Qatar

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Quatar)
Bước tới: menu, tìm kiếm
دولة قطر
Dawlat Qatar
Flag of Qatar.svg Emblem of Qatar.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Qatar
Khẩu hiệu
không có
Quốc ca
As Salam al Amiri
Hành chính
Chính phủ Quân chủ tuyệt đối
Vua
Thủ tướng
Sheikh Tamim bin Hamad Al Thani
Sheikh Abdullah bin Khalifah Al Thani
Ngôn ngữ chính thức tiếng Ả Rập
Thủ đô Doha
25°18′B, 51°31′Đ
Thành phố lớn nhất Doha
Địa lý
Diện tích 11.437 km²
Diện tích nước 0% %
Múi giờ UTC+3
Lịch sử
Ngày thành lập 3 tháng 9 năm 1971
Mật độ 75 người/km² (hạng 94)
Kinh tế
GDP (PPP) (2005) Tổng số: 22,47 tỷ đô la Mỹ
HDI (2003) 0,849 cao (hạng 40)
Đơn vị tiền tệ Riyal Qatar (QAR)
Thông tin khác
Tên miền Internet .qa

Qatar (phiên âm tiếng Việt: Ca-ta, Hán-Việt: Khải Tháp Nhĩ; tiếng Ả Rập: دولة قطر, Dawlat Qatar) là một quốc gia tại Trung Đông. Qatar nằm trên bán đảo nhỏ Qatar là phần phía Đông Bắc của bán đảo Ả Rập. Phía Nam Qatar giáp Ả Rập Xê Út, các mặt khác giáp vịnh Ba Tư. Năm 2004, Qatar được bầu làm thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2005-2007.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước đây, Qatar thuộc quyển kiểm soát của các tù trưởng Hồi giáo Bahrain. Năm 1867, chiến tranh bùng nổ giữa những cư dân và những nhà cầm quyền vắng mặt. Để gìn giữ hòa bình trong vùng Vịnh, người Anh đã đưa Muhammad ibn Thani Al Thani, người đứng đầu một dòng họ lớn ở Qatar, làm người cai trị vùng này. Năm 1916, tiểu vương đồng ý để Qatar trở thành xứ bảo hộ của Anh.

Các mỏ dầu được khám phá từ thập niên 1940, mang lại sự thịnh vượng cho đất nước trong hai thập niên 50-60. Khoảng 85% thu nhập của Qatar là từ nguồn xuất khẩu dầu mỏ. Qatar là một trong những nước có thu nhập bình quân đầu người khá cao trên thế giới. Năm 1971, Qatar dự định liên kết với các nước Trucial để tạo thành Liên hiệp các Tiểu vương quốc Arập, nhưng cả Qatar và Oman đều từ chối và trở thành các nước độc lập.

Năm 1991, Qatar đồng ý để lực lượng quốc tế sử dụng Qatar làm căn cứ trong cuộc Chiến tranh vùng Vịnh. Năm 1994, chính phủ nắm quyền kiểm soát các công ty khai thác dầu mỏ trên toàn lãnh thổ quốc gia. Năm 1995, Thái tử Hamad bin Khalifa Al Thani truất phế quyền lực của vua cha. Từ đó, Al Thani áp dụng chính sách "thắt lưng buộc bụng" do nợ nước ngoài quá nhiều, bãi bỏ việc kiểm duyệt báo chí, tiến hành các cuộc cải cách trong đó có cả việc thực hiện cuộc bầu cử dân chủ lần đầu tiên trong lịch sử nước này. Mặc dầu cuộc bầu cử năm 1999 cho 29 thành viên Hội đồng thành phố - chỉ là cuộc bầu cử nhỏ, nhưng nó lại thể hiện một sự thay đổi có ý nghĩa về mặt chính trị: phụ nữ được quyền bỏ phiếu và quyền tranh cử.

Qatar cũng là nơi đặt trụ sở của mạng truyền hình vệ tinh bằng tiếng Ả Rập Al Jazera, đài này đã cho phát những đoạn băng độc quyền và những bài phát biểu của trùm khủng bố Osama Bin Laden. Đây là một đài truyền hình độc lập được nhiều người quan tâm ở Trung Đông, nhưng cũng bị nhiều nước Ả Rập chỉ trích vì cho phát hình các buổi phỏng vấn gây nhiều tranh luận về những nhân vật đối lập.

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Đối nội[sửa | sửa mã nguồn]

Qatar theo chế độ quân chủ chuyên chế, đứng đầu Nhà nước là Quốc vương, gọi là Emir. Trước đây, Qatar không có Quốc hội mà chỉ có Hội đồng Cố vấn (Majlis Al Shura) gồm 35 thành viên, do Quốc vương chỉ định. Quốc vương chỉ định cả Thủ tướng và Hội đồng Bộ trưởng.

