Rafael Nadal

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Rafael Nadal
Nadal Japan Open 2011.jpg
Biệt danh Rafa, Vua sân đất nện, Matador, Người đàn ông đến từ Majorca[1][2]
Quốc gia Tây Ban Nha Tây Ban Nha
Nơi cư trú Manacor, Mallorca
Ngày sinh {{{Ngày sinh}}}
Nơi sinh Manacor, Mallorca
Chiều cao 1,85 m (6 ft 1 in)
Cân nặng 85,0kg
Bắt đầu chơi chuyên nghiệp 2001
Tay thuận tay trái; revers hai tay
Tiền thưởng giành được 70,488,305 đô la Mỹ
Đánh đơn
Thắng/thua 699–135 (83.81%)
Số chức vô địch 64
Thứ hạng cao nhất 1 (18 tháng 8, 20087 tháng 6, 2010)
Thứ hạng hiện tại 1 (07.10.2013)
Thành tích tốt nhất tại các giải Grand Slam
Úc Mở rộng Vô địch (2009)
Pháp Mở rộng Vô địch (2005, 2006, 2007, 2008, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014)
Wimbledon Vô địch (2008, 2010)
Mỹ Mở rộng Vô địch (2010, 2013)
Các giải đấu khác
Tour Finals F (2010,2013)
Thế vận hội Gold medal.svg Gold medal (2008)
Đánh đôi
Thắng/thua 103–60
Số chức vô địch 8
Thứ hạng cao nhất Số 26 (8 tháng 8, 2005)
Thành tích đánh đôi tốt nhất tại các giải Grand Slam
Úc Mở rộng Vòng 3 (2004, 2005)
Pháp Mở rộng -
Wimbledon 2R (2005)
Mỹ Mở rộng SF (2004)

Tiêu bản được cập nhật lần cuối vào: 29 tháng 7 năm 2013.

Thành tích Huy chương Olympic
Đối thủ cạnh tranh cho  Tây Ban Nha


Quần vợt
Thế vận hội mùa hè
Vàng 2008 Bắc Kinh Đơn nam

Rafael "Rafa" Nadal Parera (IPA: [rafa'el na'ðal], sinh ngày 3 tháng 6 năm 1986 tại Manacor, Majorca) là một vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Tây Ban Nha, hiện đang giữ vị trí số 1 thế giới. Nadal được xem như một trong những vận động viên tennis xuất sắc nhất mọi thời đại.[3][4] Hiện tại thì anh đã giành được 14 Grand Slam ở nội dung đánh đơn (trong đó Rafa đã 10 lần tham dự Roland Garros và 9 lần đăng quang, nhiều hơn tất cả các tay vợt khác về số danh hiệu giành được tại một giải Grand Slam), huy chương vàng đơn nam tại Olympic 2008, một thành tích kỷ lục là 27 chức vô địch ATP World Tour Masters 1000, 4 chức vô địch Davis Cup cùng đội tuyển Tây Ban Nha vào các năm 2004, 2008, 2009, 2011, cùng một số danh hiệu khác.

Sau chức vộ địch Mỹ Mở rộng 2010, Nadal đã trở thành tay vợt thứ 7 trong lịch sử hoàn tất Grand Slam sự nghiệp, và nếu là người trẻ nhất trong Kỷ nguyên Mở rộng làm được điều này. Anh cũng là tay vợt nam thứ hai sau Andre Agassi hoàn tất được Grand Slam Vàng sự nghiệp (vô địch cả 4 Grand Slam và giành huy chương vàng Olympic).

Những thành công trên mặt sân đất nện đã mang đến cho Nadal danh hiệu "Vua đất nện", và anh được nhiều chuyên gia đánh giá là tay vợt chơi sân đất nện hay nhất mọi thời đại.[5][6] Nadal có một thành tích kỷ lục là 9 chức vô địch ở giải Pháp Mở rộng (Roland Garros) từ 2005-2008 và 2010-2014 (trong 10 lần tham dự, anh chỉ thua một trận duy nhất năm 2009). Với thành tích này thì anh cũng là người có nhiều lần vô địch một Grand Slam nhất trong lịch sử (hơn Pete Sampras với 7 lần vô địch Wimbledon). Với chức vô địch Monte Carlo 2012 thì Nadal là tay vợt duy nhất trong lịch sử vô địch một giải đấu thuộc ATP 8 năm liên tiếp. Anh đang giữ kỉ lục có chuỗi trận thắng dài nhất trên sân đất nện trong kỉ nguyên mở rộng của quần vợt với 81 chiến thắng (từ tháng 4 năm 2005 đến tháng 5 năm 2007).

Nadal giữ một kỷ lục là đã có 160 tuần xếp thứ 2 sau Federer trên bảng xếp hạng ATP trước khi giành lấy vị trí số 1 từ ngày 18 tháng 8 năm 2008 đến 5 tháng 7 năm 2009.[7] Sau đó anh đã lấy lại vị trí số 1 thế giới vào ngày 7 tháng 6 năm 2010 và giữ cho đến ngày 3 tháng 7 năm 2011.[8] Nadal cũng là tay vợt duy nhất sau Rod Laver giành được 3 danh hiệu Grand Slam liên tục trong cùng một năm (Pháp Mở rộng, Wimbledon và Mỹ Mở rộng 2010).

Năm 2008, Nadal nhận giải thưởng thể thao Prince of Asturias vì những thành tích của mình.[9] Vào ngày 21/11 năm 2010, ở London, Nadal lần đầu tiên giành giải thưởng Stefan Edberg Sportsmanship.[10] Ngày 7/2/2011, Nadal vinh dự được nhận giải thưởng Laureus World Sportsman of the Year lần đầu tiên trong sự nghiệp.

Thời niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Nadal sinh ra tại Manacor, Mallorca, có cha là Sebastian và mẹ là Ana Maria; anh có một cô em gái tên Maria Isabel. Cha anh làm chủ một nhà hàng và một xưởng làm kính. Mẹ anh là một bà nội trợ. Người chú Miguel Ángel Nadal là một cầu thủ bóng đá đã nghỉ hưu, từng chơi cho đội RCD Mallorca, FC Barcelonađội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha. Cho đến giờ, Nadal vẫn là một cổ động viên cho đội RCD Mallorca và Real Madrid.[11] Một người chú khác, Toni Nadal, đã dạy anh bài học quần vợt đầu tiên khi anh được 3 tuổi. Cho tới giờ thì ông vẫn là HLV của Nadal và luôn sát cánh cùng anh trong mọi giải đấu.

Mặc dù chơi tay trái, Nadal bẩm sinh là người thuận tay phải. Khi còn nhỏ, Toni Nadal thấy rằng những cú revers hai tay sẽ được hưởng nhiều lợi ích từ một cánh tay phải mạnh mẽ, vì vậy ông đã dạy cho Nadal chơi bằng tay trái.[12] Khi Nadal 12 tuổi, anh giành chiến thắng ở giải quần vợt U12 trong vùng và cũng là một cầu thủ bóng đá triển vọng.[12] Cha Nadal muốn anh chọn lựa dứt khoát giữa quần vợt và bóng đá, và cuối cùng anh đã quyết định theo đuổi sự nghiệp quần vợt.[12]

Khi Nadal được 14 tuổi, liên đoàn tennis Tây Ban Nha muốn anh chuyển tới Barcelona để thuận tiện hơn cho việc tập luyện, nhưng gia đình Nadal đã khước từ lời đề nghị này, như Toni Nadal đã nói "Tôi không muốn tin là bạn phải tới Mỹ, hay nơi nào đó, để trở thành một vận động viên giỏi. Bạn có thể làm được điều đó ngay tại quê nhà."[13] Sự lựa chọn này cũng có nghĩa là Nadal sẽ nhận được ít hỗ trợ tài chính hơn. Tháng 5/2001, khi Nadal được 14 tuổi, anh được thi đấu một trận giao hữu trân sân đất nện với tay vợt nổi tiếng Pat Cash. Ban đầu Cash được xếp lịch chơi với Boris Becker, nhưng đã phải miễn cưỡng đấu với Nadal. Cash để thua sát nút trận đấu này.

Nadal có một số thành tích đáng khâm phục từ khi còn thi đấu ở các giải trẻ. Năm 16 tuổi, anh vào tới bán kết giải trẻ Wimbledon và cùng đội tuyển Tây Ban Nha giành chiến thắng tại giải trẻ Davis Cup.[14] Ở tuổi 17, anh đã lọt vào top 50 thế giới. Vào năm 2003, Nadal giành giải Tay vợt triển vọng trong năm của ATP. Hình ảnh cắn cúp, sau này trở này một nét đặc trưng của Nadal, cũng đã được bắt đầu từ khi anh còn rất trẻ.[15]

Sự nghiệp quần vợt[sửa | sửa mã nguồn]

2002-2004[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2002, Nadal, 15 tuổi và xếp hạng 762 thế giới, thắng trận đấu ATP đầu tiên của mình, đánh bại Ramon Delgado tại Mallorca để trở thành tay vợt thứ 9 trong kỷ nguyên mở rộng thắng một trận đấu ATP trước sinh nhật lần thứ 16 của mình.[16]

Năm 2003, Nadal trở thành tay vợt trẻ thứ hai trong lịch sử lọt vào bảng xếp hạng Top 100. Anh kết thúc năm 2003 ở hạng 49, giành hai danh hiệu Challenger. Tại Wimbledon đầu tiên của mình, khi 17 tuổi, Nadal đã trở thành tay vợt trẻ nhất lọt vào vòng 3 giải này kể từ năm 1984 với Boris Becker lúc 16 tuổi.

Năm 2004, Nadal lần đầu tiên đụng độ Federer tại Miami Masters 2004, từ đó bắt đầu một cuộc đối đầu giữa hai kỳ phùng địch thủ mà sau này được các nhà bình luận xem là cuộc đối đầu vĩ đại nhất trong lịch sử quần vợt thế giới. Ở thời điểm diễn ra trận đấu này, Federer đã là tay vợt số 1 thế giới trong khi Nadal vẫn chỉ ở dạng tiềm năng. Thế nhưng Nadal đã gây bất ngờ lớn khi giành chiến thắng, và là 1 trong 6 tay vợt đánh bại được Federer trong năm đó (cùng Tim Henman, Albert Costa, Gustavo Kuerten, Dominik HrbatýTomáš Berdych). Tuy nhiên đáng tiếc là sau đó anh lại bỏ lỡ hầu hết mùa giải sân đất nện vì chấn thương. Cũng trong năm này, Nadal trở thành tay vợt trẻ nhất trong lịch sử giành chiến thắng trong một trận đánh đơn tại chung kết Davis Cup. Anh đã đánh bại tay vợt số 2 thế giới là Andy Roddick để mang về chức vô địch cho đội tuyển Tây Ban Nha.[17] Cuối mùa giải này, anh xếp thứ 51 thế giới.

2005[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là một năm đánh dấu sự tiến bộ vượt bậc của Nadal. Tại Úc Mở Rộng, anh vào đến vòng 4 và buộc Lleyton Hewitt, á quân lần đó, đấu với mình những 5 ván. Hai tháng sau, anh vào đến trận chung kết Miami Masters - mặc dù chỉ thiếu 2 điểm nữa là đoạt chức vô địch – nhưng đó là thất bại trong 5 ván với tay vợt số 1 thế giới Roger Federer.

Tiếp đó, Nadal thống trị mùa giải đất nện. Tay vợt người Tây Ban Nha đã giành 24 trận thắng liên tiếp trên sân đất nện và đó là chuỗi trận thắng dài nhất của một tay vợt tuổi "teen", trên cả 23 trận của Andre Agassi năm 1988. Anh giành chiến thắng tại 2 sự kiện ATP Master Series của năm là Monte Carlo và Rome (đều đánh bại Guillermo Coria trong trận chung kết). Với thành tích này, vào tháng 5/2005, Nadal lọt vào top 5 tay vợt hàng đầu và được nhiều người đánh giá cao trước khi bước vào Roland Garros.

Nadal tham dự giải Pháp Mở rộng, một trong những giải anh yêu thích nhất, lần đầu tiên trong đời. Anh đã đánh bại Sebastien GrosjeanRichard Gasquet, hai niềm hi vọng của người Pháp. Vào ngày sinh nhật thứ 19 của mình, anh đánh bại Roger Federer trong trận bán kết, ngăn không cho tay vợt người Thụy Sĩ giành giải Grand Slam này. Hai ngày sau, anh trở thành nhà vô địch Pháp Mở rộng trẻ thứ 4 trong lịch sử sau khi thắng Mariano Puerta trong trận chung kết, trở thành tay vợt thứ hai sau Mats Wilander giành thắng lợi tại đây ngay từ lần tham gia đầu tiên. Nadal là tay vợt vị thành niên đầu tiên thắng một Grand Slam từ năm 1990 khi Pete Sampras thắng giải Mỹ Mở rộng, và cũng là tay vợt vị thành niên đầu tiên có ít nhất 6 danh hiệu, kể từ khi Andre Agassi làm được điều này vào năm 1988, lúc 18 tuổi.

Ba ngày sau khi đăng quang, chuỗi bất bại của anh bị chặn đứng khi để thua tay vợt Đức Alexander Waske tại vòng 1 giải Halle ở Đức (sân cỏ). Anh lại một lần nữa phải thất vọng khi dừng bước tại vòng 2 giải Wimbledon, để thua Gilles Muller đến từ Luxembourg.

Nadal khởi đầu mùa giải trên mặt sân cứng bằng việc đánh bại Andre Agassi tại chung kết Canada Masters. Sau đó anh được xếp hạt giống ở Mỹ Mở rộng, nhưng đã để thua James Blake trong 4 ván tại vòng 3. Sau đó, anh còn giành thêm 2 danh hiệu trên mặt sân đất nện. Tháng 9, anh đánh bại Guillermo Coria tại giải Trung Quốc Mở rộng. Tháng 10, anh giành Madrid Masters sau khi đánh bại Ivan Ljubičić.

Sau đó, Nadal bị chấn thương bàn chân nên không tham dự được giải Tennis Masters Cup vào cuối năm và kéo sang đầu 2006, khiến anh phải bỏ luôn giải Úc Mở rộng.

Tổng kết, anh giành được 11 danh hiệu ATP (trong đó có 4 Master Series), bằng tay vợt số 1 Roger Federer. Anh cũng giành 79 trận thắng, chỉ xếp sau 81 trận của Roger Federer. 8 danh hiệu của Nadal là trên mặt sân đất nện, còn lại là trên sân cứng. Nadal vươn lên thành tay vợt số 2 thế giới, và đương nhiên, giành giải Tay vợt tiến bộ nhất năm của ATP.

2006[sửa | sửa mã nguồn]

Nadal ôm cúp Vô địch Pháp Roland Garros 2006

Nadal bỏ lỡ giải Úc Mở rộng vì chấn thương chân. Tới tháng 2, anh để thua tại bán kết giải Open 13 ở Marseille. Sự ganh đua dữ dội giữa Nadal và Roger Federer tiếp tục ở năm 2006. Tháng 3, Nadal cho Federer nếm mùi thất bại đầu tiên trong năm tại chung kết giải Dubai (2-6, 6-4, 6-4). Nhưng ở các giải còn lại của mùa giải sân cứng mùa xuân thì anh không có thêm danh hiệu nào.

