Rapunzel

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Rapunzel
Illustration for the Brothers Grimm fairy tale Rapunzel..jpg
Tranh minh hoạ cho truyện cổ Grimm
Tác giả Anh em nhà Grimm
Ngày phát hành 1812
Kiểu sách Sách in
Bức tranh minh hoạ của Johnny Gruelle

"Rapunzel" ( /rəˈpʌnzəl/; Phát âm tiếng Đức: [ʁaˈpʊnt͡səl]) là một câu chuyện cổ tích của Đức trong bộ sưu tập của anh em nhà Grimm, lần đầu xuất bản vào năm 1812 như một phần của "Chuyện kể cho trẻ em và trong nhà".[1] Câu chuyện của anh em nhà Grimm phỏng theo truyện cổ tích Persinette của Charlotte-Rose de Caumont de La Force ban đầu được xuất bản vào năm 1698.[2] Cốt truyện của Rapunzel đã được sử dụng lại trên nhiều sản phẩm truyền thông đại chúng và câu được biết đến nhiều nhất trong tác phẩm này ("Rapunzel, Rapunzel, hãy thả tóc của con/nàng xuống đi") ngày nay là một thành ngữ trong văn hoá đại chúng.

Trong hệ thống phân loại Aarne–Thompson dành cho truyện cổ tích, câu chuyện này được xếp ở loại 130, "những thiếu nữ trong toà tháp".[3]

Andrew Lang đưa câu chuyện vào trong tập The Red Fairy Book.[4] Các phiên bản khác của câu chuyện cũng xuất hiện trong A Book of Witches của Ruth Manning-Sanders và trong sách tranh giành huy chương Caldecott của Paul O. Zelinsky (1998), Rapunzel và trong bộ phim của Disney Nàng công chúa tóc mây (2010).

Câu chuyện của Rapunzel có một số nét tương đồng với câu chuyện cổ Ba tư từ thế kỉ thứ 10 sau Công nguyên về Rudaba, được đính kèm trong bộ sử thi Shahnameh của Ferdowsi. Rudaba muốn thả mái tóc của mình xuống từ trên tháp để người yêu của cô Zal có thể trèo lên chỗ cô ở.[5] Một số chi tiết của câu chuyện cổ tích này cũng có thể đã được dựa trên truyện về Saint Barbara, người được cho là đã bị chính bố cô giam giữ trong một toà tháp cao.[6]

Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Một đôi vợ chồng đang mong có được một đứa con, sống bên cạnh một khu vườn có tường bao quanh vốn là của một mụ phù thuỷ. Người vợ đang khát khao được mang thai một đứa con mong đợi bấy lâu, để ý tới một cây rau rapunzel (hay, trong một số bản khác,[7] của truyện, là rampion), mọc trong vườn và vô cùng mong muốn được ăn cây rau ấy, đến mức nếu không được ăn nó bà sẽ chết mất. Hai đêm đầu, người chồng trèo qua tường vào trong khu vườn ấy để hái rau cho vợ, nhưng tới đêm thứ ba, khi ông đang leo qua tường để về nhà, mụ phù thuỷ, tên là Dame Gothel, bắt được ông và quy cho ông tội ăn trộm. Ông van xin được tha, và người phụ nữ già đồng ý để ông đi, với điều kiện phải trao cho mụ đứa con sắp sinh sau đó của hai người. Tuyệt vọng, ông đành đồng ý. Khi đứa con gái được sinh ra, mụ phù thuỷ mang đứa trẻ đi và tự mình nuôi nấng, đặt tên em bé là Rapunzel. Rapunzel lớn lên trở thành cô bé xinh đẹp nhất thế gian với mái tóc vàng rất dài. Khi Rapunzel 12 tuổi, mụ phù thuỷ giam giữ nàng trong một toà tháp sâu thẳm trong rừng, không có bậc thang hay cửa ra vào, chỉ có một căn phòng và một chiếc cửa sổ. Khi mụ phù thuỷ tới thăm Rapunzel, mụ đứng cạnh toà tháp và gọi:

