René Char

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
René Char
Sinh 14 tháng 6, 1907(1907-06-14)
L'Isle-sur-la-Sorgue
Mất 19 tháng 2, 1988 (80 tuổi)
Paris
Công việc Nhà thơ
Quốc gia Pháp
Giai đoạn sáng tác 1920–40
Thể loại Thơ

René Char (14 tháng 6 năm 1907 – 19 tháng 2 năm 1988) là một trong những nhà thơ trữ tình lớn nhất của Pháp thế kỷ XX.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

René Char sinh ở L'Isle-sur-la-Sorgue, Vaucluse. Năm 1929 làm quen với André Breton, Paul Éluard và một số nhà thơ phái Siêu thực khác, in thơ ở tạp chí “Chủ nghĩa Siêu thực phục vụ cách mạng”, trở thành một nhà thơ nổi tiếng từ thời kỳ này. Từ năm 1935 không tham gia những hoạt động của phái nhưng vẫn giữ quan hệ với những người bạn cũ.

Những năm 1941 – 1945 René Char tham gia chiến đấu chống phát xít. Ký ức về những năm tháng chiến đấu được thể hiện trong nhiều tập thơ và văn xuôi. Tập thơ Giận dữ và bí mật xuất bản năm 1948 được Albert Camus gọi là “một hiện tượng dị thường của thơ ca Pháp sau Cảm giác của Arthur RimbaudRượu của Guillaume Apollinaire.

Những năm cuối cuộc đời René Char về sống trong trang trại của mình ở Provence. Năm 1955 gặp nhà triết học Martin HeideggerParis. Trở về Provence, Char tổ chức các cuộc hội thảo về triết học của Martin Heidegger ở Provence. Martin Heidegger viết tặng René Char một tập thơ và thường xuyên nhắc đến thơ của René Char trong các tác phẩm của mình.

Ngoài thơ, René Char còn là tác giả của nhiều tập sách danh ngôn nổi tiếng. Ông được tặng thưởng nhiều huân chương của nước Pháp. Một giải thưởng dành cho các nhà thơ trẻ nước Pháp mang tên ông. Ở L'Isle-sur-la-Sorgue có bảo tàng René Char.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Arsenal (1929).
  • Ralentir Travaux (1930 - in cùng André BretonPaul Eluard).
  • Artine (1930).
  • Le marteau sans maître (1934).
  • Seuls demeurent (1943).
  • le Poème pulvérisé (1945).
  • Feuillets d'Hypnos (1946).
  • Fureur et mystère (1948).
  • Les Matinaux (1950).
  • A une sérénité crispée (1951).
  • Recherche de la base et du sommet (1955).
  • La Parole en archipel (1962).
  • Dans la pluie giboyeuse (1968).
  • Le Nu perdu (1971).
  • Aromates chasseurs (1976).
  • Chants de la Balandrane (1977).
  • Fenêtres dormantes et porte sur le toit (1979).
  • Les voisinages de Van Gogh (1985).
  • Éloge d'une soupçonnée (1988).
  • Œuvres complètes (Tuyển tập tác phẩm in năm 1983, Jean Roudaut viết lời giới thiệu)

Một bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

 
Allégeance
 

Dans les rues de la ville il y a mon amour. Peu importe où il va dans le temps divisé. Il n'est plus mon amour, chacun peut lui parler. Il ne se souvient plus; qui au juste l'aima?

 

Il cherche son pareil dans le voeu des regards. L'espace qu'il parcourt est ma fidélité. Il dessine l'espoir et léger l'éconduit. Il est prépondérant sans qu'il y prenne part.

 

Je vis au fond de lui comme une épave heureuse. A son insu, ma solitude est son trésor. Dans le grand méridien où s'inscrit son essor, ma liberté le creuse.

 

Dans les rues de la ville il y a mon amour. Peu importe où il va dans le temps divisé. Il n'est plus mon amour, chacun peut lui parler. Il ne se souvient plus; qui au juste l'aima et l'éclaire de loin pour qu'il ne tombe pas?

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]