỉ trích "chính sách can thiệp" của Mỹ.[14][15]

Hỗ trợ nhân đạo & hàn gắn hậu quả chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Qua những tổ chức phi chính phủ, Hoa Kỳ cũng thường xuyên viện trợ nhân đạo cho Việt Nam trong các lĩnh vực y tế, giáo dục.

Hoa Kỳ và Việt Nam cũng có những đàm phán để khắc phục và hàn gắn những hậu quả từ chiến tranh Việt Nam. Việt Nam tích cực giúp tìm những quân nhân Mỹ mất tích. Việt Nam vẫn ủng hộ các nạn nhân thực hiện vụ kiện hậu quả chất độc màu da cam trong Chiến tranh Việt Nam nhằm đòi các công ty hóa chất sản xuất phải bồi thường thiệt hại. Chính phủ Hoa Kỳ hiện vẫn từ chối trách nhiệm với những nạn nhân này và cho rằng mối liên hệ giữa các khuyết tật và chất độc da cam vẫn "chưa có bằng chứng khoa học". Tuy nhiên vào tháng 5/2007, Quốc hội Hoa Kỳ đã phân bổ khoản ngân sách 3 triệu USD nhằm khắc phục ảnh hưởng của chất độc da cammôi trường tại một số điểm nóng nhất[16] và năm 2009 tăng lên 6 triệu USD [17].

Thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Bắt đầu có hiệu lực của Hiệp định Thương mại song phương năm 2001, thương mại hai chiều giữa hai nước được gia tăng, kết hợp với dòng đầu tư quy mô lớn của Hoa Kỳ vào Việt Nam. Trong năm 2006, Hoa Kỳ xuất khẩu 1,1 tỷ USD hàng hóa vào Việt Nam và nhập khẩu 8,6 tỷ USD từ Việt Nam.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2009/08/090821_vn_consulate_houston.shtml
  2. ^ Old Ironsides in Vietnam
  3. ^ The Causes of the Vietnam War
  4. ^ US-Vietnam Relations...
  5. ^ http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/02/110201_embarrassing_allies.shtml
  6. ^ http://www.foreignpolicy.com/articles/2011/01/31/americas_other_most_embarrassing_allies?page=0,7
  7. ^ Kim Ngọc (30 tháng 10 năm 2012). “Công cụ và cái cớ để can thiệp”. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2012. 
  8. ^ “18 USC § 2385 - Advocating overthrow of Government”. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2012. ‘Tiếng Việt: "Bất cứ ai được biết đến hay tình nguyện vận động, tiếp tay, cố vấn, hoặc dạy các nhiệm vụ, sự cần thiết, mong muốn, hoặc đúng đắn của hành vi lật đổ hoặc hủy hoại chính phủ Hoa Kỳ hoặc chính quyền của bất kỳ của biểu bang, vùng lãnh thổ, hoặc bất kỳ phân khu chính trị nào, bằng vũ lực hoặc bạo lực, hoặc bằng vụ ám sát bất kỳ viên chức chính phủ; Bất cứ ai, với ý định gây ra sự lật đổ hoặc tiêu hủy chính phủ như vậy, in ấn, xuất bản, sửa đổi, phổ biến, lưu thông, bán, phân phối, hoặc công khai thể hiện bất kỳ vấn đề nào bằng văn bản hoặc in ủng hộ, tư vấn, hoặc giảng dạy các nhiệm vụ, sự cần thiết, sự mong muốn, hoặc sự đúng đắn của hành vi lật đổ hoặc phá hoại chính phủ Hoa Kỳ bằng vũ lực hoặc bạo lực, hoặc nỗ lực để làm như vậy; Bất cứ ai tổ chức hoặc giúp hoặc cố gắng tổ chức bất kỳ nhóm xã hội hoặc hội đồng của những người dạy, người biện hộ, hoặc khuyến khích lật đổ hoặc tiêu hủy chính phủ bằng vũ lực hoặc bạo lực, hoặc trở thành hoặc là một thành viên, hoặc các chi nhánh, bất kỳ nhóm xã hội hoặc hội đồng như vậy, biết mục đích của chúng - Dưới tiêu đề này sẽ bị phạt hoặc bị bỏ tù không hơn hai mươi năm, hoặc cả hai, và sẽ không đủ điều kiện để làm việc tại Hoa Kỳ hoặc bất kỳ bộ phận hoặc cơ quan liên quan, trong vòng năm năm sau lần bị kết tội. Nếu hai hay nhiều người âm mưu thực hiện bất kỳ hành vi phạm tội nào được đặt tên trong phần này, mỗi người bị xử phạt theo tiêu đề này hoặc bị bỏ tù không hơn hai mươi năm, hoặc cả hai, thì sẽ không được phép làm việc tại Hoa Kỳ hoặc bất kỳ bộ phận hoặc cơ quan của của nó, cho năm năm tiếp theo từ thời điểm bị kết tội. Như được sử dụng trong phần này, các thuật ngữ "organizes" và "organize" có hiệu lực đối với bất cứ hiệp hội, nhóm người, hoặc tập hợp nào kể cả việc kết nạp thành viên mới, thành lập các đơn vị mới, và tập kết, mở rộng các câu lạc bộ hiện tại, các lớp học và các đơn vị khác của hiệp hội, nhóm, hoặc tập hợp những người như vậy."’ 
  9. ^ Encyclopedia Britannica. “Alien and Sedition Acts”. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2012. “With the war threat passing and the Republicans winning control of the federal government in 1800, all the Alien and Sedition Acts expired or were repealed during the next two years.” 
  10. ^ “Primary Documents in American History: Alien and Sedition Acts”. Thư viện Quốc hội Mỹ. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012. “Congress repealed the Naturalization Act in 1802, while the other acts were allowed to expire.” 
  11. ^ "Bộ Ngoại giao Mỹ: tình trạng nhân quyền tại Việt Nam 2012 đã xấu đi thêm" theo RFI
  12. ^ Đại sứ Mỹ: 'Biển Đông là mối quan tâm lớn'. VnExpress, 14/9/2011
  13. ^ 'Đòi hỏi của TQ ở Biển Đông là quá đáng', BBC, 24/5/2012
  14. ^ Clinton ‘phá bĩnh’, BBC, 15/7/2012
  15. ^ Báo TQ bác bỏ chỉ trích của Mỹ, BBC, 4/8/2012
  16. ^ Chất độc da cam - câu chuyện vẫn còn tiếp diễn
  17. ^ Hoa Kỳ tiếp tục trợ giúp người khuyết tật Việt Nam

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]