"Rapunzel, Rapunzel, hãy thả tóc của con xuống đi, để mẹ có thể bước lên những bậc thang ánh vàng".
Rapunzel trong khu vườn cổ tích ở Ludwigsburg, Đức

Nghe thấy những lời đó, Rapunzel quấn mái tóc dài vàng óng của nàng lên một cái móc cạnh cửa sổ, thả xuống chỗ mụ phù thuỷ, để mụ trèo lên phòng của nàng trên tháp. (Một dị bản khác của câu chuyện viết rằng mụ phù thuỷ có khả năng bay lên cao và cô bé không biết gì về mái tóc dài kì diệu của mình.)

Một ngày kia, một chàng hoàng tử cưỡi ngựa qua khu rừng và nghe thấy tiếng hát của Rapunzel từ trên tháp. Bị lôi cuốn bởi giọng hát trong mượt mà ấy, chàng liền đi tìm và thấy toà tháp cao, nhưng không biết lối vào. Chàng quay trở lại đó khá thường xuyên, lắng nghe giọng hát tuyệt vời ấy, và một ngày nọ chàng gặp Dame Gothel tới thăm toà tháp, và cuối cùng hoàng tử đã biết làm cách nào để tới được chỗ Rapunzel. Khi Dame Gothel đi khỏi, chàng gọi Rapunzel thả mái tóc của nàng xuống. Khi nàng làm như vậy, chàng trèo lên, giới thiệu mình với nàng, và sau đó cầu hôn Rapunzel. Nàng đồng ý.

Họ cùng nhau tìm cách trốn khỏi toà tháp, thế là hàng đêm hoàng tử sẽ tới (để tránh mụ phù thuỷ tới vào ban ngày), và mang cho nàng lụa, để Rapunzel từ từ dệt một cái thang. Nhưng trước khi kế hoạch được thực hiện, Rapunzel đã vô tình để lộ chuyện nàng với hoàng tử. Trong ấn bản đầu tiên của Truyện cổ Grimm, Rapunzel ngây thơ nói rằng chiếc váy của nàng ở chỗ quanh bụng ngày càng chật quá (ám chỉ rằng nàng đang mang thai); ở ấn bản thứ hai, nàng hỏi mụ phù thuỷ (do vô tình quên) rằng sao kéo hoàng tử lên lại dễ dàng hơn mụ nhiều thế.[8] Trong cơn tức giận, Dame Gothel đã cắt mất mái tóc đẹp rất dài của Rapunzel và đuổi nàng tới sống ở một nơi vô cùng hoang vu, bắt nàng phải tự lo liệu cho cuộc sống của mình

Khi đêm đó hoàng tử đến, mụ phù thuỷ đã thả mái tóc của Rapunzel xuống để kéo chàng lên. Hoàng tử sợ hãi khi thấy người mình đang đứng trước mặt là mụ phù thuỷ chứ không phải là Rapunzel, giờ nàng đã ở một nơi không ai có thể tìm thấy được. Khi mụ tức giận nói với chàng rằng chàng sẽ không bao giờ được gặp lại Rapunzel nữa, hoàng tử đã nhảy xuống khỏi toà tháp trong tuyệt vọng và bị những ngọn gai bên dưới đâm làm mù mắt. Trong một phiên bản khác, mụ phù thuỷ đẩy hoàng tử xuống và chàng ngã vào những bụi gai, khiến đôi mắt chàng bị mù.

Nhiều tháng trời, hoàng tử lang thang khắp những vùng đất hoang vu nhất của vương quốc và cuối cùng cũng tới nơi Rapunzel sinh sống cùng với hai đứa trẻ nàng sinh đôi, một trai một gái. Một ngày kia, khi Rapunzel hát lúc đang gánh nước đi, hoàng tử nghe thấy giọng hát của nàng, và họ gặp lại nhau. Khi họ đang ở trong vòng tay của nhau, những giọt nước mắt của nàng đã chữa khỏi đôi mắt cho hoàng tử. Hoàng tử đưa nàng và những đứa con về vương quốc, và họ sống hạnh phúc mãi mãi về sau.