Các đảng phái chính trị, các tổ chức công đoàn và quần chúng đều bị cấm hoạt động.

Gần đây, Qatar tiến hành cải cách chính trị, kinh tế, cho phép phụ nữ được quyền bầu cử và tranh cử.

Tháng 4 năm 2003, Qatar tổ chức trưng cầu dân ý, và đã thông qua Hiến pháp mới, Quốc hội (1 viện) bao gồm 45 thành viên, trong đó 2/3 được bầu cử trực tiếp, 1/3 thành viên còn lại do Quốc vương chỉ định. Cuộc bầu cử Quốc hội mới (thay thế Hội đồng Cố vấn) được tiến hành vào năm 2004.

Hiến pháp mới cho phép thành lập ngành Tư pháp độc lập, tách rời các cơ quan Lập pháp, Hành phápTư pháp, đảm bảo quyền tự do Hiệp Hội, bày tỏ ý kiến, nhưng không cho phép thành lập các đảng phái chính trị.

Đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Qatar có chính sách đối ngoại khôn khéo, phát huy vai tró tích cực của mình ở khu vực và trên các diễn đàn quốc tế. Qatar đã đăng cai thành công nhiều hoạt động quốc tế và khu vực (WTO, nhóm 77, ASIAD 15…).

Qatar có quan hệ tốt với các nước láng giềng vùng Vịnh, và các nước Ả Rập khu vực, đã giải quyết xong vấn đề tranh chấp biên giới, lãnh thổ với Ả Rập Xê Út (năm 1992), và với Bahrain (tháng 3 năm 2001) thông qua phán xét của Toà án Quốc tế vì Công lý.

Qatar là thành viên của các Tổ chức: UN, ESCWA, GCC, FAO, OPEC, WTO, UNESCO, OIC, UNCTAD, NAM và nhiều Tổ chức quốc tế khác.

Hiện ở Doha có gần 60 cơ quan đại diện ngoại giao.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia ở Tây Á, trong vùng bán đảo Ả Rập, nằm trên một bán đảo nhỏ nhô ra ở bờ Tây của vịnh Ba Tư. Qatar chiếm toàn bộ vùng cao nguyên đá vôi hoang mạc khô cằn, nhưng việc khai thác dầu mỏ (1949) và khí đốt tự nhiên (1988) đã mang lại nguồn thu nhập rất cao và tạo điều kiện phát triển nông nghiệpcông nghiệp.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ 7 thành phố của Qatar

Từ năm 2004, Qatar được chia thành bảy thành phố gọi là baladiyah.[1]

  1. Madinat ash Shamal
  2. Al Khor
  3. Umm Salal
  4. Al Daayen
  5. Al Rayyan
  6. Doha
  7. Al Wakrah

Các thành phố được chia nhỏ thành 98 khu vực.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi phát hiện ra dầu mỏ kinh tế Qatar chủ yếu dựa vào đánh cángọc trai. Sau khi thế giới biết đến nghề nuôi ngọc trai của người Nhật vào thập niên 20, 30, ngành ngọc trai Qatar suy thoái. Tuy nhiên, việc phát hiện ra dầu mỏ vào thập niên 40 đã hoàn toàn thay đổi nên kinh tế nước này. Hiện nay Qatar có mức sống cao, người dân được hưởng nhiều dịch vụ xã hội và tiện nghi hiện đại. Thu nhập của Qatar chủ yếu dựa vào xuất khẩu dầu khí. Lượng dầu mà Qatar có được ước tính khoảng 15 tỉ thùng (2.4 km³), trong khi đó khí đốt nằm trong một mỏ khổng lồ ở phía Bắc xung quanh vùng biên giới với Iran ước tính khoảng 800-900tcf (Trilion Cubic Feet-1tcf tương đương 80 triệu thùng dầu). Qatar giàu có và có mức sống cao không thua kém các nước Tây Âu. Qatar là một trong những nước có thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới. Vì không đánh thuế thu nhập, Qatar là một trong hai nước có mức thuế thấp nhất thế giới (nước kia là Bahrain).

Qatar có tiềm năng kinh tế rất mạnh và đang phấn đấu để trở thành một trung tâm kinh tế - tài chính của khu vực.

