Rihanna

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Rihanna
Rihanna 2012 (Headshot).jpg
Rihanna tại buổi ra mắt phim Chiến hạm vào năm 2012.
Sinh 20 tháng 2, 1988 (26 tuổi)
Nguyên quán Saint Michael, Barbados
Nghề nghiệp ca sĩ, nhạc sĩ, người mẫu
Thể loại Pop, R&B, Dance
Năm 2005–nay
Hãng đĩa Def Jam
Website www.rihannanow.com

Robyn Rihanna Fenty (sinh ngày 20 tháng 2 năm 1988), được biết đến với cái tên Rihanna (phát âm /riˈɑːnə/ ree-YAH-nə or /riˈænə/ ree-AN), là một ca sĩ và kiêm viết nhạc R&B người Barbados. Sinh ra ở Saint Michael, Barbados, Rihanna đã chuyển đến Mỹ năm 16 để theo đuổi sự nghiệp ca hát dưới sự hướng dẫn của nhà sản xuất thu âm Evan Rogers. Sau đó cô đã ký hợp đồng với Def Jam Recordings sau buổi thử giọng với giám đốc Jay-Z.

Vào năm 2005, Rihanna phát hành album phòng thu đầu tay của mình, Music of the Sun, và đã có mặt trong top 10 của bảng xếp hạng Billboard 200 và đặc biệt xuất hiện trên Billboard Hot 100 với đĩa đơn "Pon de Replay." Chưa đầy một năm sau đó, cô ấy đã phát hành album phòng thu thử hai của cô ấy, A Girl Like Me (2006), đã có mặt tại trong top 5 của bảng xếp hạng album Billboard, và có được đĩa đơn quán quân đầu tiên ở Mỹ, "SOS", đồng thời có sự góp mặt của "Unfaithful" và "Break It Off" trên top 10 bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Album phòng thu thứ 3 của Rihanna, Good Girl Gone Bad (2007), đạt vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng Billboard 200, đặc biệt với năm đĩa đơn nằm trong top 10 —"Umbrella", "Take a Bow" and "Disturbia"—và một hit nổi tiếng toàn thế giới "Don't Stop the Music". Album đã được đề cử 9 giải Grammy, và đoạt được giải Grammy cho Hợp tác Rap/hát hiệu quả nhất cho "Umbrella," với sự hợp tác của Jay-Z. Album phòng thu thứ 4 của cô ấy, Rated R, được phát hành vào tháng 11 năm 2009, và đã đạt vị trí thứ 4 trên bảng xếp hạng Billboard 200. 3 đĩa đơn mở đầu của album, "Russian Roulette", "Hard" and "Rude Boy" đã đạt những vị trí cao trong top 10 tại bảng xếp hạng Billboard Hot 100, với "Rude Boy" đạt no.1. Cô ấy đã phát hành album phòng thu thứ 5 của mình, Loud, vào tháng 11 năm 2010, với các đĩa đơn quán quân ở Mỹ, "Only Girl (In the World)", "What's My Name?"[1][2]S&M. Album phòng thu thứ 6 Talk That Talk được phát hành vào ngày 18 tháng 11 năm 2011 với 2 đĩa đơn hit toàn cầu là "We Found Love" (kết hợp cùng DJ người Scotland Calvin Harris) (10 tuần quán quân trên Billboard Hot 100) và "Where Have You Been" (No.5 trên Billboard 100). Đúng 1 năm sau đó album phòng thu thứ 7 của cô Unapologetic được ra mắt và nó trở thành album đầu tiên của cô quán quân tại bảng xếp hạng Billboard 200 với 238.000 bản được tiêu thụ ngay trong tuần đầu tiên phát hành. 2 đĩa đơn đầu trích từ album đều đạt thứ hạng cao trên các bảng xếp hạng."Diamonds" trở thành đĩa đơn quán quân thứ 12 của cô tại Billboard Hot 100 giúp cô ngang hàng với nữ hoàng nhạc pop Madonna về số đĩa đơn No.1 tại bảng xếp hạng này. "Stay" (kết hợp với Mikky Ekko) cũng vươn lên được No.3 tại Billboard 100 và trở thành đĩa đơn thứ 10 của cô quán quân tại Billboard Pop Songs

Rihanna đã bán hơn 25 triệu album và 60 triệu đĩa trên toàn thế giới.[3] Cô ấy đã giành được 13 đĩa đơn quán quân trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 từ khi xuất hiện lần đầu tiên trên bảng xếp hạng này vào ngày 11 tháng 6 năm 2005, là ca sĩ có số lượng đĩa đơn quán quân nhiều nhất trong một khoảng thời gian.[4][5] Vào ngày 23 tháng 7 năm 2010, Rihanna đã bán được khoảng 5,563,000 đĩa album ở Mỹ.[6] Cô ấy đã nhận được nhiều giải thưởng, bao gồm giải Ca sĩ nữ bán chạy đĩa đơn nhất trên thế giới trong lễ trao giải năm 2007 World Music Awards và giải Nữ ca sĩ giải trí của năm, đồng thời vào năm 2008 là giải Ca sĩ nữ Soul/R&B được yêu thích nhất và Ca sĩ nữ Pop/Rock được yêu thích nhất tại buổi trao giải American Music Awards.[7][8] Cô được xem là một đại sứ danh dự của Barbados. Vào tháng 1 năm 2010, Rihanna nhận hai giải Grammy cho đĩa đơn với Jay-Z vào năm 2009 - "Run This Town".[9]. Rihanna cũng đã lập kỉ lục trên Youtube khi là nghệ sĩ đầu tiên có đến 17 Video âm nhạc cán mốc trên 100 triệu lượt xem.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

1988-2004: Tuổi trẻ và khởi đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Rihanna sinh ra tại Saint Michael, Barbados vào ngày 20 tháng 2 năm 1988, là con của Monica, một kế toán và Ronald Fenty, một quản đốc nhà kho.[10] Mẹ cô ấy là người Guyana, và cha cô ấy là người Barbados gốc Ireland.[11] Cô ấy là người chị cả trong 3 chị em; 2 đứa em nhỏ là Rorrey và Rajad Fenty. Cô ấy bắt đầu ca hát khi lên 7.[12] Thời thơ ấu của cô ấy bị ảnh hưởng nặng nề bởi chứng nghiện thuốc kích thích của người cha và cuộc hôn nhân không mấy vững chắc của bố mẹ, và đã ly dị khi cô lên 14 tuổi.[12] Rihanna học trường Charles F. Broome Memorial, một trường tiểu học ở Barbados, và sau đó là trường Combermere, nơi cô đã thành lập một nhóm nhạc với hai người bạn cùng lớp vào năm 15 tuổi. Năm 2004, cô ấy giành giải Hoa khôi Sắc đẹp tại trường Combermere.[13] Cô ấy từng là một thiếu sinh quân đội trong một chương trình huấn luyện quân sự với quân đội Barbados và Shontelle là người huấn luyện cho cô ấy.[14]

Vào năm 2003, một số người bạn đã giới thiệu Rihanna và 2 người bạn trong nhóm nhạc của cô ấy cho nhà sản xuất và thu âm Evan Rogers, khi ông đang đi nghỉ mát với vợ ở Barbados. Cả nhóm đã thử giọng cho Rogers nghe, và ông đá nói "phút giây mà Rihanna bước vào căn phòng, tôi có cảm giác rằng hai cô gái kia không tồn tại." Khi thử giọng cho Rogers, Rihanna đã hát bài "Emotion" của nhóm nhạc đình đám Destiny’s Child. Trong những năm tiếp theo, Rihanna và mẹ của mình đã qua lại liên tục nhà của Rogers tại Stamford, Connecticut. Sau đó, vừa bước qua tuổi 16, cô ấy đã di cư sang Hoa Kỳ và chuyển đến sống chung với Rogers và vợ của ông ấy. Carl Sturken đã giúp đỡ cô ấy thu âm bốn bài hát demo,[15] bao gồm bản ballad "Last Time", một bản cover hit của Whitney Houston – "For the Love of You",[12] và bài hát đã trở thành hit đầu tiên của cô ấy: "Pon de Replay", rồi gửi cho các công ty thu âm khác nhau. Phải mất một năm để thu âm các bản demo này, bởi vì Rihanna đang đi học và chỉ thu âm được vào suốt mùa hè và dịp lễ Giáng sinh. Các bài hát này đã được Def Jam chấp thuận, và Jay-Z – chủ tịch đã mời cô ấy tham gia buổi thử giọng trực tiếp, và nhanh chóng ký kết với Rihanna.[13][16]

