Quan hệ ngoại giao của Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Quan hệ ngoại giao Việt Nam)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các nước trên thế giới

   Việt Nam

   Quốc gia có quan hệ ngoại giao với Việt Nam

   Thực thể có quan hệ ngoại giao không chính thức với Việt Nam

   Quốc gia không có quan hệ ngoại giao với Việt Nam

Việt Nam hiện nay dưới chính thể Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với hơn 180 nước thuộc tất cả các châu lục và có quan hệ bình thường với tất cả các nước lớn, các Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã nêu lên chính sách đối ngoại: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh[1]

Lịch sử ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam có hàng nghìn năm lịch sử với một nền ngoại giao tinh tế và hiển hách. Trừ một nghìn năm Bắc thuộc, trải qua các triều đại từ Vua Hùng, An Dương Vương, Ngô, Đinh, Tiền Lê, , Trần, Hậu LêNguyễn, Việt Nam chủ yếu có quan hệ ngoại giao với các triều đình phong kiến Trung Quốc. Nền ngoại giao hiện đại của Việt Nam ra đời khi Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập ngày 2/9/1945. Hồ Chí Minh là người đầu tiên đứng đầu ngành ngoại giao của Việt Nam.

Thời kỳ chiến tranh Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giai đoạn 1945-1946: Là thời kỳ cực kỳ khó khăn của của đất nước nói chung và ngoại giao Việt Nam nói riêng. Nhà nước độc lập non trẻ chưa được nước nào công nhận. Chính sách ngoại giao của Việt Nam lúc đó đã hoà hoãn với Quốc Dân Đảng và quân đội Tưởng Giới Thạch, tập trung sức đánh Pháp ở miền Nam, rồi hoà với Pháp bằng việc ký kết Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và chủ tịch Wilhelm Pieck của Cộng hòa Dân chủ Đức năm 1957
  • Giai đoạn 1954-1975: Ngoại giao đã "tấn công" hậu phương quốc tế của Mỹ, mở rộng hậu phương quốc tế của Việt Nam, hình thành phong trào phản chiến trên toàn thế giới.

Năm 1964, Chu Ân Lai lo lắng về sự leo thang của lực lượng Mỹ tại miền Nam Việt Nam nên đã ký một thỏa thuận chính thức với miền Bắc. Thỏa thuận này quy định rằng nếu các lực lượng Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa xâm chiếm miền Bắc Việt Nam, người Trung Quốc sẽ phản ứng bằng cách cho mượn phi công. Nhưng trong các cuộc tấn công của Mỹ, Mao Trạch Đông không gửi nhiều phi công được đào tạo như ông đã hứa. Kết quả dẫn đến việc miền Bắc đã nhận viện trợ quốc phòng của Liên Xô là chủ yếu.[2]

Đồng thời, ngoại giao đã phối hợp với chiến trường, đấu tranh chính trị, tiến hành đàm phán và ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Việt Nam (27/1/1973). Hiệp định Paris là thắng lợi của ngoại giao Việt Nam, đã buộc Mỹ và các nước liên quan rủt quân khỏi Việt Nam, chấm dứt hoạt động chiến tranh, tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam.

Thời kỳ này Cộng hòa Miền Nam Việt NamViệt Nam Cộng Hòa cũng có những quan hệ ngoại giao riêng.

Thời kỳ bao cấp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giai đoạn 1975-1986: Đây là thời kỳ ngoại giao phục vụ khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh. Những năm đầu sau chiến tranh, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hàng chục nước, nhất là các nước tư bản chủ nghĩa, tranh thủ được sự giúp đỡ về vật chất của nhiều quốc gia, các tổ chức quốc tế nhằm khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh. Việt Nam nhanh chóng gia nhập Liên Hợp Quốc (9/1977).

Đến năm 1975, căng thẳng bắt đầu phát triển vì Bắc Kinh ngày càng coi Việt Nam là một công cụ của Liên Xô để bao vây Trung Quốc. Trong khi đó, hỗ trợ ngày càng tăng của Bắc Kinh đối với chính quyền Khmer Đỏ đã khiến người Việt Nam nghi ngờ về động cơ của Trung Quốc.