Ở mùa giải đất nện, Nadal giành chức vô địch ở tất cả các giải mà anh tham dự với thành tích 24 trận toàn thắng. Nadal đánh bại Federer thêm một lần nữa tại Monte Carlo Masters với tỉ số 6-2, 6-7, 6-3, 7-6. Tuần sau đó, anh hạ Tommy Robredo để giành giải ở Barcelona. Tiếp theo, Federer và Nadal lại chạm trán tại trận chung kết Rome Masters trên sân đất nện trong một trận đấu 5 set với phần thắng nghiêng về Nadal 6-7, 7-6, 6-4, 6-2, 7-6. Sau danh hiệu này thì anh đã cân bằng được thành tích của Björn Borg: vô địch 16 giải ATP khi vẫn còn là thiếu niên.

Chiến thắng tại vòng 1 ở Pháp Mở rộng, Nadal đã phá được kỷ lục 53 trận thắng liên tiếp trên mặt sân đất nện của huyền thoại người Argentina là Guillermo Vilas. Với thắng lợi này, Nadal được trao một chiếc cúp mang hình dáng của một sân đấu đất nện. Villas là người trao cúp cho Nadal, mặc dù anh không thừa nhận kỳ tích của Nadal là ấn tượng hơn của mình vì cho rằng thành tích của Nadal trải dài trên 2 năm và gồm cả nhiều trận ở các giải dễ dàng.[18] Trận chung kết Pháp Mở rộng được háo hức mong chờ, diễn ra giữa Federer số 1 và Nadal số 2 thế giới. Đối với Federer, đây là danh hiệu còn thiếu duy nhất để anh hoàn thành Career Grand Slam. Còn với Nadal, là việc anh phải bảo vệ chức vô địch của mình, đồng thời duy trì ưu thế chạm trán giữa anh và Federer. Nadal dẫn 2-1 và rồi nắm quyền giao bóng để kết thúc trận đấu trong set 4. Nhưng rồi Federer bẻ được game đó và kéo trận đấu vào loạt tie-break. Nadal giành chiến thắng trong loạt tie-break và trở thành người đầu tiên đánh bại Federer tại một trận chung kết Grand Slam.[19] Trong bài phát biểu sau trận đấu, anh đã ca ngợi màn trình diễn của Federer, nhưng bị thông dịch sang tiếng Pháp nhầm, và mọi người tưởng rằng anh đang ca ngợi bản thân mình. Vì vậy trong suốt phần còn lại của bài phát biểu, anh bị đám đông huýt sáo chế giễu.

Ở mùa giải sân cỏ, Nadal thất bại trước Lleyton Hewitt tại giải đấu ở Queen's Club nhằm chuẩn bị cho Wimbledon. Tại Wimbledon, Nadal vượt qua huyền thoại Andre Agassi ở vòng 3, đó cũng là trận cuối cùng của Agassi ở Wimbledon. Nadal không để mất set nào trong 3 trận tiếp đó để tiến vào chung kết gặp Federer, người đã 3 năm liên tiếp vô địch. Anh là người Tây Ban Nha đầu tiên từ sau Manuel Santana vào năm 1966 lọt vào tới chung kết Wimbledon, nhưng Federer cuối cùng đã giành chiến thắng trong 4 set 6–0, 7–6(5), 6(2)–7, 6–3 để lần thứ 4 liên tiếp đăng quang.

Quay trở lại với sân cứng để chuẩn bị cho US Open, Nadal đã tham gia hai giải Masters Series là Rogers Cup ở Toronto và Western & Southern Financial Group Masters ở Cincinnati, Ohio, nhưng đều bị loại khá sớm. Ở giải Mỹ Mở rộng, Nadal được xếp hạt giống số 2, nhưng cuối cùng bị loại ở tứ kết dưới tay Mikhail Youzhny sau 4 set.

Nadal chỉ chơi thêm 3 giải nữa trong phần còn lại của năm. Ở Stockholm Open, anh gây sốc khi bị tay vợt hạng 690 thế giới là Joachim Johansson loại ở vòng 2. Tuần sau đó, Nadal thua Tomáš Berdych ở tứ kết giải Mutua Madrileña Masters ở Madrid. Lần đầu tiên đánh ở giải đấu tổng kết năm dành cho 8 tay vợt xuất sắc nhất (lúc đó gọi là Tennis Masters Cup), trong vòng bảng, Nadal thua James Blake nhưng thắng Nikolay DavydenkoRobredo để lọt vào bán kết. Tại đây anh để thua Federer 6–4, 7–5.

Nadal là tay vợt đầu tiên kể từ Andre Agassi vào các mùa 1994-1995 kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 2 hai lần liên tiếp.

2007[sửa | sửa mã nguồn]

Nadal trong trận chung kết Monte Carlo Masters 2007.

Nadal mở đầu năm 2007 bằng việc lọt đến bán kết giải Chennai Open, Ấn Độ. Tiếp sau đó, tại giải Sydney, anh đã bỏ cuộc trong trận đấu đầu tiên do chấn thương háng. Tại giải Úc Mở rộng, Nadal đánh bại Andy Murray, lọt đến vòng tứ kết, nhưng lại thua Fernado Gonzalez, á quân của giải. Sau Úc Mở rộng, Nadal tham gia thêm 3 giải sân cứng nữa. Anh vô địch ở Indian Wells Masters và bị loại ở tứ kết hai giải Dubai và Miami Masters.

Nadal giao bóng ở giải US Open 2007.

Trở lại mặt sân đất nện, Nadal đánh bại Roger Federer trong trận chung kết giải Monte Carlo Masters 6-4, 6-4. Đây là lần thứ 3 liên tiếp anh vô địch giải này, lần đầu tiên kể từ Illie Năstase vào năm 1971-1973. Nadal tiếp tục cú hat-trick khi thắng giải Open Seat ở Barcelona và giải Rome Masters. Đến Hamburg Masters, anh đã để thua Roger Federer 2-6, 6-2, 6-0. Trận thua này chấm dứt chuỗi 81 trận bất bại trên mặt sân đất nện của anh. Thành tích này là chuỗi trận bất bại dài nhất trên một mặt sân của một tay vợt nam trong kỷ nguyên mở rộng.

Tuy vậy, Nadal nhanh chóng trở lại ở Pháp Mở rộng và vượt qua chính Roger Federer trong trận chung kết để giành danh hiệu này lần thứ 3 liên tiếp. Với chiến thắng này, anh trở thành tay vợt đầu tiên giành 3 chức vô địch giải Pháp Mở rộng trong 3 năm liên tiếp kể từ sau Bjorn Borg (1978-1981).

Để chuẩn bị cho Wimbledon, anh đến thi đấu tại Queen’s Club và để thua Nicolas Mahut trong trận tứ kết. Tại Wimbledon, anh lần thứ hai trong đời lọt vào đến chung kết và lại tái đấu với Federer. Trên con đường đến chung kết, anh đã vượt qua Robin Soderling 6-4, 6-4, 6(7)-7, 4-6, 7-5 ở vòng 3 (trận đấu bị hoãn đi hoãn lại tới vài ngày vì trời mưa), Mikhail Youhzny 4-6, 3-6, 6-2, 6-2, 6-2 ở vòng 4, Tomáš Berdych 7-6(1), 6-4, 6-2 ở tứ kết, Novak Djokovic (bỏ cuộc) ở bán kết. Ở chung kết, Nadal để thua ván đầu 7-6(7), thắng ván hai 4-6. Sau đó, lại để thua trong loạt tie-break ở ván ba 7-6(3). Lúc đang dẫn trước 4-1 ở ván 4, anh đã phải rời khỏi sân một lúc để băng đầu gối, nhưng vẫn thắng ván này 6-2. Sang ván 5, ván quyết định, anh để thua 6-2.

Sau trận đấu này, tỉ số những lần đối đầu giữa Federer và Nadal đã là 5-8. Trên mặt sân đất nện, Nadal thắng 6 thua 1; sân cứng là 2-2; sân cỏ thua 2 trận và không thắng trận nào.

Tháng 7, Nadal giành thêm một danh hiệu đất nện nữa ở Mercedes Cup (Stuttgart), và đó cũng là danh hiệu cuối cùng của anh trong năm. Mùa giải sân cứng ở Bắc Mỹ của anh diễn ra không thật sự ấn tượng. Nadal bị loại ở bán kết Rogers Cup và vòng 1 Western & Southern Financial Group Masters (hai giải chuẩn bị cho giải Mỹ Mở rộng). Ở Mỹ Mở rộng, Nadal bị loại sớm khi thua người đồng hương David Ferrer ở vòng 4.

Sau một tháng nghỉ ngơi, Nadal tiếp tục ghi tên tham dự các giải Mutua Madrileña Masters ở Madrid và BNP Paribas Masters ở Paris, nhưng cả hai lần đều bị đánh bại bởi David Nalbandian ở tứ kết và chung kết. Ở giải đấu 8 tay vợt cuối năm, Nadal lọt vào bán kết nhưng thua khá chóng vành trước Federer 6–4, 6–1

Chấn thương trong trận chung kết Wimbledon đã hành hạ Nadal trong nửa cuối mùa giải. Có những tin đồn đó là do chấn thương chân vào năm 2005 đã gây nên những hậu quả kéo dài. Tuy nhiên sau đó Nadal đã bác bỏ thông tin này.[20] Anh lần thứ 3 liên tiếp kết thúc năm với vị trí số 2 thế giới.

Trận đấu trên các mặt sân[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 2 tháng 5 năm 2007, một trận đấu biểu diễn được tổ chức giữa hai tay vợt số 1 và số 2 thế giới tại đảo Majorca, trên một mặt sân độc nhất vô nhị: nửa sân là cỏ và nửa sân là đất nện. Sân thi đấu đặc biệt này tiêu tốn 1,63 triệu bảng và 19 ngày để xây dựng. Ở thời điểm đó, Federer là bá chủ trên mặt sân cỏ với 48 trận toàn thắng còn Nadal là vua sân đất nện với 72 trận toàn thắng. Nadal cuối cùng giành chiến thắng 7–5, 4–6, 7–6 (12–10).[21] Trong trận đấu, Federer giành được số điểm bằng nhau ở cả hai mặt sân, Nadal thì giành ít hơn Federer 7 điểm trên sân cỏ nhưng nhiều hơn 12 điểm trên sân đất nện.

2008[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải 2008 đánh dấu bước nhảy vọt của Nadal. Từ chỗ bị đánh giá là một tay vợt chỉ mạnh ở mặt sân đất nện, Nadal đã vươn lên để gặt hái được thành công ở mặt sân cỏ, vốn được xem là lãnh địa tuyệt đối của Federer nhiều năm qua. Qua đó anh cũng đã lần đầu tiên lật đổ được Federer để giành lấy ngôi vị số 1 thế giới.

Nadal đã khởi đầu mùa giải bằng việc tham dự giải Chennai mở rộng với tư cách là hạt giống số 1. Ở bán kết, anh đã loại người đồng hương Carlos Moya trong 3 giờ 54 phút với tỉ số là 6-7(3), 7-6(8), 7-6(1). Trận đấu này đã san bằng kỉ lục cho một trận đấu 3 set dài nhất trong lịch sử các giải đấu ATP mà trước đây được giữ bởi Andrei ChersakovAndrea Gaudenzi. Trong trận chung kết, anh đã thất bại trước Mikhail Youzhny 6-0, 6-1.

Tại Úc mở rộng, Nadal đã đánh bại Jarkko Nieminen trong trận tứ kết và qua đó lọt vào bán kết lần đầu tiên trong sự nghiệp. Anh đã thất bại trước đối thủ không được xếp hạt giống Jo-Wilfried Tsonga 6-2, 6-3, 6-2, mặc dù đã không để thua một set nào trong năm trận trước đó. Sau đó, Nadal vào tới chung kết giải Miami Masters (thua Nikolay Davydenko). Tại giải Rotterdam, Nadal đã để thua Andreas Seppi với tỉ số 3-6, 6-3, 6-4 ở vòng hai. Tại giải Dubai Tennis Championships, Nadal đã vào được tứ kết, và đã thua Andy Roddick 7-6, 6-2, tay vợt sau đó đã giành chức vô địch. Tại giải Pacific Life Open, Nadal, người đang bảo vệ chức vô địch của mình, đã bị Novak Djokovic đánh bại trong trận bán kết 6-2, 6-3, sau khi đã vượt qua được Jo-Wilfried TsongaJames Blake, đều cùng với ba set. Tuần tiếp theo, tại giải Sony Ericsson Open, Nadal đã thất bại trước Nikolay Davydenko trong trận chung kết, 6-4, 6-2.

Nadal ở giải Pháp Mở rộng 2008.

Ở mùa giải sân đất nện, Nadal khởi đầu bằng chức vô địch tại giải Monte Carlo Masters lần thứ tư liên tiếp, khi đánh bại Roger Federer, 7-5, 7-5. Cùng với giải đơn, anh cũng đã vô địch giải đôi cùng với người bạn đồng hương Tommy Robredo, 6-3, 6-3, 6-2. Qua đó, anh cũng là người thứ hai trong lịch sử đã vô địch cả nội dung đơn lẫn đôi trong một giải đấu Masters Series, người còn lại là Jim Courier tại giải Indian Wells năm 1991. Sau đó anh tiếp tục đà thắng lợi bằng chức vô địch một tuần sau đó, tại giải Barcelona, cũng là lần thứ tư liên tiếp. Tại giải Hamburg Masters, Nadal đã đánh bại Novak Djokovic 7-5, 2-6, 6-2 trong một trận đấu kéo dài hơn ba tiếng đồng hồ. Vào ngày 18 tháng 5, Nadal đã giành chức vô địch giải đấu này khi đánh bại Roger Federer 7-5, 6-7, 6-3, sau khi đã bị dẫn trước 5-1 ở set thứ nhất. Anh trở thành người thứ ba trong lịch sử giành được cả ba danh hiệu Masters Series trên sân đất nện: Monte Carlo, Hamburg, và Rome. Hai người còn lại là Gustavo KuertenMarcelo Rios.