2005-2006: Music of the SunA Girl Like Me[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hát cho Def Jam, cô ấy đã dành 3 tháng tiếp theo để thu âm và hoàn thành album đầu tay của chính mình. Album được hợp tác sản xuất bởi Evan Rogers, Carl Sturken, Stargate và Poke & Tone. Cô ấy lần đầu tiên cộng tác cùng với Memphis Bleek trong album phòng thu thứ 4 của anh ấy 534 trước khi cô ấy debut. Cô ấy đã phát hành single đầu tay của mình,"Pon de Replay", vào ngày 22 tháng 8 năm 2005, và đạt được vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 và bảng xếp hạng UK Singles Chart. Nó trở thành một hit toàn cầu khi đạt vị trí top ten tại 15 quốc gia khác nhau. Album đầu tiên của cô ấy, Music of the Sun, được phát hành vào tháng 8 năm 1005 tại Mỹ. Album đạt vị trí số 10 trên Billboard 200, bán được hơn 69,000 bản trong tuần đầu tiên. Album đã bán hơn 2 triệu bản trên toàn thế giới và nhận được chứng nhận đĩa vàng bởi Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Mỹ, bán được hơn 500,000 đĩa.

Âm nhạc của cô ấy được giới thiệu trên thị trường với thể loại Reggae vì cô vốn là người gốc Caribbean. Album đã nhận được rất nhiều đánh giá khác nhau từ các nhà phê bình âm nhạc. Tạp chí Rolling Stone đánh giá 2 sao rưỡi trên 5 sao và cho đó là một album không đáng để nghe lại, tính khéo léo và nhịp điệu của các đĩa đơn với "giọng hát chung chung, hơi trục trặc và quá kiểu cách" khi chuyển điệu R&B nhờ vào "nét quyết rũ của người Caribbean". Sal Cinquemani của tạp chí Slant mô tả album như là "một ca sĩ tuổi teen hát R&B ở mấy quán rượu" và mô tả đĩa đơn đầu tay của Rihanna "Pon de Replay" như "một hỗn hợp dancepop nhưng hơi vội vã và mang một chút "Baby Boy" của Beyoncé. Một nhận xét từ tờ Entertainment Weekly cho rằng "Chất dance và R&B trong album thật là rẻ tiền và cách soạn nhạc thì quá ủy mị, đã làm nên Music of the Sun". Đĩa đơn thứ 2 từ album "If It's Lovin' that You Want" đạt được ít thành công hơn "Pon de Replay", và đã đạt vị trí 63 ở Mỹ, vị trí 11 ở bảng xếp hạng UK Singles Chart. Ở Australia, IrelandNew Zealand đĩa đơn nằm trong top ten tại các nước này.

Một tháng sau khi phát hành album đầu tay của riêng mình, cô ấy bắt đầu làm việc cho album phòng thứ hai. Album bao gồm nhà sản xuất và thu âm Evan Rogers và Carl Sturken người đã sản xuất hầu hết các bài hát trong album đầu tiên của cô ấy, Stargate, J. R. Rotem và ca sĩ –nhạc sĩ Ne-Yo. Trong thời gian thu âm album, Rihanna đã hát mở màn cho một liveshow của Gwen Stefani để xúc tiếng album đầu tay của mình. Đĩa đơn đầu tiên, "SOS", đạt vị trí số một trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, trở thành đĩa quán quân đầu tiên của cô ấy ở Hoa Kỳ. A Girl Like Me được phát hành vào tháng 4 năm 2006, trễ hơn 6 tháng sau khi cô ấy debut. Album đạt được vị trí thứ 5 trên bảng xếp hạng Billboard 200, bán hơn 115,000 bản trong tuần đầu tiên và được chứng nhận đĩa bạch kim bởi RIAA bởi hơn 1 triệu đĩa bán ra. Ở quốc tế, album đạt vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Top Canadian Albums, số 5 trên UK Albums ChartIrish Album Chart. Các nhận xét phê bình album rất khác nhau; tạp chí Rolling Stone nhận xét rằng " Như album đầu tiên quá nhồi nhét của cô ấy, đây là một thứ tương tự nhưng tốt hơn một chút và chẳng mang bất cứ sự khéo léo nào trong đĩa đơn đầu tiên" Các nhà phê bình mô tả album như một đĩa thu âm từ đầu đến cuối xen kẽ dancehall/dup-pop vui tươi, một chút cảm hứng hiphop thô và vồn vã, chất ballad trưởng thành. Đĩa đơn thứ 2, "Unfaithful", trở thành một hit lớn trên toàn thế giới, đạt vị trí top ten ở hơn 12 nước trên thế giới, bao gồm Mỹ - đạt vị trí thứ 6, đồng thời đứng đầu bảng xếp hạng các nước Canada, Pháp và Thụy Sĩ. Đĩa đơn thứ 3 của album, "We Ride" không lập lại được thành công từ đĩa đơn đầu tiên nhưng đĩa đơn thứ 4, "Break It Off" hợp tác cùng Sean Paul, đã nhảy từ vị trí 52 lên vị trí 10 rồi thậm chí đạt đến vị trí số 9. Sau khi phát hành album, Rihanna bắt tay thực hiện tour diễn đầu tiên của mình, Rihanna: Live in Concert Tour. Sau đó cô làm tiếp tour Rock The Block Tour và tiếp nữa là tour với Pussycat Dolls từ tháng 11 năm 2006 đến tháng 2 năm 2007 ở Vương quốc Anh. Rihanna cũng bắt đầu có vai diễn đầu tiên với vai trò khách mời trong bộ phim DVD Bring It On: All or Nothing, phát hành vào ngày 8 tháng 8 năm 2006.

2007-2008: Good Girl Gone Bad[sửa | sửa mã nguồn]

Với album phòng thu thứ 3 của mình,’’Good Girl Gone Bad’’ (2007), Rihanna muốn thử sức một hướng mới với sự giúp đỡ của các nhà sản xuất âm nhạc như Timbaland, will.i.am và Sean Garrett, tạo lại hình ảnh cho việc sáng tác album của cô[17] với sự tươi trẻ, nhịp điệu nhanh. Cô ấy đã sử dụng hình ảnh nổi loạn hơn khi thu âm cho album, thậm chí đã nhuộm đen và cắt tóc ngắn. Rihanna giải thích rằng, "Tôi muốn làm cho mọi người luôn lắc lư nhảy nhưng đồng thời vẫn rất sâu lắng[...] Các bạn cảm thấy mỗi album đều khác nhau, và trên sân khấu tôi cảm giác như tôi muốn hát những bài có nhịp điệu thật sôi động. Album đứng đầu các bảng xếp hạng ở các nước như Anh, Canada, Nhật Bản, Brazil, Nga và Ireland, đạt vị trí thứ 2 ở Hoa Kỳ và Úc.. Không giống như các lần trước, album phối hợp nhiều âm thanh dance-pop thay vào dancehall, reggae hay phong cách ballad. Album nhận được những đánh giá tích cực bởi các nhà phê bình, trở thành album có nhận xét tích cực nhất của cô so với những nỗ lực trước đây.[18]