Quan hệ Việt Nam-Trung Quốc xấu đi đáng kể sau khi Hà Nội thiết lập một lệnh cấm tháng 3 năm 1978 về thương mại tư nhân, một động thái đặc biệt ảnh hưởng đến cộng đồng hoa kiều. Việt Nam đã buộc phải tấn công quân đội Khmer đỏ để bảo vệ chủ quyền quốc gia (12/1978), Đó là nguyên nhân trực tiếp (cái cớ) để Trung Quốc phát động một cuộc xâm lược biên giới Việt Nam(2/1979). Phải đối mặt với việc cắt đứt viện trợ của Trung Quốc và quan hệ quốc tế căng thẳng, Việt Nam thiết lập quan hệ gần gũi hơn với Liên Xô bằng cách tham gia Hội đồng tương trợ kinh tế (6/1978), ký Hiệp ước với Liên Xô (11/1978). Trong suốt những năm 1980, Việt Nam đã nhận được gần 3 tỷ USD một năm viện trợ kinh tế và quân sự của Liên Xô và thực hiện hầu hết các giao dịch thương mại với Liên Xô và khối Comecon.

Cuộc chiến tranh với Trung Quốc và Khmer đỏ đã dẫn đến việc Trung Quốc, các nước tư bản phương Tây, ASEAN bao vây, cô lập, cấm vận Việt Nam trong hơn một thập kỷ gây ra rất nhiều khó khăn cho việc khôi phục và phát triển kinh tế.

Ghế của Chủ tịch nước Trần Đức Lương tại Trung tâm hội nghị Quốc tế, Busan, Hội nghị APEC lần thứ 13
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và phu nhân đón tiếp Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush và phu nhân tại Phủ Chủ tịch (11/2006)

.

Thời kỳ Đổi Mới[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giai đoạn 1986 đến nay: Với Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VI (12/1986), Việt Nam đã khởi đầu công cuộc thay đổi toàn diện đất nước, trong đó có đường lối, chính sách đối ngoại và hoạt động ngoại giao.

Nghị quyết 13 của Bộ chính trị (5/1998) đã tạo ra bước ngoặt trong đường lối chính sách đối ngoại của Việt Nam. Các Đại hội tiếp theo từ Đại hội VII(1991), Đại hội VIII (1996), Đại hội IX (2001) đến Đại hội X (2006) đã quyết định đưòng lối đối ngoại của Việt Nam là độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá và đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực[3]

Đại hội XI đã phát triển và bổ sung nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với tất cả các nước trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế [4]

Hội nhập quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Với việc rút hoàn toàn quân đội khỏi Campuchia, vấn đề Campuchia được giải quyết, Việt Nam đã phá được bao vây, cấm vận và không ngừng mở rộng quan hệ quốc tế theo hướng đa dạng hoá và đa phương hoá; bình thường hoá và từng bước xác lập khuôn khổ quan hệ ổn định lâu dài với tất cả các nước lớn, các nước công nghiệp phát triển. Cho đến nay Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 180 nước, trong đó có tất cả các nước lớn, có quan hệ kinh tế với hơn 220 thị trường nước ngoài và là thành viên của nhiều tổ chúc và diễn đàn quốc tế như:

Việt Nam đã giải quyết ổn thoả nhiều tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, biển đảo, giữ vững môi trường hoà bình; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, tranh thủ nhiều ODA, FDI, mở rộng thị trường ngoài nước; tăng cường ngoại giao đa phương. Các sự kiện lớn của ngoại giao Việt Nam trong những năm gần đây là: Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị cấp cao VII tổ chức Pháp ngữ (1997), Hội nghị cấp cao ASEAN VII (1998), Hội nghị cấp cao Diễn đàn Hợp tác Á-ÂU V (2004), Hội nghị thượng đỉnh APEC 14 (2006). Hoa Kỳ dành cho Việt Nam quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (11/2006). Vào ngày 16 tháng 10 năm 2007 Việt Nam đã được bầu làm một trong các thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc cho nhiệm kỳ 2008-2009.[5]

Năm 2010 Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đối ngoại nổi bật: Việt Nam đảm nhận thành công vai trò Chủ tịch ASEAN: Với chủ đề Hướng tới Cộng đồng ASEAN: Từ tầm nhìn tới hành động, Chủ trì thành công Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) Đông Á, tổ chức thành công Hội thảo quốc tế Việt Nam – châu Phi lần thứ hai. Năm 2012, Việt Nam tổ chức thành công Diễn đàn Việt Nam – Mỹ Latin về Thương mại và Đầu tư.

Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với các cường quốc khu vực và thế giới. Đến tháng 6/2013, các nước có quan hệ loại này với Việt Nam gồm có 3 thành viên thường trực Liên Hiệp Quốc: Nga (2001), Anh (2010), Trung Quốc (2008) và Pháp(2013)[6]; hai cường quốc Bắc Á là Hàn Quốc (2009) và Nhật Bản (2009); một cường quốc Nam Á là Ấn Độ (2007); ba nước ở Đông Nam Á là Thái Lan, Indonesia và Singapore (2013); tại Châu Âu, hai đối tác chiến lược của Việt Nam là Đức (2011), Tây Ban Nha (2009), Italia (1-2013). Trong số này, một số mối quan hệ như với Trung Quốc (2008) và Nga (7-2012) đã được nâng lên tầm “đối tác chiến lược toàn diện”. Ngoài ra, từ năm 2009, Việt Nam cũng đã thiết lập quan hệ “đối tác toàn diện” với Australia[7][8]Hoa Kỳ (2013).[9]

Quan hệ quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Đông Nam Á[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Ngày bắt đầu quan hệ ngoại giao[10] Ghi chú
 Lào 5/9/1962 Xem Quan hệ Việt Nam - Lào
 Campuchia 24/6/1967 Xem Quan hệ Việt Nam - Campuchia
 Thái Lan 6/8/1978 Xem Quan hệ Việt Nam - Thái Lan
 Malaysia 30/3/1973 Xem Quan hệ Việt Nam - Malaysia
 Singapore 1/8/1973 Xem Quan hệ Việt Nam - Singapore
 Indonesia 30/12/1955 Xem Quan hệ Việt Nam - Indonesia
 Myanmar 28/5/1975 Xem Quan hệ Việt Nam - Myanmar
 Philippines 12/7/1976 Xem Quan hệ Việt Nam - Philippines
 Brunei 29/2/1992 Xem Quan hệ Việt Nam - Brunei
 Đông Timor 28/7/2002 Xem Quan hệ Việt Nam - Đông Timor

Đông Bắc Á[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Ngày bắt đầu quan hệ ngoại giao[10] Ghi chú
 Trung Quốc 18/1/1950 Xem Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc
 Nhật Bản 21/9/1973 Xem Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản
 Hàn Quốc 22/12/1992 Xem Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc
Cờ Triều Tiên Triều Tiên 31/1/1950 Xem Quan hệ Việt Nam – CHDCND Triều Tiên
 Mông Cổ 31/1/1950 Xem Quan hệ Việt Nam - Mông Cổ

Châu Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Ngày bắt đầu quan hệ ngoại giao[10] Ghi chú
 Hoa Kỳ 12/7/1995 Xem Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ
 Cuba 2/12/1960 Xem Quan hệ Việt Nam - Cuba
 Venezuela 18/12/1989 Xem Quan hệ Việt Nam - Venezuela

Châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Ngày bắt đầu quan hệ ngoại giao[10] Ghi chú
 Ba Lan 4/2/1950
 Bỉ 22/3/1973 Xem Quan hệ Việt Nam - Bỉ
 Bulgaria 8/2/1950
  • Bulgaria có đại sứ quán tại Hà Nội.[11]
  • Vietnam có đại sứ quán tại Sofia.[12]
  • Năm 2006, chính phủ Bungari đã đồng ý một thỏa thuận hợp tác y tế với Việt Nam. Kế hoạch hợp tác kéo dài hai năm trên nhiều lĩnh vực, chủ yếu trong dịch vụ y tế công, chăm sóc bệnh nhân nội trú và ngoại trú, an ninh lương thực và đào tạo nhân lực ngành y tế.[13]
 Croatia 1/7/1994
 Cộng hòa Séc 2/2/1950 (với Tiệp Khắc)
 Đan Mạch 25/11/1971 Xem Quan hệ Việt Nam - Đan Mạch
 Hà Lan 9/4/1973 Xem Quan hệ Việt Nam - Hà Lan