Ở giải Pháp Mở rộng, Nadal lần lượt đánh bại Thomas Bellucci 7-5, 6-3, 6-1; Nicolas Devilder 6-4, 6-0, 6-1; Jarkko Nieminen 6-1, 6-3, 6-1. Sau đó anh đã lần lượt đánh bại hai tay vợt người đồng hương trong trận vòng 4 và tứ kết: Fernando Verdasco 6-1, 6-0, 6-2 và Nicolas Almagro 6-1, 6-1, 6-1. Anh mới chỉ thua 25 game cho đến thời điểm này, số game thấp nhất, tính đến trận tứ kết, trong một giải Grand Slam kể từ Kỉ nguyên Mở rộng, trung bình 5 game một trận. Ở trận bán kết, Nadal đã có được chiến thắng trước Novak Djokovic, 6-4, 6-2, 7-6(3), để giành quyền vào chung kết và gặp lại Roger Federer. Anh là người thứ 3 trong lịch sử (sau Bjorn BorgIvan Lendl) có mặt trong trận chung kết giải Pháp Mở rộng 4 lần liên tiếp. Nadal lần này giành chiến thắng khá dễ dàng trước Federer với tỉ số 6-1, 6-3, 6-0, qua đó san bằng kỉ lục của Bjorn Borg với 4 lần liên tiếp vô địch giải đấu này. Chung kết Pháp Mở rộng 2008 là trận đấu chênh lệch nhất giữa Federer và Nadal, với lần đầu tiên Federer phải nếm mùi một set trắng kể từ năm 1999.[22] Nadal cũng là người thứ 5 vô địch một giải Grand Slam mà không để thua một set nào, sau Bjorn Borg, Ken Rosewall, Ilie Nastase, và Roger Federer.[23] Mới chỉ có ba người khác đã từng vô địch một giải Grand Slam bốn lần liên tiếp trong Kỉ nguyên Mở rộng: Borg (Pháp mở rộng 1978-81 và Wimbledon 1976-80), Pete Sampras (Wimbledon 1997-2000); và Federer (Wimbledon 2003-2007 và US Open 2004-2008).

Federer và Nadal đối đầu nhau tại chung kết Wimbledon 2008.

Bắt đầu mùa giải sân cỏ ngắn ngủi, Nadal đã giành chức vô địch giải Queen's Club Championships, một giải đấu khởi động cho Wimbledon, sau khi giành chiến thắng trước Novak Djokovic 7-6(6), 7-5. Anh là người Tây Ban Nha đầu tiên vô địch Queen's Club, và là người thứ hai, sau Ilie Nastase, đã vô địch giải Pháp Mở rộng cùng với giải đấu này.

Sau đó, Nadal bắt đầu chiến dịch chinh phục giải đấu danh giá Wimbledon. Anh lần lượt vượt qua các đối thủ Andreas Beck 6-4, 6-4, 7-6(0); Ernests Gulbis 5-7, 6-2, 7-6(2), 6-3; Nicolas Kiefer 7-6(3), 6-2, 6-3. Đối thủ ở vòng 4 của anh là Mikhail Youzhny, người đã từng giành chiến thắng trước Nadal tại giải Chennai mở rộng. Tuy nhiên, lần này Nadal đã giành chiến thắng 6-3, 6-3, 6-1. Trong trận tứ kết, Nadal đối mặt với tay vợt số 1 nước Anh Andy Murray, và giành chiến thắng 6-3, 6-2, 6-4. Sau khi đánh bại tay vợt không được xếp hạt giống Rainer Schuettler 6-1, 7-6, 6-4, Nadal một lần nữa gặp tay vợt số một thế giới Roger Federer trong trận chung kết. Khác với hai lần trước, có một số nhà phân tích cho rằng lần này Nadal sẽ thắng. Cả hai chơi một trận chung kết tuyệt vời và cũng là trận chung kết dài nhất trong lịch sử Wimbledon (tính theo thời gian), kết thúc khi trời đã gần tối. Cuối cùng thì lần đầu tiên Nadal đã đánh bại được Federer trên mặt sân cỏ, 6-4, 6-4, 6-7(5), 6-7(8), 9-7 và giành được chức vô địch Wimbledon đầu tiên trong sự nghiệp. Qua đó anh cũng đã chấm dứt chuỗi 65 trận bất bại trên sân cỏ của Federer. Nadal trở thành người thứ hai (sau Bjorn Borg) giành được chức vô địch ở cả Wimbledon lẫn Pháp Mở rộng chỉ trong vòng một năm. Có những ý kiến cho rằng trận chung kết tuyệt vời giữa Nadal và Federer ngày hôm đó là trận tennis hay nhất trong lịch sử.[24]

Nadal sau đó vô địch giải Toronto Masters (Rogers Cup) và vào tới bán kết giải Cincinnati Masters. Djokovic là người chấm dứt chuỗi bất bại dài nhất của anh trên mọi mặt sân (32 trận). Vào ngày 18 tháng 8, Nadal chính thức vượt qua Federer để lần đầu tiên vươn tới ngôi vị số 1 thế giới. Anh trở thành người Tây Ban Nha thứ 3 từng giữ vị trí số 1 thế giới, cùng với Carlos Moya (1999) và Juan Carlos Ferrero (2003). Tiếp nối những thành công, ở Olympic Bắc Kinh 2008, Nadal vượt qua Novak Djokovic của Serbia và Fernando González của Chile để giành huy chương vàng nội dung tennis đơn nam.

Anh lần đầu tiên được xếp hạt giống số 1 trong một giải Grand Slam ở Mỹ Mở rộng 2008. Tại đây, Nadal đã bị Andy Murray đánh bại tại bán kết. Sau đó, mặc dù Nadal chỉ vào tới bán kết tại giải Master ở Madrid nhưng điều này cũng đủ giúp anh đảm bảo vị trí số 1 khi kết thúc năm. Hai tuần sau đó, anh vào tới tứ kết giải Master ở Paris và bỏ cuộc trước Nikolay Davydenko vì chấn thương. Sau đó anh tiếp tục bỏ cuộc tại giải đấu cuối năm là Tennis Masters Cup và trận chung kết Davis Cup.

2009[sửa | sửa mã nguồn]

Nadal trong trận chung kết Úc Mở rộng giành chiến thắng 7-5, 3-6, 7-6(3), 3-6, 6-2 trước Federer.

Nửa đầu năm 2009 tiếp nối phong độ đỉnh cao của Rafael Nadal, nhưng nửa năm sau đó thì anh phải vật lộn với những chấn thương, cuối cùng mất ngôi số 1 về lại tay Federer.

Nadal khởi đầu như mơ với chức vô địch Úc Mở rộng. Ở bán kết, anh giành chiến thắng nghẹt thở và đẹp mắt trước tay vợt đồng hương Fernando Verdasco 6-7(4), 6-4, 7-6(2), 6-7(1), 6-4 (đây là trận đấu dài nhất trong lịch sử Australian Open với 5h14’). Trong trận chung kết Nadal đánh bại Roger Federer sau 5 set với tỉ số các set 7-5, 3-6, 7-6(3), 3-6, 6-2 để lần đầu tiên vô địch Grand Slam trên mặt sân cứng. Sau trận chung kết này thì Federer đã bật khóc trong lễ trao giải và Nadal đã động viên anh. Nadal cũng trở thành người thứ 4 sau Jimmy Connors, Mats Wilander, và Andre Agassi, giành Grand Slam trên cả ba mặt sân (Federer cũng sẽ làm được điều tương tự vài tháng sau đó). Tiếp nối thành công, Nadal giành chức vô địch tại Indian Wells, nơi anh đánh bại Andy Murray 6-1, 6-2 trong trận chung kết. Ở giải Miami Masters, anh đã thua Juan Martín del Potro ở tứ kết.

Nadal bắt đầu mùa giải sân đất nện với chức vô địch tại Monte Carlo (chung kết thắng Djokovic 6-3, 2-6, 6-1), qua đó trở thành tay vợt đầu tiên thắng một giải trong khuôn khổ ATP Master Series 5 năm liên tục. Sau đó Nadal thắng giải ATP 500 tại Barcelona (đánh bại Ferrer 6-2, 7-5 trong trận chung kết). Ở Rome Masters, Nadal tiếp tục thắng Djokovic để đăng quang lần thứ 4 tại đây. Những chiến thắng như chẻ tre này đã giúp anh là người đầu tiên có mặt tại ATP World Tour Finals dành cho 8 tay vợt hàng đầu tại các giải ATP trong năm. Tại Madrid, một giải ATP 1000 khởi động cho Pháp mở rộng, trong trận bán kết thì anh và Novak Djokovic đã làm nên trận đấu 3 set dài nhất trong lịch sử, kết thúc với thắng lợi 3-6, 7-6(5), 7-6(9) sau 4h11’. Nhưng cũng từ đây, do lịch thi đấu dày đặc khiến Nadal tái phát chấn thương đầu gối, anh để thua Federer 6-4, 6-4 trong trận chung kết. Lần đầu tiên kể từ năm 2007, Rafael Nadal mới lại để thua Roger Federer.

Tại Pháp mở rộng anh bất ngờ để thua tay vợt Robin Söderling 6–2, 6–7 (2), 6–4, 7–6 (2) ngay tại vòng 4. Trận đấu này cũng đã chấm dứt chuỗi trận thắng kỷ lục 31 trận của Nadal ở Pháp Mở rộng, và cũng là lần đầu tiên Nadal phải nếm mùi thất bại tại đây. Với chấn thương ở cả hai đầu gối, Nadal không thể tham dự Wimbledon 2010,[25] qua đó đánh mất vị trí số 1 thế giới về tay Federer.

Giải đấu đầu tiên của Nadal khi trở lại sau chấn thương là Rogers Cup (thất bại ở tứ kết trước Juan Martín del Potro). Với thất bại này thì Nadal tiếp tục mất luôn vị trí thứ 2 về tay Andy Murray. Lần đầu tiên kể từ ngày 25 tháng 7 năm 2005, Nadal mới lại lọt ra khỏi Top 2 thế giới.

Ở Mỹ Mở rộng 2009, Nadal đã lọt vào đến bán kết trước khi một lần nữa để thua trước Juan Martín del Potro với tỷ số khá cách biệt là 2–6, 2–6, 2–6. Juan Martín del Potro sau đó đánh bại luôn Federer để giành ngôi vô địch. Mặc dù bại trận nhưng Nadal lấy lại được vị trí số 2 thế giới do Murray bị loại từ sớm. Tới tháng 10, anh còn lọt vào chung kết giải Thượng Hải 1000 nhưng lại để thua Nicolay Davydenko 7-6(3), 6-3. Tại ATP World Tour Finals, Nadal đã bị loại ngay từ vòng bảng sau 3 trận thua trước Soderling, Davydenko và Djokovic mà không thắng nổi set nào. Nadal kết thúc năm với vị trí số 2 thế giới.

2010[sửa | sửa mã nguồn]

2010 được xem là một năm hoàng kim trong sự nghiệp thi đấu của Nadal. Anh đã trở lại để giành lấy ngôi vị số 1 thế giới, và đáng chú ý hơn, hoàn tất Career Grand Slam (sưu tập 4 chức vô địch Grand Slam) và Career Golden Slam (4 chức vô địch Grand Slam và HCV Olympic).

Rafael Nadal ở giải Madrid.

Nadal đã khởi đầu năm 2010 một cách khá chậm chạp, anh đã để thua Nikolay Davydenko trong trận chung kết giải Qatar mở rộng trước khi bước vào chiến dịch bảo vệ chức vô địch Australian Open. Tuy nhiên Nadal đã bị chặn đứng ở tứ kết khi thất bại trước Andy Murray; khi tỷ số set 3 đang là 3-0 cho Murray thì Nadal phải xin dừng cuộc chơi vì chấn thương. Ngay sau đó anh tiếp tục thất bại tại 2 giải ATP World Tour 1000 tại Indian Wells và Miami, đều ở vòng bán kết (lần lượt trước Ivan LjubičićAndy Roddick, sau đó đều trở thành nhà vô địch). Nadal có lúc tụt xuống vị trí thứ 4 trên bảng xếp hạng ATP.

Nhưng rồi khi bước vào mùa giải đất nện, Rafa đã trở lại mạnh mẽ, anh chấm dứt 11 tháng không danh hiệu bằng thắng lợi tại Monte Carlo sau khi hạ gục người đồng hương Fernando Verdasco trong trận chung kết với tỷ số 6-0, 6-1; nước mắt đã rơi sau 11 tháng không danh hiệu nối dài với các chấn thương. Nadal trở thành tay vợt đầu tiên vô địch liên tiếp 6 lần trong một giải đấu, điều mà chưa tay vợt nào làm được.[26] Ngay sau chức vô địch lần thứ 6 liên tiếp tại Monte Carlo, Nadal tiếp tục gặt hái thêm thành công khi vô địch giải ATP World Tour 1000 ở Rome sau khi hạ David Ferrer 7-5, 6-2 qua đó cân bằng kỉ lục 17 lần đoạt danh hiệu ATP World Tour 1000 (còn gọi là ATP Master Series) của Andre Agassi. Sau khi vô địch ở Rome, Nadal đã quyết định không tham dự giải quần vợt Barcelona, nơi anh đang có 5 lần liên tiếp vô địch, để tập trung cho Madrid Master và Roland Garros. Nadal bước vào Madrid Master với kì vọng đánh đổ kỉ lục của Agassi và trả món nợ với Federer trong trận chung kết năm 2009, và anh đã làm rất tốt khi hạ chính Federer trong trận chung kết với tỷ số 6-4, 7-6(5). Nadal chính thức trở thành ông vua của các giải Master Series với 18 lần vô địch, hơn Agassi (17 lần) và Federer (16 lần).

Với 3 chức vô địch ATP 1000 liên tiếp trên mặt sân đất nện, Nadal hướng tới Pháp Mở rộng với mục tiêu đòi lại chức vô địch từ tay Roger Federer và để khẳng định danh hiệu "Vua đất nện" của mình. Với quyết tâm rất cao Nadal đã đi thẳng một mạch tới trận chung kết và tái ngộ lại Robin Soderling, người đã hạ gục anh tại vòng 4 năm ngoái. Nếu đánh bại Soderling trong trận chung kết, Nadal cũng sẽ chính thức giành lại ngôi vị số 1 của làng banh nỉ từ tay Federer sau khi tay vợt này đã gục ngã trước chính Soderling tại tứ kết. Ngày 6 tháng 6 năm 2010, Nadal đã giành chiến thắng trước Robin Soderling trong trận chung kết với tỷ số 6-4, 6-2, 6-4 để lần thứ 5 đứng lên bục cao nhất tại Roland Garros qua 6 năm. Lần thứ hai sau năm 2008, Nadal lại vô địch Roland Garros mà không thua một set đấu nào (thậm chí là không phải đối mặt với một set point nào). Nadal đã trở lại vị trí số 1 trên bảng xếp hạng của ATP được công bố ngay sau đó, điều này đã ngăn Federer lập kỷ lục mọi thời đại về số tuần giữ ngôi số 1 thế giới (chỉ còn đúng 1 tuần nữa là thiết lập được).[27] Thành tích vô địch 3 giải Master đất nện cộng thêm Pháp Mở rộng của Nadal được các nhà bình luận gọi là "Clay Slam".

Rafael Nadal ở Wimbledon 2010.