Rihanna biểu diễn tại Brisbane Entertainment Centre

Album mang lại 8 đĩa đơn hit – tất cả đĩa đơn đều trong top 12 ở Billboard Hot 100 — bao gồm cả đĩa đơn quán quân – một hit toàn cầu - "Umbrella," hợp tác với Jay-Z. Ngoài một số vị trí quán quân ở các nước khác nhau, "Umbrella" còn là đĩa đơn quán quân ở Anh trong 10 tuần liên tiếp,[19] trở thành đĩa đơn đứng vị trí số 1 lâu nhất chỉ sau đĩa đơn "Love Is All Around" của Wet Wet Wet với 15 tuần đứng đầu vào năm 1994.[20] Bài hát nằm thứ 3 trong danh sách 100 bài hát hay nhất năm 2007 được công bố bởi tạp chí Rolling Stone.[21] Một số đĩa đơn khác, "Shut Up and Drive", "Don't Stop The Music" and "Hate That I Love You" cũng đi theo sự thành công của "Umbrella," với "Don't Stop the Music" đạt vị trí số 3 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 trong khi đó đạt vị trí số 1 tại một số quốc gia khác nhau.[22] Một bản phát hành lại của album thứ 3 này, tựa đề Good Girl Gone Bad: Reloaded, phát hành vào tháng 6 năm 2008. Rihanna phát hành đĩa đơn đầu tiên trong album này "Take a Bow"[23] — trở thành một hit quán quân toàn cầu — bản song ca với Maroon 5, "If I Never See Your Face Again,"[24] và một hit quán quân tại Mỹ là "Disturbia."[25] "Disturbia" đạt vị trí số 4 trước khi đạt vị trí quán quân, nhưng album trước đó, "Take a Bow", đạt vị trí số 2, và Rihanna trở thành nữ ca sĩ đứng thứ 7 khi có 2 bài hát trong top 5. Trong khi đó, Rihanna đã hợp tác với rapper T.I. với bài hát "Live Your Life," đạt vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, đem lại cho Rihanna đĩa đơn số 1 thứ 5 trên Hot 100 kể từ "SOS," "Umbrella", "Take a Bow" và "Disturbia".[26] Nhờ đó Rihanna trở thành một trong 2 ca sĩ solo nữ có nhiều đĩa quán quân nhất, với Beyoncé Knowles. Album bán được 2 triệu đĩa ở Hoa Kỳ, nhận 2 chứng nhận đĩa bạch kim từ RIAA, trở thành album bán chạy nhất của Rihanna cho đến nay.

Rihanna được đề cử 4 hạng mục tại MTV Video Music Awards 2007, thắng giải ‘’Đĩa đơn của năm’’, và ‘’Video của năm’’.[27] Tại lễ trao giải 2008 Grammy Awards, Rihanna có được giải Grammy đầu tiên với giải Hợp tác Rap/Hát hay nhất,[28] ngoài ra còn 5 đề cử khác, bao gồm Thu âm của năm, Thu âm nhạc nhảy xuất sắc nhất, Hợp tác R&B nhóm hoặc đôi hiệu quả nhất, và Bài hát R&B hay nhất. Để hỗ trợ quảng bá album, cô ấy đã bắt đầu tour diễn rầm rộ thứ 2 The Good Girl Gone Bad Tour vào ngày 12 tháng 9 năm 2007, với một vài show diễn vòng quanh Hoa Kỳ, Canada và Châu Âu.[29] và sau đó bắt tay vào Glow in the Dark Tour với Kanye West, Lupe Fiasco, và N.E.R.D vào ngày 16 tháng 4 năm 2008.[30][31][32] Rihanna đoạt giải Ca sĩ nữ Pop/Rock được yêu thích nhất và Ca sĩ nữ Soul/R&B được yêu thích nhất tại lễ trao giải American Music Awards (2008).[33] Vào tháng 12 năm 2008, Margeaux Watson tạp chí Entertainment Weekly viết một bài báo với tự đề "Rihanna: Diva of the year", mà ông gọi là sự thành công đột phá của Rihanna trong năm 2008.[34]

2009: Bị người tình hành hung và Rated R[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 8 tháng 2 năm 2009, lịch biểu diễn của Rihanna tại lễ trao giải Grammy lần thứ 51 năm 2009 đã bị hủy bỏ.[35] Các tin đồn bên ngoài đã khẳng định một vụ cãi nhau với bạn trai của cô ấy, ca sĩ Chris Brown, và anh ta bị bắt giữ vì nghi ngờ có đe dọa bạo lực.[36] Vào ngày 5 tháng ba năm 2009, Brown đã bị buộc tội tấn công và sử dụng bạo lực để đe dọa.[37] Do một bức ảnh bị lộ ra từ Sở cảnh sát Los Angeles và được phát tán trên mạng bởi trang web TMZ.com—đã lộ ra hình ảnh Rihanna với các thương tích trên mặt —một tổ chức được biết cái tên STOParazzi đã đề xuất một đạo luật gọi là "Đạo luật Rihanna" trong đó, nếu được ban hành, thì sẽ "ngăn chặn các nhân viên thực thi pháp luật đưa ra những hình ảnh hoặc thông tin nhằm lợi dụng và khai thác nạn nhân."[38] Gil Kaufman của VH1 phát biểu "sẽ không ngừng đưa tin về vụ án của Rihanna/Brown, đưa ra các con số về vấn đề liên quan đến sự riêng tư của nạn nhân bạo lực gia đình, bao gồm cả các phán quyết của toà án trên đài phát thanh để tiết lộ danh tính của nạn nhân—một việc ít khi được thực hiện về hiện trạng bạo lực gia đình." Và cả về sự phân phát gây tranh cãi của các tấm ảnh bị rò rĩ.[39] Rihanna đã ra hầu tòa làm chứng trong phiên điều trần sơ bộ tại L.A. vào ngày 22 tháng 6 năm 2009.[40] "DA nói với tôi là Rihanna sẽ ra hầu tòa. Tôi chấp nhận. Tôi sẽ thay mặt cô ấy chấp nhận." Luật sư của Rihanna, Donald Etra nói trên tạp chí Us Weekly.[41] Vào ngày 22 tháng 6 năm 2009, Brown đã nhận tội hành hung. Với lời bào chữa của Brown, anh ta đã nhận 5 năm quản chế và buộc phải ở cách xa Rihanna 45 met, trừ khi tại các sự kiện quần chúng, thì sẽ giảm xuống là 9 met.[42]

Rihanna tại thảm đỏ lễ trao giải AMA.

Rihanna xuất hiện như một nhân vật trung tâm trong video âm nhạc của Kanye West - "Paranoid".[43] Cô ấy cũng hợp tác với Jay-Z và West trong bài hát "Run This Town"[44], đã đạt vị trí số 2 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 đồng thời đứng trong top ten tại 10 nước khác nhau. Bài hát đoạt giải Grammy cho ‘’Ca khúc rap xuất sắc nhất’’ và ‘’Hợp tác Rap/Hát hiệu quả nhất’’, mang lại cho cô ấy tổng cộng 3 giải Grammy.[45] Album phòng thu thứ 4 của cô, Rated R, được phát hành vào tháng 11 năm 2009.[46] Rolling Stone có nhận xét tốt đối với album, cho rằng "Rihanna đã thay đổi giọng hát của mình và tạo nên những bài thu âm tốt nhất của năm."[47] Album ra mắt ở vị trí thứ 4 trên bảng xếp hạng Billboard 200 và được chứng nhận đĩa bạch kim bởi Hiệp Hội Công nghiệp Thu âm Mỹ (RIAA) cho 1 triệu bản được bán ra. Ba đĩa đơn đầu tiên: "Russian Roulette", "Hard" và "Rude Boy" đã đạt vị trí cao trong top 10 tại Billboard Hot 100 với "Rude Boy" đạt vị trí số 1. Bài hát cũng đứng đầu một số bảng xếp hạng tại Úc, đạt vị trí thứ 2 tại Vương quốc Anh, Cộng hòa Ireland, New Zealand và Thụy Sỹ.[48] Vào tháng 1 năm 2010, Rihanna đoạt 2 giải Barbados Music Awards cho "Bài hát của Thập kỷ" với "Umbrella" và "Ca sĩ giải trí của thập kỷ". Cô ấy đã được xưng danh là "Nữ ca sĩ quốc tế của Năm" tại lễ trao giải NRJ Music Awards năm 2010.[49] Hai đĩa đơn khác cũng đã phát hành từ Rated R, bao gồm "Wait you turn", "Rockstar 101" và đĩa đơn cuối cùng của album, "Te Amo". Để tiếp tục đẩy mạnh album của mình, cô ấy đã bắt tay vào một tour toàn cầu, Last Girl on Earth Tour.

