Rau muống

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Rau muống
Ipomoea aquatica (2).JPG
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Asterids
Bộ (ordo) Solanales
Họ (familia) Convolvulaceae
Chi (genus) Ipomoea
Loài (species) I. aquatica
Danh pháp hai phần
Ipomoea aquatica
Forssk.

Rau muống (danh pháp hai phần: Ipomoea aquatica) là một loài thực vật nhiệt đới bán thủy sinh thuộc họ Bìm bìm (Convolvulaceae), là một loại rau ăn lá. Phân bố tự nhiên chính xác của loài này hiện chưa rõ do được trồng phổ biến khắp các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới. Tại Việt Nam, nó là một loại rau rất phổ thông và rất được ưa chuộng.

Miêu tả[sửa | sửa mã nguồn]

Cây mọc bò, ở mặt nước hoặc trên cạn. Thân rỗng, dày, có rễ mắt, không lông. Lá hình ba cạnh, đầu nhọn, đôi khi hẹp và dài. Hoa to, có màu trắng hay hồng tím, ống hoa tím nhạt, mọc từng 1-2 hoa trên một cuống. Quả nang tròn, đường kính 7–9 mm, chứa 4 hạt có lông màu hung, đường kính mỗi hạt khoảng 4 mm.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam, rau muống có hai loại trắng và tía, mỗi loại có đặc tính riêng. Cả hai loại đều có thể trồng trên cạn hoặc dưới nước [1]. Thông thường thì người ta trồng rau muống trắng trên cạn; còn rau muống tía thường được trồng (hay mọc tự nhiên) dưới nước, nên tục gọi là rau muống đồng (hay rau muống ruộng).[2]

Thành phần hóa học[sửa | sửa mã nguồn]

Rau muống có 92% nước, 3,2% protit, 2,5% gluxit, 1% xenluloza, 1,3% tro. Hàm lượng muối khoáng cao: canxi, phốtpho, sắt. Vitamin có caroten, vitamin C, vitamin B1, vitamin PP, vitamin B2.

Công dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Ẩm thực và chế biến[sửa | sửa mã nguồn]

Rau muống xào kiểu Penang, Malaysia.

Từ rau muống, cách đơn giản nhất là luộc lên. Và tùy theo từng vùng, người ta có thể chấm với nước mắm, xì dầu, chao, mắm téptương (đặc biệt là tương Bần). Nước của rau muống luộc cũng thường được người dân Việt Nam uống pha với chanh sau bữa ăn. Ngoài rau muống luộc, còn có rau muống xào tỏi (có thể gia chút mắm tôm theo truyền thống); làm nộm rau muống với lạc rang giã dập, giấm, đường, tỏi, ớt; gia vào canh riêu cua hoặc canh cua khoai sọ thay cho rau rút, ăn với lẩu gà, làm rau muống nướng. Cũng thường thấy rau muống được chẻ ra ăn sống với các loại rau thơm khác. Mỗi cách đều có hương vị riêng và tùy sở thích của từng vùng, từng miền mà cách chế biến có khác nhau. Khuyến cáo: rau muống ăn sống phải được rửa kỹ, ngâm nước muối hoặc nước ozone để khử trùng.

Tại Việt Nam xưa đã từng có loại rau muống được nuôi trồng rất cầu kỳ bằng cách cho ngọn rau mọc cuộn trong những chiếc vỏ ốc rỗng, để lấy những ngọn rau muống trắng nõn và mập mạp tiến vua.

Dược lý[sửa | sửa mã nguồn]

Chữa bệnh đái tháo đường. Đắp vết loét do bệnh zona.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Thơ văn[sửa | sửa mã nguồn]

Anh đi anh nhớ quê nhà,
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguồn: website Y khoa.net [1].
  2. ^ Ngoài hai loại rau muống đã kể trên, ở Việt Nam và một nước khác, còn có loại muống biển (có khi còn được gọi là rau muống biển). Đây là loài cây thân thảo, cũng thuộc họ Bìm bìm, sống nhiều năm, mọc bò lan trên các bãi biển và các cồn cát trên bờ biển. Người ta không ăn rau muống biển, mà chỉ dùng để làm thuốc...Xem chi tiết trong bài "Rau muống biển, chữa nhiều bệnh" trên website Nông nghiệp Việt Nam [2] và thông tin ở đây: [3].

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]