Nadal trở lại với các sân cỏ sau khi hoàn toàn không chơi trên mặt sân này suốt 1 năm vừa qua. Tại giải đấu chuẩn bị cho Wimbledon ở Queen's Club, Nadal dừng bước ở tứ kết trước Feliciano López 6–7(5), 4–6. Sau đó anh tham gia Wimbledon và đánh bại Kei Nishikori 6–2, 6–4, 6–4 ở vòng 1 và Robin Haase 5–7, 6–2, 3–6, 6–0, 6–3 ở vòng 2. Sau trận đấu khó khăn kéo dài 5 set 6–4, 4–6, 6–7, 6–2, 6–3 trước Philipp Petzschner ở vòng 3, có một sự kiện thú vị là Nadal đã bị phạt 2000 bảng khi ban tổ chức cho rằng chú của anh là Toni Nadal đã có những chỉ đạo chiến thuật từ trên khán đài.[28] Sau đó anh tiếp tục vượt qua Paul-Henri Mathieu ở vòng 4 và Robin Soderling ở tứ kết để gặp niềm hy vọng số một của nước chủ nhà là Andy Murray ở bán kết. Nadal đánh bại Murray 6–4, 7–6(8–6), 6–4. Trong trận chung kết, Nadal đối mặt với Tomas Berdych, người đã bất ngờ loại đương kim vô địch Federer ở tứ kết. Thế nhưng hạt giống số 12 đã không thể tiếp tục gây sốc trước Nadal. Trận đấu chỉ kéo dài trong 2 tiếng 13 phút, với kết quả 6-3, 7-5, 6-4 thuộc về ông hoàng Nadal. Chiến thắng đầy thuyết phục này đã đem về cho anh danh hiệu Grand Slam thứ 8 trong sự nghiệp thi đấu.

Chuyển qua mùa giải sân cứng, như thường lệ, Nadal tham dự hai giải khởi động cho US Open là Rogers Cup và Cincinnati Masters. Ở Rogers Cup, Nadal đã gác vợt trước Andy Murray với tỷ số 6–3, 6–4 tại bán kết. Ở Cincinnati Masters, Marcos Baghdatis đã đánh bại Nadal ở tứ kết.

Ở Mỹ Mở rộng 2010, hạt giống số 1 Rafael Nadal đã thi đấu một cách hoàn hảo với sự nỗ lực đáng kể trong cú giao bóng, vốn luôn bị xem là điểm yếu của anh. Nadal đã lần lượt đánh bại Teymuraz Gabashvili, Denis Istomin, Gilles Simon, Feliciano Lopez, Fernando Verdasco, và Mikhail Youzhny mà không để mất set nào trước khi đối mặt với Djokovic ở chung kết. Ngày 14/9/2010 là ngày đi vào sự nghiệp quần vợt của "Ông vua sân đất nện". Với chiến thắng trong trận chung kết kéo dài 3h43' trước Novak Djokovic với tỷ số 6-4, 5-7, 6-4, 6-2, Nadal đã giành được Grand Slam thứ 3 liên tiếp trong cùng năm, sau Roland Garros và Wimbledon, lần đầu tiên vô địch giải Mỹ Mở rộng và trở thành người thứ 7 trong lịch sử quần vợt hoàn tất được Career Grand Slam. Nadal đã được vinh danh trong ngôi đền cùng 6 huyền thoại là Fred Perry, Don Budge, Rod Laver, Roy Emerson, Andre Agassi, và Roger Federer. Ở tuổi 24, anh cũng là người trẻ tuổi nhất trong Kỷ nguyên Mở rộng làm được điều này. Cùng với Agassi, anh là một trong hai tay vợt có được Career Golden Slam (4 chức vô địch Grand Slam và HCV Olympic).[29]

Rafael Nadal giành chức vô địch Mỹ Mở rộng 2010 để hoàn tất Career Grand Slam.

Chiến thắng ở US Open cũng giúp Nadal có được đủ điểm để chính thức đảm bảo việc sẽ kết thúc năm 2010 với vị trí số một trên bảng xếp hạng ATP.[30] Sau US Open, Nadal tham gia vào 3 giải đấu ở châu Á, bao gồm PTT Thailand Open (vào tới bán kết trước khi để thua người đồng hương Guillermo Garcia-Lopez), Rakuten Japan Open Tennis Championships ở Tokyo (vô địch sau khi hạ Gael Monfils 6-1, 7-5) và Thượng Hải Masters (thua tay vợt hạng 12 thế giới là Jurgen Melzer ở vòng 3). Vào ngày 5 tháng 11, Nadal thông báo do chấn thương nên anh sẽ rút lui khỏi Paris Masters, giải Master cuối cùng trong năm.[31]

Ở giải đấu cuối cùng trong năm là ATP World Tour Finals (dành cho 8 tay vợt có thứ hạng cao nhất trên bảng xếp hạng ATP), Nadal nằm chung bảng với Novak Djokovic, Thomas Berdych và Andy Roddick. Anh đã giành quyền vào bán kết sau khi toàn thắng 3 trận vòng bảng trước Roddick (3-6, 7-6(5), 6-4), Djokovic (7–5, 6–2) và Berdych (7-6(3), 6-1). Ở bán kết, anh tiếp tục vượt qua tay vợt nước chủ nhà là Murray với tỷ số 7-6(5), 3-6, 7-6(6) để lần đầu tiên lọt vào chung kết ATP World Tour Finals. Thế nhưng ở trận chung kết thì Federer đã đánh bại Nadal với tỷ số 6–3, 3–6, 6–1. Mặc dù đang có vị thế của tay vợt số một thế giới nhưng Nadal phát biểu khá khiêm tốn sau thất bại: "Chiều nay tôi đã cố gắng hết sức mình, nhưng Roger đơn giản là đã chơi tốt hơn tôi."[32]

2011[sửa | sửa mã nguồn]

Nadal bắt đầu năm 2011 bằng việc vô địch giải đấu biểu diễn ở Abu Dhabi sau khi đánh bại Federer 7–6(4), 7–6(3) trong trận chung kết. Ở giải Qatar ExxonMobil Open ATP 250, anh vào tới bán kết trước khi để thua Nikolay Davydenko 3-6, 2-6.

Tại giải Úc Mở rộng, Nadal hướng tới việc vô địch Grand Slam thứ tư liên tiếp (bốn chức vô địch liên tục này sẽ được giới truyền thông gọi là "Rafa Slam"). Tuy nhiên anh đã không làm được chuyện đó. Mặc dù có khởi đầu khá ấn tượng là không thua set nào trong bốn trận đấu đầu tiên nhưng ở tứ kết thì Nadal đã chấn thương gân khoeo và để thua dễ dàng trước người đồng hương David Ferrer 4–6, 2–6, 3–6.[33]

Ngày 7/2/2011, Nadal vinh dự được nhận giải thưởng Laureus World Sportsman of the Year lần đầu tiên trong sự nghiệp. Để đứng trên bục cao nhất, anh đã vượt qua một loạt những tên tuổi lớn của làng thể thao như Lionel Messi, Sebastian Vettel, Andres Iniesta, Kobe BryantManny Pacquiao.

Sau một tháng dưỡng thương thì Nadal trở lại vào tháng 3 và giúp đội Tây Ban Nha đánh bại Bỉ trong trận đấu thuộc khuôn khổ Davis Cup. Tiếp sau đó anh tham gia hai giải Masters 1000 là BNP Paribas Open tại Indian Wells và Sony Ericsson Open tại Miami. Nadal lần lượt vượt qua Juan Martin del Potro và Roger Federer tại 2 trận bán kết. Tuy vậy anh đã chịu thúc thủ trước Djokovic ở cả 2 trận chung kết với các tỷ số là 6-4, 3-6, 2-6 và 6-4, 3-6, 6(3)-7.

Bắt đầu mùa giải đất nện, Nadal tham dự Monte Carlo Masters. Anh lần lượt vượt qua lão tướng Ivan Ljubicic ở tứ kết và Andy Murray ở bán kết trước khi đánh bại David Ferrer 6-4, 7-5 tại trận chung kết, qua đó bảo vệ thành công danh hiệu vô địch và trở thành người đầu tiên đoạt một danh hiệu trong khuôn khổ ATP 7 năm liên tục. Sau Monte Carlo, Nadal trở lại với Barcelona Open, giải đấu mà anh đã 5 lần thống trị (2005-2009) trước khi không tham dự vào năm ngoái. Trong trận chung kết, Nadal một lần nữa vượt qua David Ferrer với tỉ số 6-2, 6-4 để có chức vô địch thứ hai trong năm. Chiến thắng trước tay vợt Ivan Dodig ở bán kết Barcelona Open cũng đánh dấu trận thắng thứ 500 trong khuôn khổ các giải ATP của Nadal, và anh là người trẻ thứ hai trong lịch sử đạt tới cột mốc này, chỉ sau có huyền thoại Bjorn Borg.[34]

Ở Madrid Masters, Nadal một lần nữa đánh bại Federer để vào tới trận chung kết và cũng lại để thua 7-5, 6-4 trước Djokovic. Đây đã là trận thua thứ 3 liên tiếp của Nadal trước Djokovic, và sau trận đấu Nadal đã khẳng định rằng anh không còn cơ hội bảo vệ ngôi số 1 của mình trước tay vợt người Serbia. Một tuần sau đó, Nadal tiếp tục bại trận 6-4, 6-4 trước Djokovic tại chung kết Rome Masters. Đó cũng là lần đầu tiên Nadal để thua hai trận chung kết trên mặt sân đất nện trong cùng một mùa giải.

Tại Roland Garros (Pháp Mở rộng), giải Grand Slam thứ hai trong năm, Nadal khởi đầu cực kỳ chật vật bằng chiến thắng 6-4, 6(2)-7, 6(2)-7, 6-2, 6-4 trước John Isner. Trận đấu này cũng là lần đầu tiên ở Pháp Mở rộng mà Nadal phải thi đấu tới 5 set mới có thể giành thắng lợi. Sau đó anh lần lượt vượt qua Pablo Andujar 7-5, 6-3, 7-6(4), Antonio Veic 6-1, 6-3, 6-0, và Ivan Ljubicic 7-5, 6-3, 6-3 ở 3 vòng đấu tiếp theo. Tại tứ kết, Nadal giành chiến thắng 6-4, 6-1, 7-6(3) trước Robin Soderling, tay vợt đã thua anh trong trận chung kết năm ngoái. Nadal tiếp tục vượt qua Andy Murray 6-4, 7-5, 6-4 tại bán kết để đối mặt với Roger Federer trong trận đấu cuối cùng. Tại trận chung kết, Nadal đánh bại Federer với tỉ số 7-5, 7-6(3), 5-7, 6-1 để bảo vệ thành công danh hiệu vô địch. Với chiến thắng này thì Nadal cũng đã cân bằng được kỷ lục 6 lần vô địch Roland Garros của Bjorn Borg. Tổng cộng anh đã có 10 danh hiệu Grand Slam, và là người trẻ tuổi thứ hai trong lịch sử đạt tới cột mốc này (sau Bjorn Borg). Ngoài ra, do Djokovic đã để thua trước Federer ở bán kết nên Nadal vẫn tạm thời bảo vệ được ngôi vị số 1 thế giới sau giải đấu.

Nadal tham dự giải Queen's Club và vào đến tứ kết trước khi bị Tsonga đánh bại. Ở Wimbledon, anh lần lượt vượt qua Michael Russell, Ryan Sweeting, và Gilles Müller để tiến vào vòng 4. Tại đây anh đã đánh bại Juan Martin del Potro 7-6(6), 3-6, 7-6(4), 6-4 dù gặp phải một chấn thương ở gót chân trong set đầu. Ở tứ kết, Nadal hạ Mardy Fish 6-3, 6-3, 5-7, 6-4. Anh tiếp tục đánh bại Andy Murray trong trận bán kết với tỉ số 5-7, 6-2, 6-2, 6-4. Trong trận chung kết Nadal đã để thua Novak Djokovic với tỉ số 6-4, 6-1, 1-6, 6-3, qua đó đánh mất ngôi vị số 1 thế giới vào tay tay vợt người Serbia.

Trở lại sau kỳ nghỉ ngắn ngày, Nadal không đạt phong độ cao tại hai giải Masters 1000 khi bị đánh bại bởi Ivan Dodig ngay tại vòng 2 Rogers Cup và bị Mardy Fish loại ở tứ kết Cincinnati Masters. Tuy nhiên ở giải Mỹ mở rộng thì Nadal đã đạt phong độ thuyết phục và lần lượt chiến thắng Andrey Golubev 6-3, 7-6, 7-5, Nicolas Mahut 6-2, 6-2 (bỏ cuộc), David Nalbandian 7-6, 6-1, 7-5, Gilles Müller 7-6, 6-1, 6-2. Có một sự kiện nhỏ là sau trận đấu với Nalbandian thì Nadal đã té khỏi ghế trong cuộc họp báo vì bị chuột rút nặng.[35] Ở tứ kết anh vượt qua Andy Roddick 6-2, 6-2, 6-3, và sau đó là chiến thắng 6-4, 6-2, 3-6, 6-2 trước Andy Murray ở bán kết. Tuy nhiên ở trận chung kết thì Nadal đã không thể bảo vệ chức vô địch trước chướng ngại vật lớn nhất của anh từ đầu năm là Novak Djokovic, với tỉ số bốn set lần lượt là 2-6, 4-6, 7-6(3), 1-6.

Ngay sau giải Mỹ Mở rộng, Nadal quay trở về Cordoba để giúp đội tuyển Tây Ban Nha vượt qua đội Pháp tại bán kết Davis Cup. Anh đã giành chiến thắng trong cả hai trận đánh đơn trước Richard GasquetJo-Wilfried Tsonga.

Ở giải Nhật Bản Mở rộng, Nadal đã lọt vào chung kết và gặp tay vợt số 4 thế giới Andy Murray nhưng anh đã để thua với tỉ số 6-3, 2-6, 0-6 trước tay vợt người Scotland. Sau đó, anh tham dự giải Thượng Hải Masters, nhưng để thua Florian Mayer 6-7(5), 3-6. Thất bại này đã khiến Nadal chính thức không thể đòi lại vị tri số 1 thế giới của Novak Djokovic trong năm 2011.

Không góp mặt tại Paris Masters vì chấn thương, Nadal tới London tham dự ATP World Tour Finals. Mặc dù có thắng lợi trước Mardy Fish nhưng sau đó Nadal đã bị loại từ vòng bảng sau hai trận thua trước Roger Federer (3–6, 0–6) và Jo-Wilfried Tsonga (6–7, 6–4, 3–6)

Trong trận chung kết Davis Cup vào đầu tháng 12 giữa hai đội Tây Ban Nha và Argentina, Nadal giành thắng lợi chóng vánh 6-1, 6-1, 6-2 trước Juan Monaco trong trận mở màn. Khi tỷ số đang là 2-1 nghiêng về phía đội Tây Ban Nha sau hai ngày thi đấu đầu tiên, Nadal đã chiến thắng Juan Martin del Potro với tỷ số 1-6, 6-4, 6-1, 7-6(0) để giúp đội nhà lần thứ năm đoạt chức vô địch Davis Cup, và là lần thứ ba trong bốn năm qua.

2012[sửa | sửa mã nguồn]

Nadal bắt đầu mùa giải tại ATP Doha, nhưng anh đã bất ngờ dừng bước tại bán kết trước Gael Molfils trong 2 set. Sau đó không lâu, tại Úc mở rộng. Nadal đã thẳng tiến vào trận chung kết để gặp Djokovic. Anh đã thua trong 5 sét với tổng thời gian thi đấu là 5 giờ 53 phút. Trận đấu tuy đã lập kỷ lục là trận chung kết Grand Slam kéo dài nhất nhưng đây là thất bại thứ 7 liên tiếp trước Djokovic trong các trận chung kết[36]. Tại Indian Wells và Miami Nadal thi đấu không mấy thành công, đều dừng lại tại vòng bán kết vì đầu gối tái phát chấn thương.