2010–2011: LoudTalk That Talk[sửa | sửa mã nguồn]

Trong mùa hè, Rihanna đã hợp tác với rapper Eminem trong "Love the Way You Lie", đạt vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, cũng như các nước khác bao gồm Úc, Canada, Ireland, New Zealand, Na Uy và Thụy Điển.[50] Bài hát trở thành đĩa đơn quán quân thứ 7 trên Hot 100 trong sự nghiệp của cô ấy, trở thành nghệ sĩ nữ với nhiều đĩa quán quân nhất (hơn 5) trong lịch sử bảng xếp hạng.[5] Vào tháng 8 năm 2010, con số đĩa hát của Rihanna đã được công khai tại Madame TussaudsWashington.[51] Rihanna được Kanye West mời hợp tác vào khoảng tháng 8 năm 2010 để góp mặt trong "All of the Lights", bài hát thứ 5 trong album phòng thu thứ 5 của West, My Beautiful Dark Twisted Fantasy. Trong một cuộc phỏng vấn với MTV News, Rihanna nói rằng cô ấy "yêu" bài hát, anh ta cũng từng hợp tác với một vài nghệ sĩ khác, kể cả nhưng không ngoại lệ với Alicia Keys, John Legend, FergieElton John.[52] Vào ngày 19 tháng 10 năm 2010, Rihanna phát hành một cuốn sách của riêng mình,[53] và hiện đang làm việc với bộ phim Peter Berg, Battleship, theo kế hoạch sẽ trình chiếu vào năm 2012.[54] Vào ngày 20 tháng 10 năm 2010, Rihanna tuyên bố rằng cô ấy sẽ không làm việc với quản lý Marc Jordan nữa và từ nay trở về sau sẽ chịu sự quản lý của Ban quản lý Roc Nation của công ty Jay-Z.[55] Cô ấy cũng bắt đầu mở công ty riêng của mình, Rihanna Entertainment, và cô ấy sẽ "hợp nhất tất cả mục đích kinh doanh của mình bao gồm âm nhạc, phim ảnh, nước hoa, thời trang và kinh doanh sách.".[55]

Rihanna đã phát hành album phòng thu thứ 5 của mình, Loud, vào ngày 16 tháng 11 năm 2010.[56] Album ra mắt ở vị trí thứ 3 trên Billboard 200, bán được 207,000 bản trong tuần đầu tiên, trở thành album nằm trong top 10 của Rihanna ở Mỹ với tuần bán được nhiều nhất.[57] Đĩa đơn mở đầu, "Only Girl (In the World)", được phát hành bản kỹ thuật số ở Mỹ vào tháng 9 năm 2010.[58][59] Sau vài tuần, bài hát đạt vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. "Only Girl" cũng đạt vị trí số một tại các nước khác bao gồm Úc, Canada, và Anh.[60][61][62] Đĩa đơn thứ 2 của album, "What's My Name?", hợp tác với rapper Drake, cũng đạt vị trí số một trên Billboard Hot 100.[63] Mặc dù đó là đĩa đơn thứ hai trích từ album Loud, đã đứng đầu bảng xếp hạng trước cả đĩa đơn đầu tiên, "Only Girl (In the World)", đó là lần đầu tiên trong lịch sử bảng xếp Hot 100 có đĩa đơn ra mắt album đầu tiên đạt vị trí số một sau đĩa đơn thứ 2.[64]

Vào ngày 5 tháng 12 năm 2010, Rihanna đã có ba bài hát đạt top 10 ở bảng xếp hạng UK singles chart với "Only Girl (In the World)" ở vị trí số 7, "What's My Name?" ở vị trí số 8 và đĩa đơn hợp tác với David Guetta mang tên "Who's That Chick?" vị trí số 9.[65]. Vào ngày 9 tháng 1 năm 2011, cả ba bài hát này lại nằm trong top 10 UK singles chart với "What's My Name?" ở vị trí số 1, "Only Girl (In The World)" ở vị trí số 9, và đĩa đơn hợp tác với David Guetta "Who's That Chick?" ở vị trí số 10.[66]

Vào ngày 9 tháng 1 năm 2011, "What's My Name?" đứng đầu bảng xếp hạng chính thức ở Anh – UK singles chart, đem lại cho Rihanna kỷ lục của nghệ sĩ nữ solo đầu tiên có 5 đĩa đơn quán quân ở Anh nhiều năm liền. Vào năm 2007, "Umbrella" mang lại cho Rihanna đĩa đơn quán quân đầu tiên ở Anh; vào năm 2008, "Take A Bow" đem lại cho cô ấy cái thứ hai; năm 2009, "Run This Town" là thứ 3; vào năm 2010, "Only Girl (In the World)" mang đến cho cô ấy đĩa đơn quán quân thứ 4 ở Anh.[67]

Single "Only Girl (In The World)" sau đó còn giúp cô có được giải Grammy 2011 cho hạng mục bản thu âm nhạc Dance xuất sắc nhất. Ngay sau khi single "What's My Name?" xuống hạng, "S&M" ngay lập tức xuất hiện. Ngày 26.2.2011, "S&M" chính thức bước vào top 10 Billboard và nhanh chóng giữ vị trí cao trong bảng xếp hạng. Ca khúc tuy có giai điệu hay, nhưng MV bị cấm phát trên nhiều quốc gia vì nội dung của MV này cho thấy hình ảnh Rihanna thác loạn, gây ảnh hưởng xấu đến trẻ em. Tuy vậy nó vẫn được chiếu trên MTV trình chiếu rộng rãi. Sau đó bản remix của ca khúc mà Rihanna hát cùng Britney Spears đã chính thức giành vị trí quán quân Billboard Hot 100 - biến ca khúc này thành single quán quân thứ 10 trong sự nghiệp của cô ca sĩ trẻ. Tưởng chừng như cả album là 1 bữa tiệc nhạc dance tuyệt vời của cô ca sĩ da màu này. Tuy nhiên, single tiếp theo làm khá nhiều người lạ lẫm. "California King Bed" là ca khúc pop ballad nhẹ nhàng mà Rihanna đã tận dụng triệt để giọng hát cao vút và mạnh mẽ của mình. Tuy phần nhạc và video khá hấp dẫn, nhưng doanh thu của nó thật sự không như "RiRi" mong muốn. "California King Bed" cùng "Man Down" chỉ dừng bước ở nửa sau của bảng xếp hạng Billboard Hot 100. "Man Down" ra mắt đĩa đơn và video âm nhạc vào tháng 6.2011. Video này bị nhiều người nhận xét là Rihanna chọn ý tưởng quá tồi và quá người lớn. Nội dung video tả cô bị một người đàn ông lạm dụng tình dục và ngay sau đó cô bắn chết anh ta. Với video không được ưa thích cùng phần nhạc khá lạ lùng làm ca khúc này chỉ nằm ở vị trí 80, 90 ở Mỹ mà thôi. Đĩa đơn "Cheers (Drink to That)" và video cho ca khúc đã được công bố. Ngày 26.8.2011, ca khúc này đã nằm trong top 20 của Billboard.

Album phòng thu thứ 6 của cô, Talk That Talk được phát hành tháng 11 năm 2011 với hai bản bình thường và đặc biệt. Đĩa đơn mở đầu là "We Found Love", đứng đầu bảng xếp hạng Billboard Hot 100 trong 6 tuần và lọt vào top 10 ở 30 quốc gia. "You da One" được chọn làm đĩa đơn thứ hai của album. Đĩa đơn này khá thành công với việc lọt vào top 20 ở cả Anh và Mỹ.[68][69]"Talk That Talk", đĩa đơn thứ ba của album, hợp tác với ca sĩ nhạc rap Jay-Z, phát hành vào tháng 1, 2012. Theo sau đó là hai đĩa đơn hợp tác giữa cô và người bạn trai cũ Chris Brown trong phiên bản phối khí của "Birthday Cake" và "Turn Up the Music". Hai ca khúc này đã gây ra nhiều phản ứng trái chiều nhau do trước đó Chris Brown đã từng đã đánh đập Rihanna rất dã man, gây xôn xao dư luận về vấn đề bạo lực phụ nữ. "Where Have You Been", đĩa đơn thứ tư của Talk That Talk, cũng đã lọt vào top 20 ở nhiều quốc gia.