Tài nguyên chính của Qatar là dầu lửa với trữ lượng 15,21 tỉ thùng, sản luợng 797 nghìn thùng /ngày (2009); hơi đốt 25 nghìn tỉ m3, đứng thứ 3 thế giới và đứng đầu thế giới về xuất khẩu khí hoá lỏng. Nền kinh tế Qatar chủ yếu dựa vào công nghiệp khai thác, chế biến dầu lửa và hơi đốt. Dầu lửa và hơi đốt đem lại khoảng 85% nguồn thu xuất khẩu và 60% GDP. Ngoài dầu lửa, Qatar còn có một số nhà máy xi măng, sửa chữa tàu thuyền.

Cơ cấu kinh tế: Công nghiệp 65,9%, Dịch vụ 34,1%, Nông nghiệp 0,1%.

GDP bình quân đầu (PPP): 103 nghìn USD (2008); 121,5 nghìn USD (2009)

Tăng trưởng 11,2% (2008); 9,2% (2009)

Tỷ lệ lạm phát 15, 2% (2008); -3,9% (2009)

Thất nghiệp 0,6% (2008); 0,5% (2009)

Đầu tư trực tiếp trong nước: 20,75 tỷ USD (2009)

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài: 9,4 tỷ USD (2009)

Dự trữ ngoại tệ và vàng: 16,81 tỷ USD (tính đến 31/1/2/2008); 17,2 tỷ (tính đến 31/12/2009).

Qatar xuất khẩu chủ yếu các sản phẩm dầu, phân bón, thép..., nhập khẩu máy móc, thiết bị, hàng tiêu dùng, thực phẩm, hoá chất.

Các bạn hàng chính: Nhật, Singapore, Hàn Quốc, Thái Lan, Mỹ, Pháp, Anh, Đức, Italia, Emirates, Ả Rập Xê Út.

Qatar có khoảng 600 nghìn lao động nước ngoài làm việc tại đây.

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Điều tra dân số năm 2010 ghi nhận dân số hiện tại là 1.699.435 người.[2] Vào tháng Giêng năm 2013, Cơ quan Thống kê Qatar ước tính dân số của nước này vào khoảng 1.903.447 người, trong đó 1.405.164 là nam giới và 498.283 phụ nữ.[3] Tại thời điểm điều tra cuộc dân số đầu tiên được tổ chức năm 1970, dân số là 111.133 người.[4] Dân số đã tăng gấp ba lần trong các thập kỷ đến năm 2011, tăng từ hơn 600.000 người trong năm 2001, công dân Qatar chỉ chiếm dưới 15% tổng dân số, còn lại là người nhập cư lao động.[5] Dòng người lao động nam đã dẫn đến mất cân bằng giới tính và phụ nữ bây giờ chỉ chiếm một phần tư dân số.[5]

Những người nhập cư lao động đã tạo nên các nhóm dân tộc như: Người Qatar chiếm 15%; các tộc người Ả Rập khác 13%, người Ấn Độ 24%; người Nepal 16%, người Philippines 11%, người Sri Lanka 5%; người Bangladesh: 5%; người Pakistan 4%, các dân tộc khác 7%. [13] Trong năm 2010, đã có 250.000 người Philippines ở nước này, làm cho cộng đồng này trở thành nhóm người nước ngoài lớn nhất thứ ba tại Qatar.[6]

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Hồi giáo Sunni là tôn giáo chiếm ưu thế. Theo điều tra dân số năm 2004, 71,5% dân số là người Hồi giáo Sunni và khoảng 10% Hồi giáo Shia, 8,5% theo Công giáo và 10% các tôn giáo khác.[7] Hầu hết công dân Qatar thực hành theo giáo phái Wahhabism một giáo phái bảo thủ thuộc dòng Suni.[8]

Trong năm 2010, các tôn giáo trong cả nước ước tính do Trung tâm nghiên cứu Pew đưa ra là 67,7% Hồi giáo, 13,8% Kitô giáo, 13,8% theo Ấn giáo, Phật giáo 3,1%. Các tôn giáo khác và những người không tôn giáo chiếm phần còn lại là 1,6%.[9]

Trong tháng 3 năm 2008, một nhà thờ Công giáo La Mã, là nhà thò Đức Mẹ Mân Côi, được thánh hiến trong cuộc đàm phán Doha. Nhưng Công giáo không được phép truyền giáo trong cộng đồng. Nhà thờ sẽ không được xây dựng các biểu tượng của Kitô giáo như thánh giá, chuông, hoặc một tháp chuông bên ngoài.[10] Người theo Kitô giáo bao gồm gần như hoàn toàn là người nước ngoài. Không có các nhóm truyền giáo nước ngoài hoạt động công khai trong nước,[11] nhưng chính phủ cho phép nhà thờ tiến hành các Thánh Lễ từ năm 2008 và Kitô hữu đã được cho phép xây dựng nhà thờ trên đất hiến tặng của chính phủ.[12]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]