Bắt đầu mùa đất nện, Nadal phải bảo vệ danh hiệu tại Monte Carlo Masters. Trong trận chung kết lại đối đầu với Djokovic. Nhưng lần này Nadal đã giành thắng lợi để kết thúc chuỗi 7 trận toàn thua trước đó khi gặp Djokovic. Đây cũng là danh thứ 8 liên tiếp tại Monte Carlo của anh. Nadal tiếp tục có được danh hiệu thứ 7 tại Barcelona nhưng lại bất ngờ gục ngã trước Verdasco tại vòng 3 giải Master Madrid. Sau đó tại chung kết Rome Masters, Nadal giành thắng lợi trước Djokovic để có được danh hiệu thứ 6 tại đây sau 7 trận chung kết.

Tại Pháp mở rộng, Nadal dễ dàng lọt vào chung kết để tranh đấu với tay vợt số 1 thế giới Novak Djokovic. Đây là trận chung kết grand slam thứ 4 liên tiếp giữa 2 người. Kết quả Nadal thắng lợi sau 4 set để xác lập kỷ lục mới 7 lần vô địch Pháp mở rộng[37].

Sau thành công tại Paris, Nadal bước vào mùa sân cỏ với bao hi vọng. Thế nhưng anh lại gây sốc khi thất bại tại tứ kết giải Halle trước Philipp Kohlschreiber rồi gục ngã ngay tại vòng 2 Wimbledon trước Rosol sau 5 set.

Sau khi bị loại khỏi Wimbledon, Nadal đi kiểm tra y tế và phát hiện ra đầu gối tái phát chấn thương nghiêm trọng.

Chấn thương lần này, đã làm Nadal không thể bảo vệ được huy chương vàng Olympic và cũng không kịp hồi phục để tham dự các giải đấu còn lại trong năm như Roger Cup, Cincinnati, đặc biệt là US Open và ATP World Tour Finals. Kết thúc năm 2012 Nadal rớt xuống vị trí thứ 4 của bảng xếp hạng ATP.

2013[sửa | sửa mã nguồn]

2013 là một mùa giải không tưởng của Nadal. Anh đã trở lại sau chấn thương và giành lại vị trí số 1 thế giới cùng rất nhiều các danh hiệu khác, trong đó có 2 danh hiệu vô địch Grand Slam lại Pháp mở rộng và Mỹ mở rộng.

Hai tuần trước khi tham gia giải Úc mở rộng, Nadal đã rút khỏi giải đấu vì bị virus dạ dày, anh rơi xuống vị trí thứ 4 trên bảng xếp hạng ATP lần đầu tiên kể từ năm 2005.

Tham gia giải đấu đầu tiên của mình ở Nam Mỹ kể từ năm 2005, Nadal trở lại ở series Golden Swing của khu vực Nam Mỹ, bắt đầu mùa giải 2013 ở giải ATP Tour 250 tại Viña del Mar, Chile mở rộng, anh tiến tới trận chung kết mà không thua một set nào, nhưng đã bị đánh bại bởi tay vợt số 73 thế giới Horacio Zeballos.

Cũng tại giải sân cát Viña del Mar anh ta đã tham dự đánh đơn lẫn đánh đôi và trong cả 2 giải này đã được vào vòng chung kết. Ở giải đánh đôi anh đã chơi cùng với tay vợt người Argentina Juan Mónaco. Đến giải giải ATP Tour 250 tại São Paulo, Bra-xin mở rộng, vào ngày 17 tháng hai Nadal đã thắng tay vợt người Argentina David Nalbandian trong trận chung kết. Đây là chức vô địch đầu tiên Nadal đoạt được sau giải Pháp mở rộng năm 2012 và cũng là chức vô địch đầu tiên của anh trong năm 2013. Và giải ATP Tour 500 tại Acapulco, México mở rộng anh cũng giành chức vô địch sau khi thắng tay vợt đồng hương David Ferrer của Tây Ban Nha. Anh còn vô địch Indian Wells Masters. Một sự chuẩn bị rất kỹ càng cho mùa đất nện 2013. Nơi mà Nadal sẽ phải bảo vệ số điểm khổng lồ khi năm 2012 anh vô địch Monte Carlo Masters, Rome Masters và cả Roland Garros.

Ở giải Monte Carlo 2013 Nadal vào chung kết và gặp kỳ phùng địch thủ Djokovic với hy vọng sẽ lập nên kỷ lục 9 lần vô địch liên tiếp tại giải đấu này. Trong khi đó Djokovic là người duy nhất mà làng banh nỉ có thể hi vọng chặn đứng Nadal. Kết quả Novak Djokovic đã giành chiến thắng thuyết phục sau hai set.

Tưởng như sau thất bại này Nadal sẽ gục ngã. Nhưng bằng 1 phong độ chói sáng và tinh thần thi đấu kiên cường RAFA đã chinh phục liên tiếp các giải Barcelona Open, Mutua Madrid Open, RomeRoland Garros. Trong đó đáng chú ý nhất là bán kết Roland Garros 2013: Nadal đã vượt qua Djokovic trong 1 trận đấu nghẹt thở sau 5 set.

Sau đó Nadal đã thua ở vòng 1 Wimbledon trong vòng 3 set đấu trước tay vợt không được xếp hạng hạt giống người Bỉ Steve Darcis(hạng 135 thế giới). Đây là lần thứ hai liên tiếp anh không thể vào đến vòng 3 của Wimbledon và cũng là lần đầu tiên anh bị loại ở vòng đấu đầu tiên của một giải Grand Slam. Nadal lại tiếp tục thăng hoa ở các giải đấu chuẩn bị cho Grand Slam cuối cùng của năm 2013 tại Rogers Cup, Cincinnati Masters và lấy lại vị trí thứ 2 từ Murray, thiết lập kỷ lục 5 masters 1000 trong 1 năm ngang bằng với Djokovic.

Tại giải Mỹ mở rộng, Nadal tiếp tục thể hiện phong độ tuyệt vời trên mặt sân cứng khi lần lượt vượt qua các đối thủ, trước trận chung kết gặp Djokovic, Nadal chỉ để thua 1 set duy nhất trước tay vợt người Đức Philipp Kohlschreiber tại vòng 4. Trong vòng tứ kết cũng như bán kết, Nadal đều dễ dàng khuất phục Tommy Robredo cũng như Richard Gasquet để đi đến trận chung kết cũng Novak Djokovic, tay vợt đã vượt qua Stanislas Wawrinka ở trận bán kết sau 5 set đấu. Trong trận chung kết, Nadal đã giành chiến thắng 3-1 trước Djokovic (6-2, 3-6, 6-4, 6-1) để giành chức vô địch Grand Slam lần thứ 13 trong sự nghiệp. Đây cũng là lần thứ hai anh vô địch US Open, lần đầu tiên vào năm 2010.

Sau giải Mỹ mở rộng, Nadal tham dự giải ATP Tour 500 tại Beijing, Trung Quốc với hi vọng giành lại ngôi vị số 1 thế giới. Kết quả Nadal thất bại trong trận chung kết trước Djokovic với tỷ số 3-6, 4-6, nhưng đã đủ điểm vươn lên số 1 ATP kể từ ngày 7/10/2013. Giải Masters thứ 8 trong năm Shanghai Masters tại Thượng Hải, Trung Quốc, Nadal dừng bước tại vòng bán kết trước tay vợt người Argentina: Juan Martín del Potro. Master cuối cùng trong năm, tại Paris, Nadal bất ngờ thất thủ trước tay vợt đồng hương David Ferrer, cũng tại vòng bán kết. Tại ATP world tour finals, Nadal đã xuất sắc lọt vọt vào trận chung kết gặp Djokovic, tuy nhiên thêm 1 lần nữa anh lại lỗi hẹn với danh hiệu này khi thất bại sau 2 set. Nadal cũng không quá buồn khi anh đã có một mùa giải 2013 rất thành công và kết thúc năm với vị trí số 1 thế giới.

2014[sửa | sửa mã nguồn]

Tại giải đầu tiên của năm, Nadal đã có danh hiệu tại Qatar lần đầu tiên trong sự nghiệp, sau khi đánh bại Gael Monfils trong trận chung kết trong 3 set(6-1,6-7,6-2).

Giải grand slam đầu tiên trong năm Úc mở rộng, Nadal đã vào đến trận chung kết. Nhưng rất tiếc đã thất bại trước một Stanislas Wawarinka đang có phong độ đỉnh cao.

Sau vài tuần nghĩ nghơi và đang trong quá trình phục hồi cái lưng đau trong trận chung kết Úc mở rộng, Nadal vẫn tham dự giải đấu ATP 500 lần đầu tiên tổ chức tại RIO Brazil. Kết quả Nadal đã vô địch để có được danh hiệu thứ 62 sự nghiệp, sau khi đánh bại Dolgopolov tại chung kết.

Tham dự Master series đầu tiên trong năm ở Indian Wells Masters, Nadal có nhiệm vụ phải bảo vệ danh hiệu vô địch nhưng rơi vào nhánh đấu vô cùng khó khăn nên đã bị loại ngay vòng 3 bởi Dolgobolov. Giải Master tiếp theo tại Miami, Hoa Kỳ. Nadal lọt vào chung kết gặp Djokovic nhưng lại thất bại chóng vánh sau 2 set. Vậy là Nadal vẫn chưa thể có được danh hiệu tại Miami sau 4 lần vào chung kết.

Bắt đầu mùa giải đất nện, Nadal lại tiếp tục thi đấu thất vọng khi thất bại ở tứ kết ở cả 2 giải đấu ưa thích là Monte Carlo và Barcelona. Sau đó, Nadal đã vô địch ở giải đấu Madrid Open sau khi Kei Nishikori đã bỏ cuộc ở set thứ 3. Tại giảm Rome Master, Nadal vào chung kết lại gặp Djokovic và đã thua đại kình địch trong 3 set. Báo hiệu ngai vàng tại Roland Garros lung lay hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, ngày 8 tháng 6 năm 2014, Nadal đã đánh bại Djokovic trong trận chung kết đơn Nam của Pháp Mở rộng để giành danh hiệu thứ 9 và cũng là danh hiệu thứ 5 liên tiếp tại Roland Garros sau chiến thắng (3-6, 7-5, 6-2, 6-4). Với chức vô địch tại Roland Garros, Nadal đã cân bằng thành tích vô địch Grand Slam 14 lần của huyền thoại Pete Sampras, đứng thứ 2 sau tay vợt người Thụy Sĩ Roger Federer.

Các số liệu thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Grand Slam[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng thành tích tại các Grand Slam[sửa | sửa mã nguồn]

Giải đấu 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 Vô địch Thắng–Thua %Thắng
Úc mở rộng A 3R 4R A QF SF W QF QF F A F 1 / 9 41–8 83.67
Pháp mở rộng A A W W W W 4R W W W W W 9 / 10 66–1 98.33
Wimbledon 3R A 2R F F W A W F 2R 1R 2 / 9 36–7 83.72
Mỹ mở rộng 2R 2R 3R QF 4R SF SF W F A W 2 / 10 41–8 83.67
Thắng–Thua 3–2 3–2 13–3 17–2 20–3 24–2 15–2 25–1 23–3 14–2 14–1 6–1 14 / 38 177–24 88.06

Vô địch (14)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải đấu Đối thủ ở chung kết Kết quả trận chung kết
2005 Pháp mở rộng Argentina Mariano Puerta 6–7, 6–3, 6–1, 7–5
2006 Pháp mở rộng (2) Thụy Sĩ Roger Federer 1–6, 6–1, 6–4, 7–6
2007 Pháp mở rộng (3) Thụy Sĩ Roger Federer 6–3, 4–6, 6–3, 6–4
2008 Pháp mở rộng (4) Thụy Sĩ Roger Federer 6–1,6-3, 6–0
2008 Wimbledon (1) Thụy Sĩ Roger Federer 6-4, 6-4, 6-7(5), 6-7(8), 9-7
2009 Úc mở rộng (1) Thụy Sĩ Roger Federer 7–5, 3–6, 7–6(3), 3–6, 6–2
2010 Pháp mở rộng (5) Thụy Điển Robin Soderling 6-4 6-2 6-4
2010 Wimbledon (2) Cộng hòa Séc Tomas Berdych 6-3, 7-5, 6-4
2010 Mỹ Mở rộng Flag of Serbia.svg Novak Djokovic 6-4, 5-7, 6-4, 6-2
2011 Pháp mở rộng (6) Thụy Sĩ Roger Federer 7–5, 7–6(3), 5–7, 6–1
2012 Pháp mở rộng (7) Flag of Serbia.svg Novak Djokovic 6–4, 6–3, 2–6, 7–5
2013 Pháp mở rộng (8) Flag of Spain.svg David Ferrer 6–3, 6–2, 6–3
2013 Mỹ Mở rộng (2) Flag of Serbia.svg Novak Djokovic 6-2, 3-6, 6-4, 6-1
2014 Pháp mở rộng (9) Flag of Serbia.svg Novak Djokovic 3-6, 7-5, 6-2, 6-4

Á quân (6)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải đấu Đối thủ ở chung kết Kết quả trận chung kết
2006 Wimbledon Thụy Sĩ Roger Federer 6–0, 7–6, 6–7, 6–3
2007 Wimbledon (2) Thụy Sĩ Roger Federer 7–6, 4–6, 7–6, 2–6, 6–2
2011 Wimbledon (3) Flag of Serbia.svg Novak Djokovic 6-3, 6-1, 1-6, 6-4
2011 Mỹ Mở rộng Flag of Serbia.svg Novak Djokovic 6–2, 6–4, 6-7, 6-1
2012 Úc mở rộng Flag of Serbia.svg Novak Djokovic 7-5, 4-6, 2-6, 7-6, 5-7
2014 Úc mở rộng Thụy Sĩ Stanislas Wawrinka 6-3, 6-2, 3-6, 6-3.