Hà Lan có đại sứ quán tại 360, tầng 6, cao ốc Daeha, Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội, và lãnh sự quán ở phòng 901, Saigon Tower, 29 Lê Duẩn, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

 Hungary 3/2/1950
 Hy Lạp 15/4/1975
 Ireland 5/4/1996
 Luxembourg 15/11/1973 Xem Quan hệ Việt Nam - Luxembourg
  • Luxembourg đại diện ngoại giao tại Việt Nam thông qua đại sứ quán ở Bắc Kinh, Trung Quốc.[15]
  • Việt Nam đại diện ngoại giao tại Luxembourg thông qua đại sứ quán ở Brussels, Bỉ.[16]
 Nga 30/1/1950 (với Liên Xô Xem Quan hệ Việt - Nga
  • Nga từng là đồng minh quan trọng nhất của Việt Nam.
  • Ngày 30/1/1950 Liên Xô mở đại sứ quán tại miền Bắc.[17]
 Phần Lan 25/1/1973
 Pháp 12/4/1973 Xem Quan hệ Việt Nam - Pháp
 Rumani 3/2/1950
 Serbia 10/3/1957(với Nam Tư
 Slovakia 2/2/1950
 Ý 23/3/1973 Xem Quan hệ Việt - Ý
 Vatican Không có quan hệ Xem Quan hệ Việt Nam - Tòa Thánh

Sau khi kết thúc chiến tranh Việt Nam, Khâm sứ Tòa Thánh đã bị buộc phải rời Việt Nam. Từ đó Khâm sứ của Tòa Thánh không có quyền hạn như một đại sứ, không phải là đại diện ngoại giao của một Nhà nước, các Khâm sứ Tòa Thánh tại Việt Nam đã không bị đàn áp, nhưng vẫn không được hoạt động kể từ năm 1975.[18] Vào 1/2011, Tòa Thánh bổ nhiệm đại sứ đầu tiên làm "Đại diện không thường trú tại Việt Nam" là Tổng Giám mục Leopoldo Girelli. Ông là Tổng Giám mục đầu tiên kiêm nhiệm vai trò khác như Sứ thần Tòa Thánh tại Singapore và Khâm sứ Tòa Thánh tại Malaysia.

Các nước khác[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ [1] Chính sách đối ngoại của chính phủ Việt Nam
  2. ^ Zhai, Qiang. China and the Vietnam Wars, 1950-1975. Chapel Hill: The University of North Carolina Press, 2000
  3. ^ Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
  4. ^ Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI năm 2014
  5. ^ [2] Lịch sử ngành ngoại giao Việt Nam
  6. ^ http://nld.com.vn/thoi-su-quoc-te/viet-nam-phap-doi-tac-chien-luoc-20130925094454443.htm Việt Nam - Pháp: Đối tác chiến lược
  7. ^ [3] Việt Nam và Indonesia trở thành đối tác chiến lược
  8. ^ http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2013/0/130418_vn_lam_phat_doi_tac_chien_luoc.shtml VN bị “lạm phát” đối tác chiến lược?
  9. ^ http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130920/xu-huong-moi-doi-tac-chien-luoc-thay-cho-lien-minh-quan-su.aspx Xu hướng mới: Đối tác chiến lược thay cho liên minh quân sự
  10. ^ a ă â b http://www.mofa.gov.vn/vi/cn_vakv/
  11. ^ Bulgarian embassy in Hanoi
  12. ^ Vietnamese Ministry of Foreign Affairs about relations with Bulgaria
  13. ^ http://www.novinite.com/view_news.php?id=72667
  14. ^ Danish embassy in Hanoi
  15. ^ "Embassy Information", EmabssyInformation.com, retrieved 28 April 2009.
  16. ^ "List of Vietnamese Embassies and Consulates abroad", 48th International Mathematical Olympiad, retrieved 28 April 2009.
  17. ^ “Vietnam-Russia traditional ties reach new heights”. Embassy of Vietnam in the United States of America. 5 tháng 3 năm 2001. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2007. 
  18. ^ Antonio G. Filipazzi, Rappresentanze e Rappresentanti Pontifici dalla seconda metà del XX secolo (Libreria Editrice Vaticana 2006 ISBN 88-209-7845-8), p. X, XII, XV, 189