Trong một số phiên bản khác của câu chuyện, khi hoàng tử chạm tay vào, mái tóc thần kì của Rapunzel đã mọc lại dài và đẹp như trước.

Trong một dị bản khác, câu chuyện kết thúc với đoạn mụ phù thuỷ đã nhấc mái tóc của Rapunzel ra khỏi cái móc sau khi hoàng tử ngã xuống khỏi toà tháp, và mái tóc ấy đã trượt khỏi tay mụ rơi xuống chân tháp, khiến mụ bị kẹt lại trong toà tháp mãi mãi.

Bình luận[sửa | sửa mã nguồn]

Rapunzel – DresdenSaxony, Đức.

Cuộc trao đổi có vẻ bất thường ở đầu câu chuyện "Rapunzel" là một cách phát triển cốt truyện thường thấy trong truyện cổ tích, cũng từng được sử dụng trong truyện Jack and the Beanstalk, Jack đổi con cừu lấy những hạt đậu, và trong Người đẹp và quái vật, Belle tới chỗ quái vật (the Beast) để đổi lấy việc nó trả lại bông hồng.[9] Thời xưa người ta tin rằng sẽ là khá nguy hiểm khi từ chối không cho phụ nữ mang thai được ăn thứ mà cô ấy mong muốn. Các thành viên trong gia đình thường vượt qua những quãng đường rất dài để thực hiện những mong muốn đó.[10] Thèm được ăn rau diếp hay các loại rau như vậy cho thấy nhu cầu vitamin của cơ thể người phụ nữ.[11] Theo cách giải thích của một nhà khoa học nghiên cứu về thực vật, có thể nhận thấy mụ phù thuỷ rõ ràng là một người có phép thuật hoặc một nhà dược học, người nắm được cách sản xuất và sử dụng một loại cây hoặc thuốc có thể chữa được những biến chứng khi mang thai cho mẹ của Rapunzel. Ergotics, opioids hoặc cannabis có thể xem là các ứng cử viên hàng đầu về loại cây trên trong phiên bản truyện của Ba Tư hay các phiên bản sau này của câu chuyện.

Một câu chuyện chịu ảnh hưởng từ truyện cổ tích "Rapunzel" của anh em Grimm là Petrosinella hay Parsley của Giambattista Basile trong bộ sưu tập truyện cổ tích của ông xuất bản năm 1634, Lo cunto de li cunti (Câu chuyện về những câu chuyện), hay Pentamerone. Truyện kể về một người phụ nữ đang mang thai rất muốn được ăn ít rau mùi tây (parsley) trong vườn của một nữ yêu tinh, sau đó bị bắt và buộc phải hứa cho nó đứa bé. Một câu chuyện tương tự được xuất bản tại Pháp bởi Mademoiselle de la Force, tên là "Persinette". Giống như Rapunzel trong phiên bản đầu tiên của anh em nhà Grimm, Persinette mang thai trong thời kì hoàng tử tới thăm.[8]

Các biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

Rapunzel được miêu tả là có mái tóc vàng trong câu chuyện nguyên gốc của anh em nhà Grimm (ý nói là hoặc có màu vàng hoe, màu vàng dâu hoặc đỏ), mặc dù, từ đó về sau, nàng xuất hiện với mái tóc dài màu vàng.

Có thể, biến thể lâu đời nhất ở châu u của truyện này là Petrosinella, một trong những truyện của xứ Nap-lơ (Naples) trong tập Pentamerone (1634) của Giambattista Basile.

Italo Calvino có in trong sách Italian Folktales (Truyện cổ tích I-ta-li-a) một phiên bản tương tự về một nàng công chúa bị giam giữ trong toà tháp, "The Canary Prince", mặc dù việc này do tính ghen tuông của bà mẹ kế gây ra.