ATP World Tour Finals[sửa | sửa mã nguồn]

Về nhì: 2[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải đấu Mặt sân Đối thủ ở trận chung kết Kết quả trận chung kết
2010 London Cứng (i) Thụy Sĩ Roger Federer 3–6, 6–3, 1–6
2013 London Cứng (i) Serbia Novak Djokovic 3–6, 4–6

Olympic[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch: 1 lần[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải đấu Mặt sân Đối thủ trong trận chung kết Tỷ số trận chung kết
2008 Olympic Bắc Kinh 2008 Cứng Chile Fernando González 6–3, 7–6(2), 6–3

ATP Masters Series (40)[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch (27)[sửa | sửa mã nguồn]

No. Năm Giải đấu Đối thủ ở chung kết Kết quả trận chung kết
1. 2005 Monte Carlo Argentina Guillermo Coria 6–3, 6–1, 0–6, 7–5
2. 2005 Roma Argentina Guillermo Coria 6–4, 3–6, 6–3, 4–6, 7–6
3. 2005 Montréal Hoa Kỳ Andre Agassi 6–3, 4–6, 6–2
4. 2005 Madrid Croatia Ivan Ljubičić 3–6, 2–6, 6–3, 6–4, 7–6
5. 2006 Monte Carlo(2) Thụy Sĩ Roger Federer 6–2, 6–7, 6–3, 7–6
6. 2006 Roma(2) Thụy Sĩ Roger Federer 6–7, 7–6, 6–4, 2–6, 7–6
7. 2007 Indian Wells Serbia Novak Djoković 6–2, 7–5
8. 2007 Monte Carlo(3) Thụy Sĩ Roger Federer 6–4, 6–4
9. 2007 Roma(3) Chile Fernando González 6–2, 6–2
10. 2008 Monte Carlo(4) Thụy Sĩ Roger Federer 7–5, 7–5
11. 2008 Hamburg Thụy Sĩ Roger Federer 7-5, 6-7(3), 6-3
12. 2008 Canada Masters Đức Nicolas Kiefer 6-3, 6-2
13. 2009 Indian Wells Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Andy Murray 6-1,6-2
14. 2009 Monte Carlo(5) Serbia Novak Djokovic 6-3, 2-6, 6-1
15. 2009 Roma(4) Serbia Novak Djokovic 7-6, 6-2
16. 2010 Monte Carlo(6) Tây Ban Nha Fernando Verdasco 6-0, 6-1
17. 2010 Roma(5) Tây Ban Nha David Ferrer 7-5, 6-2
18. 2010 Madrid(2) Thụy Sĩ Roger Federer 6-4, 7-6(5)
19. 2011 Monte Carlo(7) Tây Ban Nha David Ferrer 6-4, 7-5
20. 2012 Monte Carlo(8) Serbia Novak Djokovic 6-3, 6-1
21. 2012 Roma(6) Serbia Novak Djokovic 7-5, 6-3
22. 2013 Indian Wells Argentina Del Potro 4-6, 6-3, 6-4
23. 2013 Madrid(3) Thụy Sĩ Wawrinka 6-2, 6-4
24. 2013 Roma(7) Thụy Sĩ Roger Federer 6-1, 6-3
25. 2013 Motreal Canada Milos Raonic 6-2, 6-2
26. 2013 Cincinati Hoa Kỳ John Isner 7-6, 7-6
27. 2014 Madrid(4) Flag of Japan (bordered).svg Kei Nishikori 2-6, 6-4, 3-0

Á quân (13)[sửa | sửa mã nguồn]

No. Ngày Giải Mặt sân Đối thủ Tỉ số
1. 3 tháng 4, 2005 Miami, Hoa Kỳ Cứng Thụy Sĩ Roger Federer 2–6, 6–7(4), 7–6(5), 6–3, 6–1
2. 20 tháng 5, 2007 Hamburg, Đức Đất nện Thụy Sĩ Roger Federer 2–6, 6–2, 6–0
3. 4 tháng 11, 2007 Paris, Pháp Cứng (i) Argentina David Nalbandian 6–4, 6–0
4. 6 tháng 4, 2008 Miami, Hoa Kỳ Cứng Nga Nikolay Davydenko 6–4, 6–2
5. 17 tháng 5, 2009 Madrid, Tây Ban Nha Đất nện Thụy Sĩ Roger Federer 6–4, 6–4
6. 18 tháng 10, 2009 Thượng Hải, Trung Quốc Cứng Nga Nikolay Davydenko 7-6(3), 6-3
7. 20 tháng 3, 2011 Indian Wells, Hoa Kỳ Cứng Serbia Novak Djokovic 6–4, 3–6, 2–6
8. 03 tháng 4, 2011 Miami, Hoa Kỳ Cứng Serbia Novak Djokovic 6–4, 3–6, 6–7(4)
9. 08 tháng 5, 2011 Madrid, Tây Ban Nha Đất nện Serbia Novak Djokovic 5–7, 4–6
10. 15 tháng 5, 2011 Rome, Ý Đất nện Serbia Novak Djokovic 4-6, 4–6
11. 22 tháng 4, 2013 Monte Carlo, Monaco Đất nện Flag of Serbia.svg Novak Djokovic 6-2, 7-6
12. 30 tháng 3, 2014 Miami, Hoa Kỳ Cứng Flag of Serbia.svg Novak Djokovic 3-6, 3-6
13. 18 tháng 5, 2014 Rome, Ý Đất nện Serbia Novak Djokovic 6-4, 3–6, 3-6

Tỷ số các trận chung kết ở mọi giải đấu (104)[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn (92)[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch (64)[sửa | sửa mã nguồn]
Chú giải
Grand Slam tournaments (14–6)
Olympics Games (1–0)
ATP World Tour Final (0–2)
ATP World Tour Masters 1000 (27–13)
ATP World Tour 500 Series (15–3)
ATP World Tour 250 Series (7–4)
Mặt sân
Cứng (16–18)
Đất nện (45–6)
Cỏ (3–3)
Thảm (0–0)
No. Ngày Tournament Mặt sân Đối thủ Tỉ số
1. 9 tháng 8, 2004 Sopot, Ba Lan Đất nện Argentina José Acasuso 6–3, 6–4
2. 14 tháng 2, 2005 Costa do Sauípe, Brasil Đất nện Tây Ban Nha Alberto Martín 6–0, 6–7(2), 6–1
3. 21 tháng 2, 2005 Acapulco, Mexico Đất nện Tây Ban Nha Álbert Montañés 6–1, 6–0
4. 17 tháng 4, 2005 Monte Carlo, Monaco Đất nện Argentina Guillermo Coria 6–3, 6–1, 0–6, 7–5
5. 24 tháng 4, 2005 Barcelona, Tây Ban Nha Đất nện Tây Ban Nha Juan Carlos Ferrero 6–1, 7–6(4), 6–3
6. 2 tháng 5, 2005 Roma, Ý Đất nện Argentina Guillermo Coria 6–4, 3–6, 6–3, 4–6, 7–6(6)
7. 5 tháng 6, 2005 Pháp mở rộng, Paris, Pháp Đất nện Argentina Mariano Puerta 6–7(6), 6–3, 6–1, 7–5
8. 4 tháng 7, 2005 Båstad, Thụy Điển Đất nện Cộng hòa Séc Tomáš Berdych 2–6, 6–2, 6–4
9. 18 tháng 7, 2005 Stuttgart, Đức Đất nện Argentina Gastón Gaudio 6–3, 6–3, 6–4
10. 14 tháng 8, 2005 Montréal, Canada Cứng Hoa Kỳ Andre Agassi 6–3, 4–6, 6–2
11. 18 tháng 9, 2005 Bắc Kinh, Trung Quốc Cứng Argentina Guillermo Coria 5–7, 6–1, 6–2
12. 23 tháng 10, 2005 Madrid, Tây Ban Nha Cứng (I) Croatia Ivan Ljubičić 3–6, 2–6, 6–3, 6–4, 7–6(3)
13. 4 tháng 3, 2006 Dubai, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Cứng Thụy Sĩ Roger Federer 2–6, 6–4, 6–4
14. 23 tháng 4, 2006 Monte Carlo, Monaco Đất nện Thụy Sĩ Roger Federer 6–2, 6–7(2), 6–3, 7–6(5)
15. 30 tháng 4, 2006 Barcelona, Tây Ban Nha Đất nện Tây Ban Nha Tommy Robredo 6–4, 6–4, 6–0
16. 14 tháng 5, 2006 Roma, Ý Đất nện Thụy Sĩ Roger Federer 6–7(0), 7–6(5), 6–4, 2–6, 7–6(5)
17. 11 tháng 6, 2006 Pháp mở rộng, Paris, Pháp Đất nện Thụy Sĩ Roger Federer 1–6, 6–1, 6–4, 7–6(4)
18. 18 tháng 3, 2007 Indian Wells, California, Hoa Kỳ Cứng Serbia Novak Đoković 6–2, 7–5
19. 22 tháng 4, 2007 Monte Carlo, Monaco Đất nện Thụy Sĩ Roger Federer 6–4, 6–4
20. 29 tháng 4, 2007 Barcelona, Tây Ban Nha Đất nện Argentina Guillermo Cañas 6–3, 6–4
21. 13 tháng 5, 2007 Roma, Ý Đất nện Chile Fernando González 6–2, 6–2
22. 10 tháng 6, 2007 Pháp mở rộng, Paris, Pháp Đất nện Thụy Sĩ Roger Federer 6–3, 4–6, 6–3, 6–4
23. 22 tháng 7, 2007 Stuttgart, Đức Đất nện Thụy Sĩ Stanislas Wawrinka 6–4, 7–5
24. 27 tháng 4, 2008 Monte Carlo, Monaco Đất nện Thụy Sĩ Roger Federer 7–5, 7–5
25. 4 tháng 5, 2008 Barcelona, Tây Ban Nha Đất nện Tây Ban Nha David Ferrer 6–1, 4–6, 6–1
26. 18 tháng 5, 2008 Hamburg, Đức Đất nện Thụy Sĩ Roger Federer 7-5, 6-7(3), 6-3
27. 08 tháng 6, 2008 Pháp mở rộng, Paris, Pháp Đất nện Thụy Sĩ Roger Federer 6-1, 6-3, 6-0
28. 15 tháng 6, 2008 London Queen´s Club, Anh Cỏ Serbia Novak Djokovic 7-6(5), 7-5
29. 06 tháng 7, 2008 Wimbledon, Anh Cỏ Thụy Sĩ Roger Federer 6-4, 6-4, 6-7(5), 6-7(8), 9-7
30. 27 tháng 7, 2008 Toronto, Canada Cứng Đức Nicolas Kiefer 6-3, 6-2
31. 17 tháng 8, 2008 Olympic 2008, Trung Quốc Cứng Chile Fernando González 6-3, 7-6(2), 6-3
32. 01 tháng 02, 2009 Úc mở rộng Cứng Thụy Sĩ Roger Federer 7-5, 3-6, 7-6(3), 3-6, 6-2
33. 22 tháng 3, 2009 Indian Wells, Hoa Kỳ Cứng Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Andy Murray 6-1, 6-2
34. 19 tháng 4, 2009 Monte Carlo, Monaco Đất nện Serbia Novak Djokovic 6-3, 2-6, 6-1
35. 26 tháng 4, 2009 Barcelona, Tây Ban Nha Đất nện Tây Ban Nha David Ferrer 6-2, 7-5
36. 03 tháng 5, 2009 Roma, Ý Đất nện Serbia Novak Djokovic 7-6(2), 6-2
37. 18 tháng 4, 2010 Monte Carlo, Monaco Đất nện Tây Ban Nha Fernando Verdasco 6-0, 6-1
38. 02 tháng 5, 2010 Roma, Ý Đất nện Tây Ban Nha David Ferrer 7-5, 6-2
39. 16 tháng 5, 2010 Madrid, Tây Ban Nha Đất nện Thụy Sĩ Roger Federer 6-4, 7-6(5)
40. 06 tháng 6, 2010 Pháp mở rộng, Paris, Pháp Đất nện Thụy Điển Robin Söderling 6-4, 6-2, 6-4
41. 04 tháng 7, 2010 Wimbledon, Anh Cỏ Cộng hòa Séc Tomáš Berdych 6-3, 7-5, 6-4
42. 13 tháng 9, 2010 Mỹ mở rộng, Hoa Kỳ Cứng Flag of Serbia.svg Novak Djokovic 6-4, 5-7, 6-4,6-2
43. 10 tháng 10, 2010 Tokyo, Nhật Bản Cứng Flag of France.svg Gaël Monfils 6–1, 7–5
44. 18 tháng 4, 2011 Monte Carlo, Monaco Đất nện Flag of Spain.svg David Ferrer 6-4, 7-5
45. 24 tháng 4, 2011 Barcelona, Tây Ban Nha Đất nện Flag of Spain.svg David Ferrer 6-2, 6-4
46. 05 tháng 6, 2011 Pháp mở rộng, Paris, Pháp Đất nện Thụy Sĩ Roger Federer 7–5, 7–6(3), 5–7, 6–1
47. 12 tháng 4, 2012 Monte Carlo, Monaco Đất nện Flag of Serbia.svg Novak Djokovic 6-3, 6-1
48. 29 tháng 4, 2012 Barcelona, Tây Ban Nha Đất nện Flag of Spain.svg David Ferrer 7-6, 7-5
49. 21 tháng 5, 2012 Roma, Ý Đất nện Flag of Serbia.svg Novak Djokovic 7-5, 6-3
50. 10 tháng 6, 2012 Pháp mở rộng, Paris, Pháp Đất nện Serbia Novak Djokovic 6-4, 6-3, 2-6, 7-5
51. 17 tháng 2, 2013 Sao Paulo, Brazil Đất nện Flag of Argentina.svg David Nalbandian 6-2, 6-3
52. 2 tháng 3, 2013 Acapulco, Mexico Đất nện Flag of Spain.svg David Ferrer 6-0, 6-2
53. 17 tháng 3, 2013 Indian Wells, Hoa Kỳ Cứng Flag of Argentina.svg Juan Martin Del Potro 4-6, 6-3, 6-4
54. 28 tháng 4, 2013 Barcelona, Tây Ban Nha Đất nện Flag of Spain.svg Nicolas Almagro 6-4, 6-3
55. 12 tháng 5, 2013 Madrid, Tây Ban Nha Đất nện Thụy Sĩ Stanislas Wawrinka 6-2, 6-4
56. 19 tháng 5, 2013 Roma, Ý Đất nện Thụy Sĩ Roger Federer 6-1, 6-3
57. 9 tháng 6, 2013 Pháp mở rộng, Paris, Pháp Đất nện Flag of Spain.svg David Ferrer 6-3, 6-2, 6-3
58. 11 tháng 8, 2013 Toronto, Canada Cứng Flag of Canada.svg Milos Raonic 6-2, 6-2
59. 18 tháng 8, 2013 Cincinnati, Hoa Kỳ Cứng Flag of the United States.svg John Isner 7-6(8), 7-6(3)
60. 09 tháng 9, 2013 Mỹ mở rộng, Hoa Kỳ Cứng Flag of Serbia.svg Novak Djokovic 6-2, 3-6, 6-4,6-1
61. 04 tháng 01, 2014 Doha, Qatar Cứng Flag of France.svg Gaël Monfils 6–1, 6–7(5-7),6-2
62. 23 tháng 02, 2014 Rio, Brazil Đất nện Ukraina Alexandr Dolgopolov 6–3, 7–6(7-3)
63. 11 tháng 5, 2014 Madrid, Tây Ban Nha Đất nện Flag of Japan (bordered).svg Kei Nishikori 2-6, 6-4, 3-0
64. 8 tháng 6, 2014 Paris, Pháp Đất nện Flag of Serbia.svg Novak Djokovic 3-6, 7-5, 6-2, 6-4
Thua trận chung kết (28)[sửa | sửa mã nguồn]
No. Ngày Giải Mặt sân Đối thủ Tỉ số
1. 12 tháng 1, 2004 Auckland, New Zealand Cứng Slovakia Dominik Hrbatý 4–6 6–2 7–5
2. 3 tháng 4, 2005 Miami, Hoa Kỳ Cứng Thụy Sĩ Roger Federer 2–6, 6–7(4), 7–6(5), 6–3, 6–1
3. 9 tháng 7, 2006 Wimbledon, London, nước Anh Cỏ Thụy Sĩ Roger Federer 6–0, 7–6(5), 6–7(2), 6–3
4. 20 tháng 5, 2007 Hamburg, Đức Đất nện Thụy Sĩ Roger Federer 2–6, 6–2, 6–0
5. 8 tháng 7, 2007 Wimbledon, London, nước Anh Cỏ Thụy Sĩ Roger Federer 7–6(7), 4–6, 7–6(3), 2–6, 6–2
6. 4 tháng 11, 2007 Paris, Pháp Cứng (i) Argentina David Nalbandian 6–4, 6–0
7. 6 tháng 1, 2008 Chennai, Ấn Độ Cứng Nga Mikhail Youzhny 6–0, 6–1
8. 6 tháng 4, 2008 Miami, Hoa Kỳ Cứng Nga Nikolay Davydenko 6–4, 6–2
9. 15 tháng 2, 2009 Rotterdam, Hà Lan Cứng Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Andy Murray 6-3, 4-6, 6-0
10. 17 tháng 5, 2009 Madrid, Tây Ban Nha Đất nện Thụy Sĩ Roger Federer 6–4, 6–4
11. 18 tháng 10,2009 Thượng Hải, Trung Quốc Cứng Nga Nikolay Davydenko 7-6(3), 6-3
12. 15 tháng 2, 2010 Doha Cứng Nga Nikolay Davydenko 0-6, 7-6(8), 6-4
13. 28 tháng 11,2010 ATP World Tour Finals, London Cứng (i) Thụy Sĩ Roger Federer 6-3, 3-6, 6-1
14. 20 tháng 3, 2011 Indian Wells, Hoa Kỳ Cứng Serbia Novak Djokovic 6–4, 3–6, 2–6
15. 03 tháng 4, 2011 Miami, Hoa Kỳ Cứng Serbia Novak Djokovic 6–4, 3–6, 6–7(4)
16. 08 tháng 5, 2011 Madrid, Tây Ban Nha Đất nện Serbia Novak Djokovic 5–7, 4–6
17. 15 tháng 5, 2011 Rome, Ý Đất nện Serbia Novak Djokovic 4-6, 4–6
18. 3 tháng 7, 2011 Wimbledon, London, nước Anh Cỏ Serbia Novak Djokovic 4–6, 1–6, 6–1, 3–6
19. 12 tháng 9, 2011 Mỹ mở rộng, New York, Hoa Kỳ Cứng Serbia Novak Djokovic 2–6, 4–6, 7–6(3), 1–6
20. 09 tháng 10,2011 Tokyo, Nhật Bản Cứng Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Andy Murray 6–3, 2–6, 0–6
21. 29 tháng 1, 2012 Úc mở rộng, Australia Cứng Serbia Novak Djokovic 7-5, 4-6, 2-6, 7-6, 5-7
22. 11 tháng 2, 2013 Vina del Mar, Chile Đất nện Argentina Horacio Zeballos 7-6, 6-7, 4-6
23. 22 tháng 4, 2013 Monte Carlo, Monaco Đất nện Flag of Serbia.svg Novak Djokovic 6-2, 7-6
24. 06 tháng 10,2013 Beijing, China Cứng Flag of Serbia.svg Novak Djokovic 3-6, 4-6
25. 11 tháng 11,2013 ATP World Tour Finals, London Cứng (i) Flag of Serbia.svg Novak Djokovic 3-6, 4-6
26. 26 tháng 01,2014 Úc mở rộng, Australia Cứng Thụy Sĩ Stanislas Wawrinka 3-6, 2-6, 6-3, 3-6
27. 30 tháng 3, 2014 Miami, Hoa Kỳ Cứng Serbia Novak Djokovic 3–6, 3–6
28. 18 tháng 5, 2014 Rome, Ý Đất nện Serbia Novak Djokovic 6-4, 3-6, 3–6