2012-2013: Đóng phim & Unapologetic[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 2012, hai bài hát Rihanna cộng tác với ColdplayDrake lần lượt mang tên "Princess of China" (nằm trong album Mylo Xyloto) và "Take Care" (nằm trong album cùng tên) được trình làng.[70][71] Tháng 2 cùng năm, cô cho phát hành nước hoa thứ hai mang thương hiệu của mình mang tên Rebelle.[72] Trong thời gian đó, Rihanna đã thắng Giải Grammy cho Hợp tác rap/hát xuất sắc nhất tại lễ trao giải Grammy năm 2012. Đồng thời cô được bầu chọn là 'Nữ nghệ sỹ solo quốc tế xuất sắc nhất' tại BRIT Awards năm 2012 lần thứ hai liên tiếp.[73][74] Tháng 3 cùng năm, Rihanna và Chris Brown cùng nhau hợp tác trong phiên bản remix của "Birthday Cake" (từ Talk That Talk) và "Turn Up the Music" (từ Fortune).

Về sự nghiệp phim ảnh, cô thủ vai Petty Officer (GM2) Cora Raikes trong bộ phim nhựa đầu tay của mình Chiến hạm dựa trên trò chơi cùng tên, phát hành ngày 18 tháng 5 năm 2012 tại Mỹ và được phát hành tại Việt Nam thông qua Megastar từ ngày 27 tháng 4.[75][76] Với vai diễn này, cô được một Giải Mâm xôi vàng cho nữ diễn viên phụ tồi nhất[77] và một Teen Choice Award.[78] Rihanna cũng góp mặt trong phim tài liệu 3D Katy Perry: Part of Me của ca sĩ Katy Perry. Tháng 11 năm 2012, cô phát hành sản phẩm nước hoa thứ ba, Nude.[79]

Album phòng thu thứ bảy của Rihanna, Unapologetic, đã được phát hành ngày 19 tháng 11 năm 2012.[80] Đây trở thành album đầu tiên của cô đạt vị trí Quán quân trên Billboard 200 của Hoa Kỳ với doanh số tuần đầu là 238.000.[81] Hai đĩa đơn đầu tiên từ album, "Diamonds" và "Stay", đều lần lượt đạt hạng 1 và 3 trên Billboard Hot 100 của Mỹ.[82][83] "Pour It Up" và "Right Now" được chọn làm đĩa đơn thứ ba và thứ tư trên toàn thế giới. Để quảng bá cho album, cô thực hiện mini-tour diễn 777 Tour gồm 7 buổi diễn tại 7 quốc gia.[84] Tour diễn lớn thứ 5 mang tên Diamonds Worlds Tour bắt đầu từ tháng 3 năm 2013.[85] Tháng 1 năm 2013, trong bài phỏng vấn với tạp chí Rolling Stone, cô thừa nhận mình đã quay lại với Chris Brown.[86] Tuy nhiên đến tháng 5, nhiều nguồn tin đã đưa tin hai người lại chia tay.[87] Tháng 2 năm 2013, Rihanna thắng Giải Grammy lần thứ 55 tại hạng mục "Video ca nhạc ngắn hay nhất" cho ca khúc "We Found Love" (2011).[88] Ngày 31 tháng 5 năm 2013, Unapologetic trở thành album thứ 6 trong sự nghiệp của Rihanna được chứng nhận đĩa bạch kim ở Mỹ.[89] Tháng 6 năm 2013, Rihanna xuất hiện trong phiên bản remix ca khúc "Bad" của ca sĩ hip hop Wale.[90]

Rihanna sẽ lại tiếp tục tham gia đóng phim với bộ phim hài This Is the End dự định ra mắt tháng 6 năm 2013 và lồng tiếng vai Tip trong phim hoạt hình Happy Smekday! vào năm 2014.[91][92]

Tháng 11, Rihanna lại một lần nữa là khách mời trong ca khúc "The Monster" trích từ album The Marshall Mathers LP 2của Eminem, đánh dấu lần thứ 4 hai người hợp tác với nhau. "The Mónster" đã đạt hạng nhất Billboard Hot 100, là đĩa đơn quán quân thứ 5 của Eminem và là đĩa đơn quán quân thứ 13 của Rihanna, giúp cô có số đĩa đơn quán quân bằng với Michael Jackson.

Nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Âm nhạc và giọng hát[sửa | sửa mã nguồn]

Tập 65 của loạt sách Contemporary Black Biography có ghi rằng "Rihanna được đánh giá là một diva Rhythm and blues (R&B) hiện ra từ thế giới Caribbean."[93] Trở thành một hiện tượng quốc tế, Rihanna được biết đến với màu sắc của nhạc R&B với nhạc Caribbean, như là reggaedancehall.[94] Peter Coulter của báo Antrim Times nhận xét rằng "[Rihanna] có một giọng hát thật tuyệt vời khi biểu diễn các bản acoustic, cô ấy chỉ cần thu hút khán giả trong live show là đủ rồi."[95] Trong thời gian debut của cô ấy, các nhà phê bình nhắc đến cô ấy như một nữ hoàng bubblegum pop."[96] và âm nhạc của cô ấy là "teen pop."[97] Larry Meyler của báo The Sun nói rằng "Rihanna dù có xấu thì vẫn giỏi" và rằng cô ấy đã "[vứt] bỏ hình ảnh 'teen pop' bằng một phong cách sôi động trên sân khấu."[97] Trong khi biểu diễn tại Ottawa Bluesfest, Denis Armstrong của báo điện tử Canadian Online Explorer nhận xét buổi biểu diễn của cô ấy và nói "buổi trình diễn của cô ấy là một màn biên đạo múa tuyệt vời mang phong cách Disney nhưng lại xen thêm nhịp nhảy chuyển động không ngừng, điệu bộ tươi tắn và sự chiều chuộng khán giả, nhịp điệu vui vẻ, đó đều là những hit tuyệt vời."[96] Sau khi công bố hình ảnh mới trong chuyến lưu diễn đầu tiên của mình, cô ấy có khả năng bị chỉ trích vì bộ đồ da ôm sát vào mỗi buổi diễn.[98] Một nhận xét từ báo The Times so sánh phong cách sân khấu của Rihanna với Janet Jackson. Người phóng viên này đã miêu tả trang phục của cô ấy như "một cách nhìn cao cấp hơn của Ann Summers trong đôi bốt cao đến đùi và một ít mảnh vải từ nhựa PVC đen."[99] Stuart Derdeyn của The Province nhận xét rằng "ngay cả với phong cách thời trang cao cấp của B&D rõ ràng đã đốt cháy mọi người, cô ấy vẫn đi theo con đường trở thành một Janet Jackson mới."[100]

Phong cách âm nhạc của Rihanna thay đổi suốt trong thời gian cô ấy phát hành 3 album của mình. Cô ấy ban đầu được giới thiệu vào thị trường âm nhạc như một ca sĩ reggae, nhưng từ khi cô thâm nhập đến sân khấu âm nhạc trong năm 2005, cô ấy đã chuyển sang phong cách pop, R&B đương đại và dance. Âm nhạc của cô ấy bao gồm các phong cách và thể loại âm nhạc khác nhau, bao gồm R&B đương đại, dance-pop và chất nhạc Caribbean từ điệu reggae và dance.[101] Với việc phát hành album Music of the Sun và đĩa đơn đầu tay"Pon de Replay", Jason Birchmeier của Allmusic mô tả phong cách âm nhạc của Rihanna là "sự tổng hợp điệu Caribbean và một chút chất dance-pop thị trường, nếu các bạn nghe thử."[102] Rihanna được coi là đã tận dụng "nhịp điệu dance và cách hát reggae."[102] NME mô tả ca sĩ này là một "sự pha trộn bốc lửa giữa dance, reggae và R&B đương đại."[103] Barry Walters của tờ Rolling Stone nhận xét album A Girl Like Me của Rihanna mang "chút dance nhẹ và màu sắc thú vị của R&B." [104] Sau khi phát hành Good Girl Gone Bad, Andy Kellman của Allmusic công nhận Rihanna là một "biểu tượng pop đang lên."[105] Kelefa Sanneh của The New York Times mô tả hit "Umbrella" của cô ấy là một sự kết hợp giữa pop nhẹ với hip-hop, một bản tình ca tươi mới giàu những âm độ ngắt quãng đột ngột và sự chủ ý đau đớn trong giọng hát nữ tình của Rihanna.[106]