Một câu chuyện của Đức Puddocky cũng mở đầu với một cô gái rơi vào tay một mụ phù thuỷ bởi lấy trộm đồ ăn, nhưng người muốn được ăn thức ăn ấy lại chính là cô gái đó, và người lấy trộm nó là mẹ cô. Một câu chuyện của Ý khác, Prunella, có một cô gái đi lấy trộm đồ ăn về và cũng bị một mụ phù thuỷ bắt được.

Snow-White-Fire-Red, một câu chuyện khác của Ý cùng loại này, và Anthousa, Xanthousa, Chrisomalousa, một câu chuyện của Hy Lạp, kể lại từ điểm nhìn của một anh hùng, chàng và nữ nhân vật chính đã thoát khỏi tay mụ phù thuỷ, nhưng sau đó phải chịu những lời nguyền độc ác.

Trong các phiên bản mới hơn, Rapunzel được miêu tả là một hoạ sĩ, như các phiên bản của Barbie và Disney.

Trong tiểu thuyết Golden của Cameron Dokey, Rapunzel bị giao cho mụ phù thuỷ (tên là Melisande) do một thoả thuận giữa mụ và mẹ của Rapunzel  – nếu người mẹ không yêu Rapunzel cho dù vẻ bề ngoài của cô có thế nào, thì bà ấy phải giao Rapunzel cho mụ phù thuỷ. Rapunzel được sinh ra mà không có tóc và cũng không có hi vọng cô sẽ mọc tóc, do đó cô được đưa cho mụ phù thuỷ nuôi nấng.

Trong tiểu thuyết By the Hair của Kymbr Mundstock, cô gái được đặt tên là Kaprice. Truyện được kể từ điểm nhìn của nhiều nhân vật cho phép người đọc hình dung mục đích việc làm của mỗi nhân vật là gì.

Series truyện tranh Truyện cổ Grimm ấn bản số19 được đặt tên là Rapunzel. Khi Sela gặp một cặp đôi chuyên làm nghề lừa tiền tiết kiệm của mọi người, cô nghĩ đã đến lúc can thiệp và dạy cho chúng một bài học. Nàng Rapunzel xinh đẹp không thả tóc xuống cho một người đàn ông riêng biệt nào, nàng thả tóc xuống cho tất cả đàn ông! Và nàng đã dẫn hai kẻ mù quáng vì tình kia thẳng vào một cái bẫy kinh khủng. Nhưng giống như người xưa hay nói "Tình yêu là mù quáng", đôi khi người bạn chăm sóc nhiều nhất lại chính là người bạn có thể tin tưởng ít nhất.

Trong truyện Bitter Greens của Kate Forsyth, một phiên bản kể lại của truyện Rapunzel, một cô gái trẻ tên là Margherita, sau đổi tên thành Petrosinella, có mái tóc đỏ rực lửa được may ghép lại từ mái tóc của tám cô gái khác bởi mụ phù thuỷ tên là Selena Leonelli. Cô cũng là một trong ba nhân vật chính của truyện.

Trong trò chơi điện tử Medal of Honor: Frontline Rapunzel được nhắc đến trong mức chơi (level) mang tên Operation Rapunzel, trong đó người chơi phải đi giải cứu một thành viên giải phóng người Hà Lan tên là Gerrit, người bị giam giữ trong một trang trại Hà Lan bởi bọn Nazis.

Các phim dựa trên câu chuyện[sửa | sửa mã nguồn]