Đánh đôi (12)[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch (8)[sửa | sửa mã nguồn]
No. Ngày Giải Mặt sân Người đánh cùng Đối thủ Tỉ số
1. 21 tháng 8, 2003 Umag, Croatia Đất nện Tây Ban Nha Álex López Morón Úc Todd Perry
Nhật Bản Thomas Shimada
6–1, 6–3
2. 5 tháng 1, 2004 Chennai, Ấn Độ Cứng Tây Ban Nha Tommy Robredo Israel Jonathan Erlich
Israel Andy Ram
7–6(3), 4–6, 6–3
3. 3 tháng 1, 2005 Doha, Qatar Cứng Tây Ban Nha Albert Costa România Andrei Pavel
Nga Mikhail Youzhny
6–3, 4–6, 6–3
4. 27 tháng 4, 2008 Monte Carlo, Monaco Đất nện Tây Ban Nha Tommy Robredo Ấn Độ Mahesh Bhupathi
Bahamas Mark Knowles
6–3, 6–3
5. 9 tháng 1, 2009 Doha, Qatar Cứng Tây Ban Nha Marc López Canada Daniel Nestor
Serbia Nenad Zimonjić
4-6, 6-4, 10-8
6. 20 tháng 3, 2010 Indian Wells, Hoa Kỳ Cứng Tây Ban Nha Marc López Canada Daniel Nestor
Serbia Nenad Zimonjić
7-6(8), 6-3
7. 07 tháng 01, 2011 Doha, Qatar Cứng Tây Ban Nha Marc López Ý Daniele Bracciali
Ý Andreas Seppi
6-3, 7-6(4)
8. 17 tháng 3, 2012 Indian Wells, Hoa Kỳ Cứng Tây Ban Nha Marc López Hoa Kỳ John Isner
Hoa Kỳ Sam Querrey
6-2, 7-6(3)
Về nhì (4)[sửa | sửa mã nguồn]
No. Ngày Giải Mặt sân Người đánh cùng Đối thủ Tỉ số
1. 18 tháng 4, 2005 Barcelona, Tây Ban Nha Đất nện Tây Ban Nha Feliciano López Ấn Độ Leander Paes
Serbia và Montenegro Nenad Zimonjić
6–3, 6–3
2. 8 tháng 1, 2007 Chennai, Ấn Độ Cứng Tây Ban Nha Tomeu Salvà Bỉ Xavier Malisse
Bỉ Dick Norman
7–6(4), 7–6(4)
3. 30 tháng 4, 2007 Barcelona, Tây Ban Nha Đất nện Tây Ban Nha Tomeu Salvà România Andrei Pavel
Đức Alexander Waske
6–3, 7–6(1)
4. 10 tháng 2, 2013 Viña del Mar, Chile Đất nện Argentina Juan Mónaco Ý Paolo Lorenzi
Ý Potito Starace
2–6, 4–6

Các kỷ lục[sửa | sửa mã nguồn]

Kỷ lục ở các giải Grand Slam[sửa | sửa mã nguồn]

  • Những kỷ lục này chỉ xét trong Kỷ nguyên Mở rộng.
Các giải Grand Slam Năm Kỷ lục Người đồng giữ kỷ lục [38]
Úc Mở rộng
Pháp Mở rộng
Wimbledon
Mỹ Mở rộng
Olympics
2009
2005
2008
2010
2008
Career Golden Slam Andre Agassi
Úc Mở rộng
Pháp Mở rộng
Wimbledon
Mỹ Mở rộng
2009
2005
2008
2010
Grand Slam sự nghiệp [39] Rod Laver
Andre Agassi
Roger Federer
Úc Mở rộngPháp Mở rộngWimbledonMỹ Mở rộng 2005–2010 Ít nhất hai Grand Slam trên mặt sân đất nện, sân cỏ, và sân cứng Mats Wilander
Úc Mở rộngPháp Mở rộngWimbledonMỹ Mở rộng 2005–2013 Ít nhất một Grand Slam mỗi năm, trong 9 năm liên tiếp
Pháp Mở rộng – Mỹ Mở rộng 2010 Vô địch Grand Slam trên cả 3 mặt sân trong cùng một năm Roger Federer
Pháp Mở rộng – Mỹ Mở rộng 2010 Vô địch 3 Grand Slam liên tục trong cùng một năm Rod Laver
Pháp Mở rộng – Mỹ Mở rộng 2008–2010 Cùng lúc giữ Grand Slam trên 3 mặt sân (ghi chú: 2 lần làm được điều này, Federer chỉ làm được 1 lần) Roger Federer
Olympics – Mỹ Mở rộng 2008–2010 Cùng lúc giữ HCV Olympic và Grand Slam trên cả 3 mặt sân
Olympics – Wimbledon 2008–2010 Cùng lúc giữ HCV Olympic và Wimbledon
Olympics – Pháp Mở rộng 2008–2010 Cùng lúc giữ HCV Olympic và 3 Grand Slam (không cần biết trên mặt sân nào) Andre Agassi
Olympics – Mỹ Mở rộng 2008–2010 Cùng lúc giữ HCV Olympic và Grand Slam trên mặt sân đất nện và sân cứng Andre Agassi
Olympics – Mỹ Mở rộng 2008–2010 Cùng lúc giữ HCV Olympic và chức vô địch Mỹ Mở rộng Andre Agassi
Pháp Mở rộng 2005-2014 9 chức vô địch
Pháp Mở rộng 2005–2009

2009-2014

31 trận thắng liên tiếp

35 trận thắng liên tiếp

Pháp Mở rộng—Wimbledon 2008, 2010 1 "Channel Slam": Đoạt 2 Grand Slam này trong cùng năm Rod Laver
Bjorn Borg
Roger Federer
Pháp Mở rộng—Wimbledon 2008, 2010 Đoạt "Channel Slam" hơn 1 lần Bjorn Borg
Pháp Mở rộng 2005–2008

2009 - 2014

4 chức vô địch Pháp Mở rộng liên tiếp

5 chức vô địch Pháp Mở rộng liên tiếp

Björn Borg
Pháp Mở rộng 2005–2008

2009- 2014

4 trận chung kết Pháp Mở rộng liên tiếp

5 trận chung kết Pháp Mở rộng liên tiếp

Björn Borg
Ivan Lendl
Roger Federer
Pháp Mở rộng 2008, 2010 Số lần vô địch Pháp Mở rộng nhiều nhất mà không thua set nào (2) Björn Borg
Úc Mở rộng
Pháp Mở rộng
Wimbledon
Mỹ Mở rộng
2005–2010 Vào chung kết cả 4 Grand Slam Rod Laver
Ken Rosewall
Ivan Lendl
Stefan Edberg
Jim Courier
Andre Agassi
Roger Federer

Kỷ lục ở các giải Master[sửa | sửa mã nguồn]

ATP Masters Series Năm Kỷ lục Người đồng giữ kỷ lục
ATP World Tour Masters 1000 2005–2014 Sở hữu nhiều chức vô địch Master nhất (27)
Monte CarloRoma-Madrid-Roland Garros 2010 1 "Clay Slam": 3 Master đất nện và Roland Garros
Monte Carlo 2005–2012 8 danh hiệu liên tiếp ở Monte Carlo Masters
Rome Masters 2005–2013 7 danh hiệu trong 9 năm
ATP World Tour Masters 1000 2008–2010 21 lần liên tiếp vào tới tứ kết
ATP World Tour Masters 1000 2008 3 danh hiệu liên tiếp (bất kể mặt sân nào) Roger Federer (2004)
ATP World Tour Masters 1000 2005–2012 Vô địch cùng một giải nhiều lần liên tục nhất – 8
Monte Carlo MastersRome Masters 2005–2007
2009–2010
2012
Nhiều năm vô địch cả hai giải này nhất – 6
ATP World Tour Masters 1000 2007–2010 Liên tục vô địch ít nhất 3 Master trong 1 năm – 4

Đối đầu với Federer[sửa | sửa mã nguồn]

Nadal và Federer đã có trận đấu đầu tiên giữa họ từ năm 2004, và những cuộc đối đầu giữa họ là một phần quan trọng trong sự nghiệp của cả hai.

- Họ là cặp đôi duy nhất trong kỷ nguyên mở rộng đã đấu với nhau trong 8 trận chung kết Grand Slam, với Nadal thắng 6 trên 8 trận. 4 trong 6 trận đó là trên mặt sân đất nện sở trường của Nadal (Pháp Mở rộng các năm 2006, 2007, 2008, 2011), hai trận còn lại là ở Wimbledon 2008 và Úc Mở rộng 2009.

- Trận chung kết Wimbledon 2008 của họ được nhiều nhà bình luận xem là trận đấu hay nhất mọi thời đại.[24]

- Nhiều nhà bình luận cho rằng cuộc đối đầu giữa Federer và Nadal là cuộc đối đầu vĩ đại nhất trong lịch sử quần vợt.[40][41][42]

- Trên sân đất nện, Nadal dẫn 13-2 và 6-2 trên sân cứng. Federer dẫn 2-1 trên sân cỏ và 4-1 trên sân cứng trong nhà

- Trận đấu gần nhất của 2 tay vợt là trận bán kết Úc mở rộng 2014. Nadal đánh bại Federer với tỉ số 7-6, 6-3, 6-3. Đây là lần thứ 33, 2 tay vợt này đối đầu nhau (không tính các trận biểu diễn).

Đối đầu với Djokovic[sửa | sửa mã nguồn]

- Nadal và Djokovic đã gặp nhau 42 lần (Đây là hai tay vợt đối đầu với nhau nhiều thứ 1 trong lịch sử kể từ kỷ nguyên Open) với lợi thế dẫn trước dành cho Nadal với tỷ số 22-18. Nadal dẫn 2-1 trên sân cỏ và 12-3 trên sân đất nện. Djokovic dẫn 11-7 trên sân cứng. Djokovic là một trong hai tay vợt có ít nhất 10 trận thắng trước Nadal (người còn lại là Federer) và là người duy nhất đánh bại Nadal 7 lần liên tiếp và 2 lần liên tiếp trên mặt sân đất nện. Hai tay vợt này tưng giữ kỷ lục trận đấu 3 set dài nhất tại Mutua Madrid Open 2009 (Sau đó bị Federer và Del Potro phá kỷ lục tại Olympic London 2012).

- Trong trận chung kết Wimbledon 2011, Djokovic đã đánh bại Nadal trong 4 set với tỷ số 6-4, 6-1, 1-6, 6-3.Sau đó anh còn đánh bại Nadal ở trận chung kết Mỹ Mở rộng 2011. - Năm 2012, Djokovic tiếp tục đánh bại Nadal trong trận chung kết Úc Mở rộng để lên ngôi lần thứ 3 tại đây. Đây là trận chung kết Grand Slam dài nhất kể từ kỷ nguyên Open (5giờ 53 phút).Sau đó Nadal giành được 2 danh hiêu Master 1000 đó là Monte Carlo và Rome sau khi đánh bại Djokovic ở hai trận chung kết và ở Pháp Mở rộng để giành danh hiệu thứ 7 tại đây, đồng thời chấm dứt chuỗi 3 trận chung kết Grand Slam toàn thua trước Djokovic. - Trong năm 2013, Djokovic đánh bại Nadal sau hai set để chấm dứt chuỗi 8 chức vô địch liên tiếp tại Monte Carlo. Nhưng Nadal đã trả món nợ tại Bán Kết Pháp Mở rộng với tỷ số 3-2, trong đó cuộc đấu trí căng thẳng ở set đấu thư 5 với tỷ số 9-7 nghiêng về phía ông vua của mặt sân đất nện.Nadal tiếp tục giành chiến thắng trên mặt sân cứng trước Djokovic ở trận bán kết tại Motreal và chung kết US open.