Album đầu tay của cô ấy được hợp tác sản xuất bởi 2 nhân vật gạo cội trong làng nhạc pop là Evan RogersCarl Sturken, họ đã phát hiện ra cô ấy đầu tiên. Sturken và Rogers đã hợp tác với Rihanna rất nhiều lần, bao gồm đĩa đơn đầu tay của cô ấy "Pon de Replay", họ đã giúp cô ấy khởi đầu sự nghiệp của mình với reggae và dance pop, hợp sức làm tiếp album thứ 2. Rihanna sau đó đã gia nhập vào cánh cửa nhạc pop và R&B đương đại với nhà sản xuất âm nhạc Stargate và ca sĩ-nhạc sĩ Ne-Yo trong bài hát "Unfaithful"[107], lấy mẫu giọng, bass và trống từ đĩa đơn "Tainted Love" của Soft Cell năm 1981 vào đĩa đơn "SOS".[108] Với các bài hát như "Kisses Don't Lie" và "Shut Up and Drive", phong cách âm nhạc của cô ấy bắt đầu có thêm định hướng Rock. Không giống như Music of the Sun hoặc A Girl Like Me, album thứ 3 của cô ấy mang đậm chất dance-pop hơn[109] và có một chút dancehall, reggae và phong cách ballad từ các album trước đó.[110] Cô ấy có nhiều phong cách âm nhạc khác nhau từ pop-reggae nhanh trong "Pon De Replay", đến phong cách âm nhạc của thập niên 80 là một làn sóng mới trong các câu lạc bộ tại đĩa đơn "SOS", rồi đến luồng không khí gôthic ly kỳ trong bản tình ca Unfaithful". Hầu hết các bản tình ca đều mang một ít ballads, cộng thêm nhịp độ pop vừa phải, và tận dụng một chút R&B vốn là đặc trưng của nhà sản xuất Stargate và nhạc sĩ Ne-Yo. Một số bài hát dance-pop nhịp nhanh bao gồm hợp tác sản xuất của Carl Sturken và Evan Rogers, Christopher "Tricky" Stewart và J. R. Rotem.[111] Cô ấy đồng thời cũng có thử và lấy mẫu của các nghệ sĩ khác như "Tainted Love" của Soft Cell trong bài hát "SOS",[108] "Blue Monday" của New Order trong ca khúc "Shut Up and Drive" và bài hát thập niên 70 "Soul Makossa" của Manu Dibango và một phần trong điệp khúc bài "Wanna Be Startin' Somethin'" của Michael Jackson vào ca khúc "Don't Stop the Music".

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc phẩm tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đĩa đơn Vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng[112] Album
Flag of Australia.svg Úc Flag of Austria.svg Áo Flag of Canada.svg Canada Flag of France.svg Pháp Flag of Germany.svg Đức Flag of Ireland.svg Ireland Flag of New Zealand.svg New Zealand Flag of Switzerland.svg Thụy Sĩ Flag of the United Kingdom.svg Anh Flag of the United States.svg Mỹ
2005 "Pon de Replay" 6 5 3 18 6 2 1 3 2 2 Music of the Sun
2006 "SOS" 1 4 1 12 2 3 3 3 2 1 A Girl like Me
"Unfaithful" 2 2 1 7 2 2 4 1 2 6
2007 "Umbrella"(hợp tác với Jay-Z) 1 1 1 6 1 1 1 1 1 1 Good Girl Gone Bad
"Don't Stop the Music" 1 1 2 1 1 6 3 1 4 3
2008 "Take a Bow" 3 6 1 12 6 1 2 7 1 1 Reloaded
"Disturbia" 6 4 2 3 5 4 1 4 3 1
"Live Your Life"(hợp tác với T.I.) 3 5 4 17 12 3 2 8 2 1 Paper Trail
2009 "Run This Town"(với Jay-Z và Kanye West) 9 29 6 18 3 9 9 1 2 The Blueprint 3
"Russian Roulette" 7 2 9 4 2 5 9 1 2 9 Rated R
2010 "Rude Boy" 1 6 7 8 4 3 3 5 2 1
"Only Girl (in the World)" 1 1 1 2 2 1 1 2 1 1 Loud
"What's My Name?"(hợp tác với Drake) 18 13 5 16 12 3 3 13 1 1
"Love the Way You Lie"(hợp tác với Eminem) 1 1 1 3 1 1 1 1 2 1 Recovery
2011 "S&M (Remix)"(hợp tác với Britney Spears) 1 4 1 3 2 3 2 2 3 1 Loud
"Man Down" 63 1 9 54 59
"We Found Love"(hợp tác với Calvin Harris) 2 2 1 1 1 1 1 1 1 1 Talk That Talk
2012 "Diamonds" 6 1 1 1 1 2 2 1 1 1 Unapologetic
2013 "Stay"(hợp tác với Mikky Ekko) 4 5 1 2 2 2 4 2 4 3
"The Monster" (hợp tác với Eminem) 1 6 1 1 3 1 1 1 1 1 The Marshall Mathers LP 2
Tổng đĩa đơn quán quân 8 5 11 5 5 6 7 8 8 13

Giải Grammy[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đề cử cho Giải thưởng Kết quả
2008 "Umbrella" (hát với Jay-Z) Thu âm của năm Đề cử
Hợp tác Rap/Hát hay nhất Đoạt giải
"Don't Stop the Music" Thu âm nhạc Dance hay nhất Đề cử
"Hate That I Love You" (hát với Ne-Yo) Thể hiện R&B bằng giọng hát bởi cặp song ca hoặc nhóm nhạc Đề cử
2009 "If I Never See Your Face Again" (hát với Maroon 5) Hợp tác hát Pop hay nhất Đề cử
"Disturbia" Thu âm nhạc Dance hay nhất Đề cử
Good Girl Gone Bad Live Video âm nhạc dài hay nhất Đề cử
2010 "Run This Town" (hát với Jay-ZKanye West) Hợp tác Rap/Hát hay nhất Đoạt giải
Bài hát Rap xuất sắc nhất Đoạt giải
2011 "Love the Way You Lie" (hát với Eminem) Thu âm của năm Đề cử
Hợp tác Rap/Hát hay nhất Đề cử
Video âm nhạc ngắn hay nhất Đề cử
"Only Girl (In the World)" Thu âm nhạc Dance hay nhất Đoạt giải
2012 Loud Album của năm Đề cử
Album giọng Pop xuất sắc nhất Đề cử
"What's My Name?" (hát với Drake) Hợp tác Rap/Hát hay nhất Đề cử
"All of the Lights" (hát với Kanye West) Đoạt giải
Bài hát Rap xuất sắc nhất Đoạt giải
2013[113] "Talk That Talk" (hát với Jay-Z) Hợp tác Rap/Hát hay nhất Đề cử
"Where Have You Been" Màn trình diễn pop xuất sắc nhất Đề cử
"We Found Love" (phối hợp với Calvin Harris) Video ca nhạc ngắn hay nhất Đoạt giải

