René Cogny

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
René Cogny
Tiểu sử
Biệt danh Le General Vitesse (Viên tướng tốc độ), 'Coco la Sirène'
Sinh

25.4.1904

Saint-Valery-en-Caux, Normandie, Pháp
Mất

11 tháng 9, 1968 (64 tuổi) [1]

Địa Trung Hải
Binh nghiệp
Phục vụ Pháp
Thuộc Quân đội Pháp
Cấp bậc Trung tướng
Chỉ huy Lực lượng Bộ binh Pháp ở miền Bắc Việt Nam
Tham chiến Chiến tranh thế giới thứ hai
Chiến tranh Đông Dương
Khen thưởng Croix de guerre (chiến công bội tinh)

René Cogny (25.4.1904, Saint-Valery-en-Caux – 11.9.1968, Địa Trung Hải )[1][2] là một trung tướng người Pháp, một cựu chiến binh thời Chiến tranh thế giới thứ hai và trong phong trào kháng chiến Pháp, đồng thời cũng là người sống sót trải qua các Trại tập trung BuchenwaldTrại tập trung Mauthausen-Gusen. Ông là người chỉ huy lực lượng Pháp tại Bắc Kỳ (miền bắc Việt Nam) trong thời chiến tranh Đông Dương, và nhất là trong Trận Điện Biên Phủ. Cuộc xung đột cá nhân và pháp lý với viên tướng cấp trên Henri Navarre trở thành một vụ tranh cãi công khai. Ông được cấp dưới đặt cho biệt danh là Le General Vitesse (viên tướng tốc độ), và nổi tiếng về sự phô trương quân sự, sự tự nhiên và khéo léo đối với giới báo chí. Cogny bị tử nạn khi chuyến bay 1611 của hãng Air France bị rơi tại Địa Trung Hải gần Nice ngày 11.9.1968.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Cogny sinh tại Saint-Valery-en-Caux, Normandie ngày 25.4.1904, là con của một viên trung sĩ cảnh sát. Là một học sinh giỏi, Cogny được thưởng một học bổng để vào học ở trường Bách khoa Paris, nơi ông đậu bằng kỹ sư, một bằng tốt nghiệp Học viện Khoa học Chính trị Pháp,[2][3] và bằng tiến sĩ luật.[4] Cogny nhập ngũ trước khi nổ ra Chiến tranh thế giới thứ hai, tốt nghiệp trường pháo binh Fontainebleau năm 1929, trở thành người chỉ huy một pháo đội khi chiến tranh bắt đầu nổ ra. Ông đã được tưởng thưởng Croix de guerre (chiến công bội tinh) từ những công trạng đầu tiên.[2]

Thế chiến thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6/1940, ông là một trong số 780.000 chiến sĩ bị quân đội Đức Quốc Xã bắt làm tù binh khi chúng phá vỡ tuyến phòng thủ Maginot. Ông đã bị giam giữ gần 1 năm trước khi ông trốn thoát khỏi Trại tập trung trong tháng 5/1941 bằng cách trần truồng bò qua cống thoát nước cùng với 3 đồng đội, đẩy gói quần áo đi trước.[5][5] Sau đó Cogny trốn về Pháp đưới thời chính phủ Vichy qua ngả bang Bayern sau khi có cuộc “Đình chiến Compiègne” để gia nhập lực lượng Kháng chiến Pháp.[6] Năm 1943, khi là thiếu tá, Cogny lại bị Gestapo bắt, bị hỏi cung và tra tấn trong 6 tháng ở nhà tù Frennes, rồi được gửi tới trại tập trung Buchenwald, và sau đó là trại tập trung Mauthausen-Gusen.[3] Cogny được giải phóng trong tháng 4 năm 1945 trong tình trạng sức khỏe tồi tệ. Mặc dù được hồi phục từ một "bộ xương biết đi",[3] nhưng mắc tật đi khập khiễng khiến ông phải dùng một gậy chống suốt quãng đời còn lại.[4]

Từ năm 1946 tới 1947, mặc dù là sĩ quan pháo binh, Cogny đã chỉ huy một sư đoàn Bộ binh gần Paris, sau đó ông được bổ nhiệm làm thư ký điều hành cho Bộ trưởng bộ Quốc phòng Pháp, rồi vào bộ tham mưu của tướng Jean de Lattre de Tassigny.