  • Don Bluth ban đầu định làm một bộ phim hoạt hình chuyển thể có tên Rapunzel, nhưng do thất bại của The Pebble and the Penguin, dự án đã bị huỷ bỏ.
  • Trước đó có một bộ phim hoạt hình chuyển thể với Olivia Newton-John là người lồng tiếng. Khác biệt lớn nhất giữa bộ phim và câu chuyện của anh em Grimm là thay vì làm cho hoàng tử bị mù, mụ phù thuỷ biến anh ta thành một con chim, có thể đó là sự tham khảo từ truyện cổ tích Chú chim xanh (The Blue Bird), một dị bản Pháp của câu chuyện này.
  • Câu chuyện được kể lại trong một tập của mùa thứ hai của series Grimm's Fairy Tale Classics (Truyện cổ Grimm).
  • Một phiên bản người đóng được quay cho chương trình truyền hình như là một phần của series Faerie Tale Theatre của Shelley Duvall, phát sóng trên đài Showtime. Nó được phát sóng vào ngày 5 tháng 2 năm 1983. Trong phim, nhân vật chính (Shelley Duvall thủ vai) bị lấy đi từ tay bố mẹ cô bởi một mụ phù thuỷ (Gena Rowlands), và được nuôi lớn trong toà tháp hẻo lánh và chỉ có thể lên đó bằng cách trèo lên mái tóc rất dài của cô. Jeff Bridges đóng vai hoàng tử, và Roddy McDowall lồng tiếng.
  • Một bộ phim chuyển thể năm 1988 của Đức, Rapunzel oder der Zauber der Tränen (nghĩa là "Rapunzel hay phép thuật của những giọt nước mắt" ("Rapunzel or the Magic of Tears"), kết hợp giữa câu chuyện này với truyện cổ tích ít được biết đến hơn của anh em nhà Grimm Nàng Maleen. Sauk hi thoát khỏi toà tháp của mụ phù thuỷ, Rapunzel làm người giúp việc trong bếp của lâu đài hoàng tử, nơi nàng phải đấu tranh với một công chúa xấu xa tìm cách kết hôn với chàng hoàng tử của nàng.
  • Một phiên bản dựa theo truyện, với sự xuất hiện của Barbie, tên là Barbie as Rapunzel, được phát hành năm 2002. Trong phiên bản này, Rapunzel không phải bị giam trong toà tháp cho tới khi nàng tìm hiểu và biết được về thế giới bên ngoài. Gothel giam giữ Rapunzel trong toà tháp không phải bởi món rau mà bởi vì mụ muốn trả thù bạn trai cũ. Mái tóc của nàng trong phiên bản này cũng không quá quan trọng. Thay vào đó, nó tập trung vào một chiếc cọ vẽ thần kì.[cần dẫn nguồn]
  • Disney phát hành một bộ phim dựa trên câu chuyện cổ tích này vào năm 2010, Nàng công chúa tóc mây (Tangled), ban đầu được đặt tên là Rapunzel.[12] Trong phim, Rapunzel (Mandy Moore lồng tiếng), tuy rất ngây thơ nhưng quyết đoán hơn nhiều so với nhân vật trong truyện, và có một mái tóc thần kì dài tới 70 ft (khoảng 21,3m), có khả năng chữa lành các vết thương và phục hồi lại sự trẻ trung (đặc biệt là với Gothel, và đó là lí do vì sao bà ta giam giữ Rapunzel trong toà tháp cao ngay từ đầu). Để khả năng chữa lành các vết thương của mái tóc mình có tác dụng, Rapunzel phải hát một câu thần chú. Giống như nhiều phiên bản của câu chuyện cổ tích, nước mắt của Rapunzel cũng có sức mạnh chữa lành bệnh tật. Một điểm khác của bộ phim đó là Gothel được miêu tả là một bà già sử dụng mái tóc của Rapunzel để khôi phục lại tuổi trẻ của mình chứ không phải là một mụ phù thuỷ.

Nguồn gốc tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Campanula rapunculus, một ứng cử viên cho nguồn gốc tên gọi "Rapunzel"

Khá khó để xác định loài cây nào đã được anh em nhà Grimm nhắc tới qua từ Rapunzel, nhưng những loài thực vật sau, được liệt kê trong từ điển của riêng chúng,[13] là các ứng cử viên sáng giá.