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trust, Gary (10 tháng 11 năm 2010). “Rihanna's 'What's My Name?' Rockets to No. 1 on Hot 100 | Billboard.com”. Billboard. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2010. 
  2. ^ Trust, Gary (11 tháng 11 năm 2010). “Weekly Chart Notes: Rihanna, Mariah Carey, Michael Jackson - Chart Beat | Billboard.com”. Billboard. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2010. 
  3. ^ “Biografie: Rihanna”. MTV Germany. MTV Networks. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2010. 
  4. ^ http://www.billboard.com/#/news/rihanna-s-what-s-my-name-rockets-to-no-1-1004125986.story
  5. ^ a ă Pietroluongo, Silvio (21 tháng 7 năm 2010). “Eminem and Rihanna Replace Katy Perry Atop Hot 100”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2010. 
  6. ^ Up for Discussion Jump to Forums. “Ask Billboard: Rating Rihanna – Chart Beat”. Billboard.com. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2010. 
  7. ^ “World-beaters of pop music”. Birmingham Mail. 5 tháng 11 năm 2007. tr. 4. 
  8. ^ Cohen, Sandy (24 tháng 11 năm 2008). “Brown, West, Keys, Rihanna are big winners at AMAs”. Orlando Sentinel. tr. A.21. 
  9. ^ “Rihanna Honoured”. 25 tháng 2 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2008. 
  10. ^ “Rihanna: Biography – Part 1 & 2”. People. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2008. 
  11. ^ Spivey, Lisa (tháng 1 năm 2007). “Rihanna, The New Cover Girl”. Los Angeles Sentinel 72 (23). tr. B.5. ISSN 08904340. 
  12. ^ a ă â Watson, Margeaux (22 tháng 6 năm 2007). “Caribbean Queen: Rihanna”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2008. 
  13. ^ a ă Patterson, Sylvia (26 tháng 8 năm 2007). “Singing in the rain”. The Guardian. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2009. 
  14. ^ “Talking Shop: Shontelle”. BBC News. 5 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2009. 
  15. ^ Jones, Steve (1 tháng 8 năm 2005). “Rihanna has her day in the sun”. USA Today. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2009. 
  16. ^ Reid, Shaheem. “Jay-Z's Picks: Teairra Mari, Rihanna, Ne-Yo”. MTV. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2009. 
  17. ^ Reid, Shaheem; Richard, Yasmine (2 tháng 5 năm 2007). “Rihanna Loses Good Girl Image, Thanks To Jay-Z, Justin, Timbaland, Ne-Yo”. MTV News. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2009. 
  18. ^ Drumming, Neil (30 tháng 5 năm 2007). “Good Girl Gone Bad Rihanna”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2009. 
  19. ^ Sexton, Paul (16 tháng 7 năm 2007). “Rihanna's 'Umbrella' Nearing UK Chart History”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2008. 
  20. ^ Sexton, Paul (23 tháng 7 năm 2007). “Rihanna Makes It 10 Weeks Atop UK Singles Chart”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2009. 
  21. ^ “The 100 Best Songs of 2007”. Rolling Stone. 27 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2008. 
  22. ^ “Rihanna – Don't Stop The Music”. αCharts.us. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2009. 
  23. ^ Rodriguez, Jayson (14 tháng 3 năm 2008). “Rihanna Chooses 'Take A Bow,' Penned By Ne-Yo, To Kick Off Good Girl Gone Bad Re-Release”. MTV News. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2009. 
  24. ^ Montgomery, James (24 tháng 4 năm 2008). “Rihanna, Maroon 5 Team Up For 'Magic' Collaboration, Complete With Ultra-Glam Video”. MTV News. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2009. 
  25. ^ Cohen, Jonathan (21 tháng 8 năm 2008). “Rihanna Fends Off Archuleta Atop Hot 100”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2006. 
  26. ^ “T.I. and Rihanna – Live Your Life”. αCharts.us. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2009. 
  27. ^ Kaufman, Gil (10 tháng 9 năm 2007). “Britney Spears Kicks Off Show, But VMA Night Belongs To Rihanna And Justin Timberlake”. MTV News. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2009. 
  28. ^ “The 2008 Grammy Winners Are...”. EW. 8 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2009. 
  29. ^ Leong, Cheryl (13 tháng 11 năm 2008). “Rihanna's Good Girl Gone Bad Tour”. MTV Southeast Asia. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2009. 
  30. ^ Rodriguez, Jayson (30 tháng 1 năm 2008). “Kanye West's Glow In The Dark Tour Will Feature Rihanna, Lupe Fiasco, N.E.R.D.”. MTV News. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2008. 
  31. ^ Tapper, Christina (1 tháng 2 năm 2008). “Rihanna to Join Kanye West on Tour”. People (magazine). Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2009. 
  32. ^ Kreps, Daniel (30 tháng 1 năm 2008). “Kanye West Recruits N.E.R.D., Lupe Fiasco, Rihanna For New Tour”. Rolling Stone. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2009. 
  33. ^ Powers, Lindsay (23 tháng 11 năm 2008). “See the Complete List of AMA Winners”. Us Weekly. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2009. [liên kết hỏng]
  34. ^ Watson, Margeaux (29 tháng 12 năm 2008). “Rihanna: Diva of the year”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2009. 
  35. ^ Swash, Rosie (9 tháng 2 năm 2009). “Grammys 2009: Rihanna cancels appearance after boyfriend Chris Brown arrested”. guardian.co.uk. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2009. 
  36. ^ Friedman, Roger (10 tháng 2 năm 2009). “Chaos in Chris Brown-Rihanna Mess”. Fox News. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2009. 
  37. ^ Lee, Ken (5 tháng 3 năm 2009). “Chris Brown Charged with Two Felonies in Rihanna Beating”. People (magazine). Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2009. 
  38. ^ Kaufman, Gil (23 tháng 2 năm 2009). “Gossip Site Defends Posting Of Rihanna Photo”. MTV (MTV News). Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2009. 
  39. ^ Kaufman, Gil (25 tháng 3 năm 2009). “'Rihanna's Law,' Spurred By Photo Leak, Aims To Prevent Victim Exploitation”. VH1. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2009. 
  40. ^ Greenblatt, Leah (28 tháng 5 năm 2009). “Rihanna may testify in Chris Brown hearing June 22”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2009. 
  41. ^ Illuzzi, Mandi (28 tháng 5 năm 2009). “Attorney: Rihanna to Appear at Chris Brown's Next Hearing”. Us Weekly. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2009. [liên kết hỏng]
  42. ^ TMZ Staff (22 tháng 6 năm 2009). “Chris Brown Cops Plea – No Jail Time”. TMZ.com. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2009. 
  43. ^ Rihanna Vamps It Up In New Video. OK!. 27 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2010. 
  44. ^ Kreps, Daniel (24 tháng 7 năm 2009). “Rihanna Returns and Kanye West Shines on Jay-Z’s "Run This Town"”. Rolling Stone (Jann Wenner). Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2009. 
  45. ^ "List of Grammy winners – CNN.com". CNN. Retrieved February 1, 2010.
  46. ^ Lynch, Joseph Brannigan (14 tháng 10 năm 2009). “Rihanna's new album: What can we expect?”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2009. 
  47. ^ Rosen, Jody (23 tháng 11 năm 2009). “Rated R: Rihanna: Review”. Rolling Stone. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2009. 
  48. ^ “Rihanna Rules Hot 100 With 'Rude Boy' Track”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. 17 tháng 3 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2010. 
  49. ^ HoodHollywood.com. “Rihanna Takes Home 'Best International Female Artist' Award At 2010 NRJ Awards Video”. Vodpod.com. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2010. 
  50. ^ “Eminem feat. Rihanna – Love The Way You Lie”. charts.org.nz. Hung Medien. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2010. 
  51. ^ Herrera, Monica; Lipshutz, Jason (31 tháng 8 năm 2010). “Billboard Bits: Rihanna's Wax Figure, Green Day's Live Album”. Billboard (Nielsen Business Media). Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2010. 
  52. ^ Montgomery, James. “Rihanna 'Loved' Working With Kanye West On 'All Of The Lights'”. MTV News. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2010. 
  53. ^ “Rihanna (trade paperback)”. Rizzoli USA. Rizzoli New York. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2010. 
  54. ^ Dinh, James (2 tháng 9 năm 2010). “Rihanna Begins Filming 'Battleship' In Hawaii”. MTV (MTV Networks). Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2010. 