Đối đầu với Murray[sửa | sửa mã nguồn]

- Nadal và Andy Murray đã gặp nhau 18 lần kể từ năm 2007, với lợi thế dẫn trước dành cho Nadal với tỷ số 13-5. Nadal dẫn 4-0 trên sân đất nện, 3-0 trên sân cỏ và 6-5 trên sân cứng. Hai tay vợt này thường xuyên gặp nhau tại các giải Grand Slam với 8 trên tổng số 18 lần 2 tay vợt này gặp nhau với tỷ số 6-2 nghiêng về tay vợt người Tây Ban Nha (3-0 tại Wimbledon, 1-0 tại Pháp Mở Rộng, 1-1 tại Úc Mở Rộng và 1-1 tại Mỹ Mở Rộng). 7 trong 8 lần hai tay vợt đối đầu với nhau tại các giải Grand Slam là ở vòng Tứ Kết và Bán Kết. Hai tay vợt chưa bao giờ gặp nhau tại một trận chung kết Grand Slam tuy nhiên Murray lại dẫn 2-1 tại các trận chung kết ATP (Nadal với chiến thắng tại Indian Wells năm 2009, Murray giành chiến thắng tại Rotterdam cùng năm và tại Tokyo năm 2011). Murray thua liên tiếp 3 trận Bán Kết Grand Salm trước Nadal từ Pháp mở Rộng đễ Mỹ Mở Rộng. Thật ngạc nhiên khi qua 19 lần bốc thăm tại các giải Grand Slam thì hai tay vợt này chung nhánh đấu với nhau tới 16 lần. Cặp đôi này đã không thể gặp nhau tại trận Bán Kết của giải Miami Masters vì Nadal phải rút lui vì chấn thương

Lối chơi[sửa | sửa mã nguồn]

Nhìn chung thì Nadal chơi một lối chơi chủ động từ sau vạch cuối sân, dựa nhiều vào những cú topspin đều tay và khả năng di chuyển hợp lý. Với thể lực dồi dào và tốc độ di chuyển cao, Nadal là một tay vợt phòng thủ tuyệt vời và có khả năng giành những điểm số từ những tình huống bị dồn ép phải phòng ngự liên tục.[43] Mặc dù Nadal thường đứng sau vạch cuối sân, một số chuyên gia nhận định rằng anh cũng có khả năng lên lưới rất tốt, mỗi khi có cơ hội,

Động học của cú topspin.

Những cú thuận tay của Nadal là khá khác biệt so với các tay vợt khác, tay trái anh đánh bóng rồi vòng lên phía trên vai phải - thay vì kết thúc ở vị trí ngang thân người hay ngang vai đối diện theo kiểu truyền thống.[44][45] Kiểu đánh thuận tay của Nadal giúp anh thực hiện được những cú topspin cực nặng có độ xoáy rất cao, trung bình bóng xoay 3200 vòng/phút và có cú lên đến 4900 vòng/phút (Federer là khoảng 2700 vòng/phút còn Sampras và Agassi là khoảng 1,800-1,900 vòng/phút).[46] Cú trái tay được Nadal thực hiện bằng hai tay.

Lúc trước thì những cú giao bóng của Nadal luôn bị xem là điểm yếu của anh và anh rất ít khi giành được những cú ace. Mặc dù vậy, trong mùa giải 2010, anh đã có những thay đổi trong cách giao bóng để cải thiện tình hình. Sự tiến bộ trong cú giao bóng giúp Nadal rất nhiều ở giải Mỹ Mở rộng 2010. Hiện tại tốc độ giao tối đa của anh khoảng 135 dặm/giờ (217 km/giờ), và anh đã giành được nhiều điểm số hơn từ cú giao bóng.[47]

Một điểm mạnh quan trọng nữa của Nadal là tinh thần thi đấu kiên cường và khả năng tính toán chiến thuật hợp lý. Nadal có khả năng phớt lờ đi những bất lợi về mặt tỷ số hay khán giả để chỉ tập trung vào tình huống đang đánh. Anh có thể ăn mừng rất hưng phấn sau một điểm số giành được, nhưng luôn giữ được bình tĩnh trong những lúc khó khăn. Hầu như rất hiếm khi người ta được chứng kiến những khoảnh khắc nóng nảy của anh trên sân. Nadal cũng có khả năng thích ứng tốt để thay đổi chiến thuật cho phù hợp với tình hình thời tiết, sân bãi hay chiến thuật của đối phương.

Mặc dù từng bị xem là chỉ mạnh trên sân đất nện, thời gian gần đây thì Nadal đã chứng tỏ rằng anh cũng chơi tốt trên các mặt sân khác. Anh đã thắng Grand Slam trên mọi mặt sân cùng các danh hiệu lớn nhỏ khác. Thế nhưng, bên cạnh những lời khen ngợi cho tài năng của Nadal thì cũng có nhiều chuyên gia đặt câu hỏi về khả năng thi đấu lâu dài của anh, cho rằng lối chơi của anh có thể sẽ dễ dẫn đến chấn thương.[48]

Bên ngoài sân đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy không phải là một cầu thủ chuyên nghiệp nhưng Nadal tham gia khá nhiều vào các hoạt động bóng đá. Anh là một trong những CĐV lớn nhất của CLB Real Madrid và đội tuyển Tây Ban Nha. Vào đầu năm 2011, Nadal được kết nạp vào CLB thành viên danh dự của Real Madrid cùng các tên tuổi lẫy lừng như Alfredo Di Stefano, Sepp BlatterVicente del Bosque.[49] Khi Tây Ban Nha vô địch World Cup 2010, Nadal là một trong 6 người ngoài duy nhất được vào phòng thay đồ để ăn mừng cùng các thành viên của đội bóng (5 người còn lại gồm hai phóng viên, hoàng hậu Tây Ban Nha cùng thái tử Tây Ban Nha và vợ).[50] Vào ngày 7 tháng 8 năm 2010, Nadal trở thành một cổ đông của đội bóng quê nhà RCD Mallorca để giúp CLB thoát khỏi cảnh nợ nần. Anh nắm giữ 10% cổ phần của CLB cho đến khi quyết định bán lại vào cuối năm 2011.[51]

Nadal hiện tại cũng là người mẫu quảng cáo đồ lót và quần jeans cho hãng Armani, có một hợp đồng tài trợ với hãng trang phục thể thao Nike và hãng đồng hồ Richard Mille. Chiếc đồng hồ trị giá 525,000 đôla mà anh thường đeo khi ra sân thi đấu chính là từ hãng Richard Mille.[52]

Tháng 2 năm 2010, Nadal xuất hiện trong video ca nhạc "Gypsy" của Shakira.[53] Tên anh cũng được đặt cho thiên thạch 128036 Rafaelnadal.[54]

Rafa Nadal Foundation là tổ chức từ thiện của Nadal.[55] Anh từng cho biết rằng sau khi giải nghệ sẽ tập trung vào việc điều hành tổ chức từ thiện này.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Niall, Jake (3 tháng 2 năm 2009). “The man from Majorca breathes scent of victory”. The Age. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2010. 
  2. ^ Scott, Brough (24 tháng 6 năm 2008). “Wimbledon: Rafael Nadal happy with his game – and his shorts – as he moves through gears”. The Daily Telegraph (London). Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2010. 
  3. ^ mirror.co.uk, Mighty Nadal is one of best four players ever, says John McEnroe
  4. ^ ATP World tour, NADAL'S CAREER GRAND SLAM. Nadal A Man In A Hurry
  5. ^ Harwitt, Sandra (1 tháng 8 năm 2008). “Is Rafael Nadal the best clay-court player ever?”. ESPN. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2010. 
  6. ^ “Rafael Nadal retakes king of clay title with french open win”. foxsports.com. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2010. 
  7. ^ “Nadal launches new reign at U.S. Open”. Reuters. 22 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2010. 
  8. ^ “It's official: Nadal will pass Federer for No. 1”. Associated Press. 1 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2010. 
  9. ^ “2008 Prince of Asturias Award for Sports”. Fundación Principe de Asturias. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2010. 
  10. ^ “Rafa wins Stefan Edberg Sportsmanship Award”. Associated Press. 21 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2010. 
  11. ^ “Sportsround meets Rafael Nadal”. BBC Sports. 11 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2010. 
  12. ^ a ă â Kervin, Alison (23 tháng 4 năm 2006). “The Big Interview: Rafael Nadal”. The Sunday Times (London). Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2010. 
  13. ^ Rajaraman, Aarthi (1 tháng 6 năm 2008). “At Home with Humble yet Ambitious Nadal”. Inside Tennis. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2010. 
  14. ^ “ITF Tennis – Juniors – Player Activity”. 
  15. ^ Thornburgh, Nathan (15 tháng 8 năm 2007). “10 Questions for Rafael Nadal”. Time. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2010. 
  16. ^ Tignor, Stephen (20 tháng 6 năm 2006). “Wimbledon 2006: The Duel”. Tennis Magazine. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2008. 
  17. ^ Benammar, Emily (8 tháng 7 năm 2008). “Rafael Nadal: All you need to know”. The Telegraph (London). Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2010. 
  18. ^ Garber, Greg (31 tháng 5 năm 2006). “With Vilas in stands, Nadal makes history”. ESPN Tennis/French06. ESPN.com. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2008. 
  19. ^ Garber, Greg (12 tháng 6 năm 2006). “Roger's reign on hold with Nadal's dominance”. ESPN Tennis/French06. ESPN.com. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2008. 
  20. ^ Newbury, Piers (28 tháng 11 năm 2007). “Nadal plays down foot injury fear”. BBC Sport Tennis (BBC Sport). Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2009. 
  21. ^ “Nadal Wins the "Battle of Surfaces"”. The Dong-a Ilbo. 4 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2010. 
  22. ^ “Roger & Rafa: The Rivalry”. ATPtennis.com. 6 tháng 7 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2008. 
  23. ^ “Men's Grand Slam Titles Without Losing A Set”. International Herald Tribune. Sports (International Herald Tribune). Associated Press. 9 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2008. 
  24. ^ a ă http://www.telegraph.co.uk/sport/tennis/wimbledon/2305019/Wimbledon-2008-John-McEnroe-hails-Rafael-Nadal-victory-as-greatest-final-ever.html
  25. ^ http://news.bbc.co.uk/sport2/hi/tennis/8085394.stm
  26. ^ http://www.monte-carlorolexmasters.com/News/Tennis/2010/Tournament/Sunday-Singles-Final.aspx
  27. ^ http://www.atpworldtour.com/News/Tennis/2010/05/Roland-Garros/Roland-Garros-Friday-2-Nadal-Eyes-Fifth-Title.aspx
  28. ^ http://www.tennis.com/articles/templates/news.aspx?articleid=6292&zoneid=4
  29. ^ http://blog.gvtnews.com/2010/09/13/rafael-nadal-completes-career-golden-slam-wiht-us-open-win.aspx?ref=rss
  30. ^ Nadal Clinches Year-End No. 1 For Second Time
  31. ^ http://www.atpworldtour.com/News/Tennis/2010/11/Other/Nadal-Withdraws-From-Paris.aspx
  32. ^ http://www.rafaelnadal.com/content/i-tried-my-best-roger-was-better-me
  33. ^ http://www.rafaelnadal.com/content/rafas-slam-campaign-comes-end
  34. ^ http://www.rafaelnadal.com/content/rafa-scores-500th-career-win
  35. ^ http://news.bbc.co.uk/sport2/hi/tennis/14783093.stm
  36. ^ http://espn.go.com/tennis/aus12/story/_/id/7515950/2012-australian-open-novak-djokovic-outlasts-rafael-nadal-longest-grand-slam-final
  37. ^ http://www.atpworldtour.com/News/Tennis/2012/06/23/Roland-Garros-Final-Nadal-Beats-Djokovic-To-Make-History.aspx
  38. ^ Xét các tay vợt nam
  39. ^ Nadal là tay vợt trẻ nhất trong Kỷ nguyên Mở rộng làm được điều này
  40. ^ http://www.guardian.co.uk/sport/2008/jul/07/wimbledon.tennis4
  41. ^ http://www.theage.com.au/news/tennis/federer-v-nadal-as-good-as-sport-gets/2008/07/11/1215658132528.html
  42. ^ http://tennisworld.typepad.com/tennisworld/2009/01/tj.html
  43. ^ http://sports.espn.go.com/sports/tennis/wimbledon08/columns/story?columnist=garber_greg&id=3472238
  44. ^ http://www.youtube.com/watch?v=rb3smnR6NSc
  45. ^ http://www.nytimes.com/2006/06/25/sports/25iht-rwtechnic.2045821.html?_r=1
  46. ^ http://www.nytimes.com/2009/06/21/magazine/21nadal-t.html?pagewanted=5&_r=1
  47. ^ http://www.nj.com/sports/njsports/index.ssf/2010/09/rafael_nadal_has_gotten_a_grip.html%7Cdate=12
  48. ^ http://sports.espn.go.com/sports/tennis/usopen07/news/story?id=2996956
  49. ^ http://hcm.24h.com.vn/the-thao/nadal-tro-thanh-thanh-vien-danh-du-cua-real-c101a364991.html
  50. ^ http://espn.go.com/sports/soccer/news/_/id/5542102/rafael-nadal-tries-save-mallorca-football-club
  51. ^ http://www.realmallorca.co.uk/news/club/2010/sale-of-the-club-completed
  52. ^ http://www.mensfitness.com/sports/athletes/nadal-wears-525k-watch-at-french-open
  53. ^ http://www.youtube.com/watch?v=_3-GiVIE8gc
  54. ^ ATP WORLD TOUR,[www.atpworldtour.com/News/Tennis/2008/07/nadalasteroid.aspx]
  55. ^ http://www.fundacionrafanadal.com/foundation/
Hiệp hội quần vợt nhà nghề
10 tay vợt nam hàng đầu tính đến 31 tháng 08 năm 2014
1.Green Arrow Up Darker.svg Flag of Serbia.svg Novak Djokovic
6. Green Arrow Up Darker.svg Flag of the Czech Republic.svg Tomas Berdych
2.Red Arrow Down.svg Flag of Spain.svg Rafael Nadal
7. Green Arrow Up Darker.svgFlag of Canada.svg Milos Raonic
3. Green Arrow Up Darker.svg Flag of Switzerland.svg Roger Federer
8. Green Arrow Up Darker.svgFlag of Japan (bordered).svg Kei Nishikori
4. Red Arrow Down.svg Flag of Switzerland.svg Stan Wawrinka
9. Red Arrow Down.svg Flag of Bulgaria (bordered).svg Grigor Dimitrov
5. Straight Line Steady.svg Flag of Spain.svg David Ferrer
10. Red Arrow Down.svg Flag of the United Kingdom.svg Andy Murray