Chiến tranh Đông Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Được tướng Jean de Lattre de Tassigny chọn tháp tùng khi De Lattre được bổ nhiệm làm Cao ủy Pháp tại Đông Dương vào tháng 12 năm 1950, Cogny đã sang Việt Nam cùng với tướng Raoul Salan. Tháng giêng năm 1952, tướng Salan thay tướng De Lattre de Tassigny đã từ trần, làm chỉ huy trưởng Quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương thì Cogny nắm quyền chỉ huy một sư đoàn bộ binh và đoàn quân lưu động ở vùng châu thổ sông Hồng ]][3].

Tháng 5 năm 1953, tướng Henri Navarre lên thay tướng Salan, Cogny thay tướng De Linarès nắm quyền chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Bắc Kỳ và được thăng cấp trung tướng[2].

Điện Biên Phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Davidson, thì chính Cogny đã đề xuất với Navarre dùng Điện Biên Phủ làm một "điểm tựa"[7]. Tuy nhiên Jules Roy không đồng ý với Davidson. Roy lập luận : Điện Biên Phủ là nơi mà Cogny hình dung như một căn cứ lưu động nhẹ nhàng cho các cuộc hành quân, nhưng Navarre lại coi đó là một pháo đài nặng về phòng thủ. Cogny là một trong số nhiều sĩ quan đã phản đối chiến lược mới này, ông nói rằng ‘’"chúng ta liều lĩnh ở một trận Na Sản mới trong những điều kiện tồi tệ hơn".[8] Tuy nhiên, những lời phản đối này đã không hiệu quả. Tuy bản thân đóng bản doanh ở Hà Nội trong khi diễn ra trận Điện Biên Phủ, nhưng khi nhìn thấy trận chiến bất lợi cho Pháp, Cogny đã tìm cách tới khu Điện Biên Phủ bị bao vây để nắm quyền chỉ huy; nhưng máy bay chở ông đã không đáp xuống được vì bị quá nhiều súng cao xạ phòng không bắn lên ngày 17.3.1954. Ông đã định nhẩy dù xuống, nhưng người ta đã khuyên ông không nên làm việc này vì quá nguy hiểm.[9]

Trong suốt cuộc chiến, Cogny luôn mâu thuẫn với cấp trên Navarre về việc bố trí các lực lượng giữa Điện Biên Phủ, khu đồng bằng Bắc bộ của riêng Cogny, và cuộc hành quân 'Atlanta' của Navarre. Trong thư trả lời một lá thư chê trách của tướng Navarre ngày 29.3.1954, Cogny đã thông báo cho cấp trên của mình là ông không còn muốn phục vụ dưới sự chỉ huy của ông ta nữa.[10] Thời gian ra đi của ông không được bàn tới vào lúc đó, và Cogny tiếp tục phục vụ dưới quyền chỉ huy của Navarre, nhưng quan hệ giữa hai người bị xấu đi đáng kể. Cogny luôn tiếp tục tìm cách từ chối gửi một số quân tăng viện cho Điện Biên Phủ hoặc các nỗ lực cứu viện liên quan khi ông cho rằng việc đó sẽ làm suy giảm sức mạnh của mình ở vùng đồng bằng Bắc bộ.[11] Ngày 2.5.1954, Navarre đã đi xa hơn bằng cách đe dọa điều tra Cogny về tội “chủ bại” trong một thông cáo báo chí.[12][13]

Khi Điện Biên Phủ sắp bị rơi vào tay Việt Minh, chính Cogny đã nhận những lời kêu gọi qua radio từ người chỉ huy ở đây,[2] đại tá Christian de Castries.

De Castries: "Quân Việt ở khắp nơi. Tình hình rất nguy kịch. Trận chiến ở thế cài răng lược khắp nơi. Tôi cảm thấy sắp kết thúc, nhưng chúng tôi sẽ chiến đấu tới cùng."

Cogny: "Vâng, tôi hiểu. Các anh sẽ chiến đấu tới cùng. Không có chuyện các anh sẽ trương cờ trắng, sau sự chống cự anh hùng của các anh".

Và :

De Castries: "Tôi sẽ cho nổ tung các cơ sở. Các kho đạn dược đã phát nổ rồi. Tạm biệt".