  55. ^ a ă FEKADU, MESFIN (20 tháng 10 năm 2010). “Rihanna leaves manager, now under Jay-Z's umbrella”. St. Petersburg Times. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2010. [liên kết hỏng]
  56. ^ Kaufman, Gil (7 tháng 9 năm 2010). “Rihanna Reveals Title of New Album: Loud”. MTV.com (MTV Networks). Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2010. 
  57. ^ Caulfield, Keith (24 tháng 11 năm 2010). “Susan Boyle's 'Gift' Tops Rihanna, Kid Rock of Billboard 200”. Billboard. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2010. 
  58. ^ "Only Girl (In the World) - Single by Rihanna". iTunes. Apple. Retrieved 2010-11-28.
  59. ^ "Amazon.com: Only Girl (In The World): Rihanna: MP3 Downloads". Amazon.com. Retrieved 2010-11-28.
  60. ^ “Canadian Hot 100: Week of September 25, 2010”. Billboard. Nielsen Business Media. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2010. 
  61. ^ “Rihanna - Only Girl (In The World)”. australian-charts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2010. 
  62. ^ “Archive Chart”. theofficialcharts.com. The Official UK Charts Company. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2010. 
  63. ^ Wete, Brad. “Rihanna's 'What's My Name?' jumps to No. 1 on Billboard Hot 100 chart”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2010. 
  64. ^ “Rihanna's 'Only Girl' Rebounds to No.1 on Hot 100”. Billboard.com. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2010. 
  65. ^ “BBC - Radio 1 - The Official Chart with Reggie Yates - The Official UK Top 40 Singles Chart”. BBC Radio 1 Chart Singles. 5 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2010. 
  66. ^ http://www.theofficialcharts.com/singles-chart/
  67. ^ “Rihanna breaks UK records!”. 
  68. ^ “2012 Top 40 Official UK Singles Archive 7th January 2012”. The Official Charts Company. 16 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2012. 
  69. ^ “Rihanna's 'Love' Still Leads Hot 100, Katy Perry Back in Top 10”. The Billboard. 16 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2011. 
  70. ^ “Coldplay's 'Paradise' Video Stars Globe-Trotting Elephant”. Billboard (Prometheus Global Media). 19 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2011. 
  71. ^ “Take Care U.S. urban radio release”. Web citation (Web citation). 15 tháng 2 năm 2012. 
  72. ^ “Rihanna to Launch New Fragrance Rebelle”. BET. 16 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2011. 
  73. ^ “Kanye West And Rihanna Win Best Rap Song And Collaboration At Grammy Awards 2012”. Capital FM. 12 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2012. 
  74. ^ “Rihanna wins BRITs 2012 International Female Artist”. 21 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2012. 
  75. ^ Dinh, James (2 tháng 9 năm 2010). “Rihanna Begins Filming 'Battleship' In Hawaii”. MTV. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2010. 
  76. ^ “Lịch chiếu phim rạp Megastar từ 27/4-3/5”. 
  77. ^ Daniels, Colin (24 tháng 2 năm 2013). “Twilight Breaking Dawn – Part 2, Kristen Stewart, Rihanna win Razzies”. Digital Spy. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2013. 
  78. ^ “Teen Choice Awards 2012: List of winners”. CBS News. 22 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2013. 
  79. ^ “Black Friday Deals 2012: Rihanna's New Fragrance Plus Big Deals On Smashbox, MAC Cosmetics And More (PHOTOS)”. Huffington Post. 23 tháng 11 năm 2012. 
  80. ^ “Rihanna clearly Unapologetic about 777 Tour stop in Toronto”. Vancouver Sun. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2012. 
  81. ^ Caulfield, Keith (27 tháng 11 năm 2012). “Rihanna Earns First No. 1 Album on Billboard 200 Chart”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2012. 
  82. ^ Trust, Gary (21 tháng 11 năm 2012). “Rihanna's 'Diamonds' Shines Atop Hot 100”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2012. 
  83. ^ Trust, Gary (21 tháng 2 năm 2013). “Baauer's 'Harlem Shake' Debuts Atop Revamped Hot 100”. Billboard. New York, NY: Prometheus Global Media. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2013. 
  84. ^ Chen, Joyce (23 tháng 11 năm 2012). “Rihanna takes fans, media on party plane trip to 7 countries”. New York Daily News. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2012. 
  85. ^ Vena, Jocelyn (7 tháng 9 năm 2012). “Rihanna Unveils Diamonds Tour Dates After Big VMA Night”. MTV. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2012. 
  86. ^ “Rihanna breaks silence over Chris Brown: 'if it's a mistake, it's my mistake'”. The Telegraph. 30 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2013. 
  87. ^ Ravitz, Justin (6 tháng 5 năm 2013). “Chris Brown Confirms Rihanna Breakup: "I Can't Focus on Wife-ing" Her”. Us Weekly. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2013. 
  88. ^ “Early Grammy Winners Include Rihanna, Jay-Z and Kanye West”. Rolling Stone. 10 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2013. 
  89. ^ “Rihanna có đĩa bạch kim thứ 6”. Thanh Niên Online. 6 tháng 3 năm 2013. 
  90. ^ “iTunes - Music - Bad [Remix] (feat. Rihanna) - Single by Wale”. iTunes. 5 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2013. 
  91. ^ “'This Is the End': Rihanna doesn't make it in red band trailer”. Digital Spy. 2 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2013. 
  92. ^ http://www.imdb.com/title/tt2224026/
  93. ^ Contemporary Black biography 65. Gale/University of Michigan. 2008. tr. 136(?). ISBN 9780787695422. 
  94. ^ Kuss, Malena (2004). Music in Latin America and the Caribbean: an encyclopedic history 2. University of Texas Press. tr. 352(?). ISBN 9780292709515. 
  95. ^ Coulter, Peter (18 tháng 3 năm 2008). “Concert review: Rihanna”. Antrim Times. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2009. 
  96. ^ a ă Armstrong, Denis (14 tháng 7 năm 2006). “CANOE – JAM! Music – Artists – ConcertReviews – Concert Review”. Canoe.ca. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2009. 
  97. ^ a ă Meyler, Larry (17 tháng 12 năm 2007). “Rihanna going bad is very good”. The Sun. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2009. 
  98. ^ Wu, Annie (18 tháng 3 năm 2008). “Rihanna's outfits are a bad idea gone worse”. Style List. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2009. 
  99. ^ Sinclair, David (18 tháng 12 năm 2007). “Rihanna Live Reviews”. The Times. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2009. 
  100. ^ Derdeyn, Stuart (3 tháng 6 năm 2008). “Concert review: Kanye West/Rihanna”. The Province. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2009. 
  101. ^ Jelbert, Steve (2 tháng 9 năm 2005). “The Times/Universal new talent: Rihanna”. The Times. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2009. 
  102. ^ a ă “Rihanna: Music of the Sun > Overview”. Allmusic. 2005. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2009. 
  103. ^ Rihanna: Biography. NME. 2006. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2009. 
  104. ^ “Rihanna: A Girl Like Me: Music reviews: Rolling Stone”. Rolling Stone. 2006. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2009. 
  105. ^ “Rihanna: Good Girl Gone Bad > Overview”. Allmusic. 2007. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2009. 
  106. ^ Sanneh, Kelefa (19 tháng 7 năm 2007). “Seasonal Signature: Pop Goes the Summer”. The New York Times. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2009. 
  107. ^ Moss, Corey (27 tháng 2 năm 2007). “Rihanna Gets Voice Lessons From Ne-Yo For 'Fresh, Uptempo' New Tracks”. MTV News. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2009. 
  108. ^ a ă Greenblatt, Leah (12 tháng 5 năm 2006). Rihanna is Having a Moment. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2009. 
  109. ^ “Album Review: Rihanna – Good Girl Gone Bad”. BBC Online. 25 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2009. 
  110. ^ Macpherson, Alex (1 tháng 6 năm 2007). “Rihanna, Good Girl Gone Bad”. guardian.co.uk. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2009. 
  111. ^ Lamb, Bill. “Rihanna – Shut Up and Drive”. About.com. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2009. 
  112. ^ “Rihanna Album & Song Chart History”. Charts.us. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2013. 
  113. ^ “55th Annual GRAMMY Awards Winners”. Grammy Awards. National Academy of Recording Arts and Sciences. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]