  1. Valerianella locusta, tên thường gọi: Corn salad, mache, lamb's lettuce, field salad. Rapunzel được gọi là FeldsalatĐức, Nuesslisalat ở Thuỵ Sĩ và Vogerlsalat ở Áo. Loại cây được con người trồng có những chiếc lá tròn màu xanh mọng nước hình bông hoa hồng mọc bên dưới khi còn non, người ta hái toàn bộ cây, rửa sạch sạn và ăn với dầu ăn và giấm. Khi phóng hạt nó để lộ ra những cụm hoa nhỏ màu trắng.[14] Thư mục hạt giống của Etty [15] nói rằng Corn Salad (Verte de Cambrai) bắt đầu được sử dụng từ năm 1810.
  2. Campanula rapunculus được biết đến với tên gọi Rapunzel-Glockenblume trong tiếng Đức, và rampion trong tiếng Anh[16] trong thư mục các loại hạt giống của Etty, và mặc dù được phân loại trong một họ khác, Campanulaceae, nó có hình bông hoa hồng khi còn non, dù cho có lá kim. Một số bản dịch tiếng Anh của truyện Rapunzel sử dụng từ "rampion". Thư mục của Etty nói rằng loài cây này đã được nhắc đến từ năm 1633, loài cây được coi trọng nhất trong các loại salads, được gieo vào khoảng tháng 4 hoặc tháng 5. Thư mục về các loài cây Sand Mountain Herbs[17] miêu tả rễ cây là ăn cực kì ngon, và những chiếc lá hình hoa hồng được miêu tả là "có thể ăn được", ra hoa màu xanh da trời [18] vào tháng 6 hoặc tháng 7.
  3. Phyteuma spicatum, được biết đến với tên gọi Ährige Teufelskralle trong tiếng Đức và "spiked rampion" trong tiếng Anh.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Jacob and Wilhelm Grimm (1884) Household Tales (English translation by Margaretmm Hunt), "Rapunzel"
  2. ^ Jack Zipes (1991) Spells of Enchantment: The Wondrous Fairy Tales of Western Culture, Viking, p. 794, ISBN 0670830534.
  3. ^ D. L. Ashliman, "The Grimm Brothers' Children's and Household Tales"
  4. ^ Andrew Lang, The Red Fairy Book, "Rapunzel"
  5. ^ Rapunzal? iranian.com, 9 November 2009.
  6. ^ A Day to Honor Saint Barbara. Folkstory.com (30 November 1997). Retrieved on 6 April 2013.
  7. ^ Rapunzel. german.berkeley.edu, adapted from: Rinkes, Kathleen J. Translating Rapunzel; A very Long Process. 17 April 2001.
  8. ^ a ă Maria Tatar (1987) The Hard Facts of the Grimms' Fairy Tales, Princeton University Press, p. 18, ISBN 0-691-06722-8
  9. ^ Maria Tatar (2004) The Annotated Brothers Grimm, W W Norton & Company Incorporated, p. 58 ISBN 0-393-05848-4.
  10. ^ Jack Zipes (2001) The Great Fairy Tale Tradition: From Straparola and Basile to the Brothers Grimm, p. 474, ISBN 0-393-97636-X
  11. ^ Heiner, Heidi Anne. “Annotated Rapunzel”. surlalunefairytales.com. 
  12. ^ Tangled (2010). IMDb.com
  13. ^ Kompetenzzentrum Trier:: Projekte. Germa83.uni-trier.de. Retrieved on 6 April 2013.
  14. ^ Foto von Valerianella locusta, Echter Feldsalat: Blüte. Nafoku.de. Retrieved on 6 April 2013.
  15. ^ Heritage, Unusual & Regional Vegetable Seeds for 2005, Thomas Etty Esq.
  16. ^ GIF image. users.dircon.co.uk
  17. ^ Order Rampion, Campanula rapunculus, Herb Seeds. Sandmountainherbs.com. Retrieved on 6 April 2013.
  18. ^ Foto von Campanula rapunculus, Rapunzel-Glockenblume: Blüte. Nafoku.de. Retrieved on 6 April 2013.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Brothers Grimm