Rắn lục đuôi đỏ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trimeresurus albolabris
Trimeresurus albolabris male.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Phân ngành (subphylum) Vertebrata
Lớp (class) Reptilia
Bộ (ordo) Squamata
Phân bộ (subordo) Serpentes
Họ (familia) Viperidae
Phân họ (subfamilia) Crotalinae
Chi (genus) Trimeresurus
Loài (species) T. albolabris
Danh pháp hai phần
Trimeresurus albolabris
Gray, 1842
Danh pháp đồng nghĩa

Rắn lục đuôi đỏ (danh pháp hai phần: Trimeresurus albolabris) thuộc họ Rắn lục (Viperidae), bộ Có vảy (Squamata), có ba phân loài được công nhận, kể cả loài được chỉ định ở đây.[3]

Hình dáng[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là loài cực độc trong số các loại rắn lục, mình xanh và đuôi có màu nâu đỏ, chiều dài tối đa khoảng 60 cm với cân nặng khoảng 300gram. Tổng chiều dài con đực 600 mm, con cái dài 810 mm; chiều dài đuôi con đực 120 mm, con cái 130 mm.[4]

Sinh thái và tập tính[sửa | sửa mã nguồn]

Đây cũng là loài đặc biệt vì trong họ hàng nhà rắn lục chỉ có rắn lục đuôi đỏ là loại đẻ con, chúng không giống một số loài rắn khác ấp trứng mà sau khi trứng được thụ tinh thì ở lại ngay trong bụng rắn mẹ và quây thành bào thai riêng biệt như của loài thú, trong thời gian ấp trứng rắn mẹ vẫn sinh hoạt bình thường, nhưng lúc sinh con ra là lúc phần bụng chỗ hậu môn sẽ rách ra và toàn bộ số rắn con sẽ chui ra, lúc đó cũng là lúc kết thúc cuộc đời rắn mẹ. Lúc rắn mẹ mang thai thì do cấu tạo đặc biệt nọc độc của nó tập trung nhiều nhất và hung dữ nhất.

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Loài rắn này sinh sống chủ yếu trên khu vực núi cao và trong các khu rừng sâu thuộc dãy Trường Sơn, vùng núi thuộc khu vực Tây bắc Việt Nam, hiện nay Cần Thơ cũng có nhưng rất ít. Vừa rồi ở Quảng Ngãi và ở Nam Đàn - Nghệ An cũng có. Vào mùa thu đông năm 2014 mới đây, chúng đã phân bố đến thành phố Đà Nẵng. Phần lớn thời gian sông trên cây, vì thế nên da có màu xanh để có thể dễ dàng ngụy trang. Thị lực của rắn lục rất tốt vào ban đêm nhưng ngược lại ban ngày thì thị lực yếu.

Giá trị sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Có tác dụng tiêu độc, tiêu khối u

Tình trạng tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay ở Việt Nam, loài này đang gia tăng ồ ạt về số lượng. Năm 2014 chúng ồ ạt xuất hiện ở nhiều khu dân cư và tấn công đồng loạt trên diện rộng ở Việt Nam, nguyên nhân là do tác động của hiện tượng biến đổi khí hậu[5][6][7][8][9][10][11].

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Das I. 1999. Biogeography of the amphibians and reptiles of the Andaman and Nicobar Islands, India. In: Ota, H. (ed) Tropical Island herpetofauna, Elsevier, pp. 43–77.
  • David P, Vogel V. 2000. On the occurrence of Trimeresurus albolabris (Gray 1842) on Sumatra Island, Indonesia (Reptilia, Serpentes, Viperidae, Crotalinae). Senckenbergiana Biologica 80(1/2):225-232.
  • Einfalt P. 2002. Haltung und Vermehrung von Trimeresurus albolabris (Gray 1842). Elaphe. 10(4):31-36.
  • Gray, J. E. 1842. Synopsis of the species of Rattle snakes, or Family of Crotalidae. The Zoological Miscellany. 2:47-51.
  • Gumprecht, A. 2001. Die Bambusottern der Gattung Trimeresurus Lacépède Teil IV: Checkliste der Trimeresurus-Arten Thailands. Sauria 23 (2): 25-32.
  • Leviton AE, Wogan GOU, Koo MS, Zug GR, Lucas RS, Vindum JV. 2003. The Dangerously Venomous Snakes of Myanmar, Illustrated Checklist with Keys. Proc. Cal. Acad. Sci. 54 (24):407-462.
  • Parkinson CL. 1999. Molecular systematics and biogeographical history of Pit Vipers as determined by mitochondrial ribosomal DNA sequences. Copeia (3): 576-586.
  • Tu MC, Wang HY, Tsai MP, Toda M, Lee WJ, Zhang FJ, Ota H. 2000. Phylogeny, Taxonomy, and Biogeography of the Oriental Pit Vipers of the Genus Trimeresurus (Reptilia: Viperidae: Crotalinae): A Molecular Perspective. Zoological Science 17: 1147-1157.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]