Quyển bá trường sinh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quyển bá trường sinh
Spikemoss Selaginella Tamariscina curled up.jpg
Cây quyển bá trường sinh khi quăn lại
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
Ngành (divisio) Lycopodiophyta
Lớp (class) Selaginellopsida
Bộ (ordo) Selaginellales
Họ (familia) Selaginellaceae
Chi (genus) Selaginella
Loài (species) S. tamariscina
Danh pháp hai phần
Selaginella tamariscina
(P. Beauv.) Spring, 1843

Quyển bá trường sinh, hay còn gọi là cây chân vịt (danh pháp hai phầnSelaginella tamariscina (Beauv.) Spring thuộc họ Quyển bá (Selaginellaceae). Phân bố tại khu vực Đông Siberi (lưu vực sông Amur – sông Ussuri), Nhật Bản (bao gồm cả quần đảo Lưu Cầu (Ryukyu), quần đảo Bonin (đảo Chichi-jima), Đài Loan, Triều Tiên, Mông Cổ, Trung Quốc (bao gồm cả Nội Mông Cổ và Mãn Châu), Ấn Độ, Myanma, Philippines, bán đảo Mã Lai (Perak), bắc Thái Lan, Indonesia (Sulawesi, Java, Lombok), Việt Nam.

Đồng nghĩa và phân loài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lycopodioides tamariscina (P. Beauv.) H.S. Kung; Fl. Sichuanica 6: 62-64, t. 18, 4-6 (1988)
  • Lycopodium circinale Thunb.; Fl. Jap., 341 (1784)
  • Lycopodium tamariscinum (Beauv.) Desv. trong Poir.; Lamarck, Encycl. Suppl. 3: 540. [1813] 1814
  • Selaginella christii Lév.; Fedde Repert. 9: 451 (1911)
  • Selaginella convolvens Alderw.; Bull. Jard. Bot. Buit., II, 11: 23 (1913)
  • Selaginella involvens (Sw.) Spring; Bull. Acad. Roy. Sci. Bruxelles 10(1): 136, số 6 (1843) [ngoại trừ từ đồng nghĩa]
  • Selaginella involvens f. major Milde; Fil. Eur. 269 (1867)
  • Selaginella involvens f. minor Milde; Fil. Eur., 269 (1867)
  • Selaginella involvens var. veitchii (MacNab) Baker; Jour. Bot. 22: 375 (1884)
  • Selaginella japonica T. Moore ex W.R. McNab; Trans. Bot. Soc. Edinburgh 9: 8 (1868) [danh pháp không hợp lệ, không Selaginella japonica Miq (1867).
  • Selaginella japonica Veitch; Flor. & Pom., 137, fig (1877)
  • Selaginella leveillei Kümmerle; Magyar Bot. Lap. 26: 100 (1928)
  • Selaginella veitchii W.R. McNab; Trans. Bot. Soc. Edinburgh 9: 10 (1867)
  • Stachygynandrum tamariscinum P. Beauv.; Mag. Encycl. 9(5): 483 (1804), cũng trong Prodr. Aetheogam. 106 (1805)

var. ulanchotensis Ching & W. Wang; Fl. Pl. Herb. Chin. Bor.-Orient. 1: 69 (1958). Phân bố: Mông Cổ, đông bắc Trung Quốc

var. pulvinata (Hook. & Grev.) Alston; Bull. Fan Mem. Inst. 5: 271 (1934). Phân bố: Ấn Độ (Kumaon, Assam), Myanma, Trung Quốc (Hà Bắc, Vân Nam, Hồ Bắc, Tứ Xuyên, Tây Tạng). Đồng nghĩa bao gồm:

  • Lycopodioides pulvinata (Hook. & Grev.) H.S. Kung; Fl. Sichuanica 6: 64, t. 18, 1-3 (1988)
  • Lycopodium pulvinatum Hook. & Grev.; Hook. Bot. Misc. 2: 381 (1831)
  • Selaginella involvens nghĩa Baker; Fern Allies, 87, số 204 (1887) [p p.
  • Selaginella pulvinata (Hook. & Grev.) Maxim.; Mém. Acad. Imp. Sci. Petersb. 9: 335 (1859)
  • Selaginella tamariscina (P. Beauv.) Spring var. pulvinata (Hook. & Grev.) Alston; Bull. Fan Mem. Inst. Biol. S: 271 (1934)

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Việt Nam, cây chân vịt chỉ thấy có tại các tỉnh miền núi Tây Bắc và Việt Bắc, là một loại thảo mộc, mọc lâu năm, ưa chỗ râm mát, có thân đứng hoặc nằm, tròn, màu cánh gián, phân nhánh theo lối rẽ đôi. Rễ phụ mọc từ gốc tỏa các nhánh đâm xuống đất. Lá nhiều, nhỏ, có lưỡi nhỏ, hình trứng, đầu nhọn, mép lá có răng cưa thưa. Cây chân vịt có vị hơi đăng, không mùi, không độc. Cây chịu hạn tốt, khi khô cuộn tròn xếp lại giống như chân vịt.