Cogny: "Vâng, rồi, tạm biệt, ông bạn già".[2]

Khi đêm xuống, mọi vị trí trung tâm của Pháp ở Điện Biên Phủ đều bị chiếm và Điện Biên Phủ thất thủ.[2]

Chỉ huy ở châu Phi[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng Giêng năm 1957, một cuộc mưu sát nhắm vào tướng Raoul SalanAlgérie đã lộ ra là được thi hành bởi một cựu binh sĩ nhẩy dù người Pháp nhằm để cho Cogny thay thế Salan,[14] song le năm 1963 Cogny đã trở thành người chỉ huy Lực lượng Pháp ở Trung Phi.[2]

Từ trần[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 11.9.1968,[1] chuyến bay 1611 của hãng Air France có chở tướng Cogny khi bay qua Địa Trung Hải đã bị rơi ở gần Nice. Cogny cùng với 94 người khác đã bị tử nạn.

Phong cách chỉ huy[sửa | sửa mã nguồn]

Cogny được các sử gia coi là người chỉ huy có phong cách đặc biệt phô trương quân sự trong thời gian ở Việt Nam. Bernard Fall nhận xét rằng cần phải có "một loại hăng hái và quyết tâm đặc biệt" mới có thể hoàn thành vai trò của Cogny trong cuộc xung đột.[3] Như một "Le General Vitesse" (viên tướng tốc độ), Cogny được cấp dưới gọi là 'Coco la Sirène' do việc ông sử dụng các người hộ tống cỡi mô-tô với còi hụ. Đối với thuộc cấp, ông là vị chỉ huy được yêu thích, và đặc biệt ông thường đối xử với các nhà báo cách khéo léo, khá bình dân.[4] Cogny tập trung sự quan tâm của mình vào vùng Đồng bằng Bắc bộ, nơi đội quân của ông chiếm đóng, ông tự gọi mình là "Người của vùng châu thổ". Ngày 7.6.1954 Cogny là chủ đề của một bài báo trên Time Magazine với nhan đề "Viên tướng vùng châu thổ" (Delta General).[5] Mặc dù tính bình dân, Cogny được cho là quá "nhạy cảm với lời phê bình chỉ trích" và có khuynh hướng "nghiền ngẫm những xúc phạm có thực hay tưởng tượng ra".[4] Ông bị Roy chỉ trích là đã quá tập chú vào việc đổ lỗi cho Navarre về thất bại trong cuộc chiến Đông Dương thay vì tìm tòi một giải pháp cho cuộc chiến này.[2]

Ghi chú và Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â “Airplane Accidents 1960-1989”. Emergency Management.net. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2010. 
  2. ^ a ă â b c d đ e ê Roy, p. 313-314.
  3. ^ a ă â b c Fall, p. 62.
  4. ^ a ă â b Windrow, p. 207.
  5. ^ a ă â “Foreign News: Delta General”. Time. 7 tháng 6 năm 1954. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2010. 
  6. ^ Fall (1961), p. 62.
  7. ^ Davidson, p. 182.
  8. ^ Roy, p. 21.
  9. ^ Davidson, p. 240–1.
  10. ^ Windrow, p. 472.
  11. ^ Windrow, p. 543.
  12. ^ Fall, (1966) p. 358
  13. ^ Windrow, p. 584
  14. ^ Horne, p. 182.

Online

In ấn

  • Fall, Bernard B. (1966). Hell in a Very Small Place. The Siege of Dien Bien Phu. London: Da Capo Press. ISBN 978-0-306-81157-9. 
  • Fall, Bernard B. (1961). Street Without Joy. The French Debacle in Indochina. New York: Stackpole Military History. ISBN 978-0-8117-3236-9. 
  • Fall, Bernard B. (1967). The Two Vietnams. A Political and Military Analysis . New York: Frederick A. Praeger, Inc. 
  • Roy, Jules (1963). The Battle of Dien Bien Phu. New York: Carroll and Graf Publishers. ISBN 978-0-7867-0958-8. 
  • Horne, Alistair (1977). A Savage War of Peace : Algeria 1954-1962. NYRB Classics. tr. 182. ISBN 1-59017-218-3. 
  • Windrow, Martin (2004). The Last Valley. Dien Bien Phu and the French Defeat in Vietnam. London: Weidenfeld and Nicolson. ISBN 978-0-304-36692-7.