Dược học[sửa | sửa mã nguồn]

Theo tài liệu cổ Trung Quốc, Hàn Quốc, cây chân vịt có tác dụng tan huyết; dùng khô sao đen có tác dụng cầm máu. Do đó, người ta thường dùng để điều trị tiểu tiện ra máu, trĩ ngoại, đại tiện có máu tươi (hemorrhoids), giúp cho phụ nữ kinh nguyệt kéo dài quá lâu. Ngoài ra, còn được dùng để chữa bỏng.

Một số trường hợp đặc biệt, chân vịt có thể điều trị tốt bệnh viêm gan, vàng da, vàng mắt, tắc mật, hủy hoại tế bào gan, tiểu tiện vàng sánh hoặc bệnh Leptospirosis (da, mắt vàng và chảy máu do Leptospira spp. gây ra). Ngoài ra cây chân vịt cũng có tác dụng bổ máu (phải dùng chung với hạt sen, gà con múm đuôi tôm, củ tam thất). Có thể cả lá và rễ ở dạng khô dùng làm thuốc sắc khoảng 20-30 gam để uống trong ngày, hay tán bột rắc lên chỗ vết thương.

Một số đơn thuốc:

- Bỏng lửa: Chân vịt sao thơm, tán bột, trộn với lòng trắng trứng gà, đắp lên nơi bỏng, sau 2-3 giờ thay một lần.

- Váng đầu, hoa mắt, vàng da: Toàn cây chân vịt 30 g sắc với 400 ml nước, chia 2 lần uống trong ngày.

- Đau do thoái hóa đốt sống cổ - vai, đau nhức vùng thắt lưng, thoái hóa cột sống cùng lưng, nhức mỏi toàn thân, viêm khớp xương bả vai, đau dây thần kinh tọa, viêm xoang, đau đầu, tiết dịch mũi: Dùng chân vịt khô 30 g sao thơm, hãm nước sôi uống thay trà, thời gian dùng có thể kéo dài hàng tháng.

Lưu ý: Nên thận trọng khi dùng và phải căn cứ theo cơ địa của mỗi người nhằm tránh tác dụng phụ có thể xảy ra.

Nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

Một nghiên cứu mới đây ở Australia và Trung Quốc đã tiết lộ một phương pháp chữa bệnh mới bằng axit folic (vốn được coi là loại dinh dưỡng bổ sung cho thai phụ nhằm bảo vệ sự phát triển hệ thần của thai nhi) trong việc bảo vệ các cơ tim khỏi sự tấn công của đường huyết cao gây ra do bệnh tiểu đường[cần dẫn nguồn]. Chỉ với một thời gian ngắn sử dụng axit folic bổ sung hoặc ăn rau chân vịt đều đặn hằng ngày (khoảng 11 tuần) là đã có thể giảm đáng kể tỉ lệ "tử vong" của các tế bào trong khu vực tim do sự tấn công của đường huyết.

Ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]

Cây chân vịt được trồng lấy lá làm rau ăn. Tại Việt Nam, người ta thường dùng ăn lá sống kèm với những món cá kho, mắm kho, cá chiên,...

Một số tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Loài này còn có một số tên gọi khác như: thạch bá chi, linh chi thảo, nhả nung ngựa, vạn niên tùng, hoàng dương thảo, hồi sinh thảo, trường sinh thảo, cải tử hoàn thảo, móng lưng rồng, cửu tử hoàn hồn thảo, truật cổ, thạch hoa, địa thạch thảo, phật thủ thảo, hàm sanh thảo, nham đài, nham tùng, nham tùng diệp, quyển bách (bá), hoa kính, trường sinh bất tử thảo, báo túc, vạn niên thanh, vạn tuế v.v. Tên tiếng Anh: resurrection spikemoss.

Tham khảo và đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]