Robert Hübner

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
{{{name}}}
Robert Hübner.jpg
Robert Hübner năm 1993
Tên khai sinh Robert Hübner
Quốc gia Flag of Germany.svg Đức
Ngày sinh 26 tháng 11, 1948 (66 tuổi)
Nơi sinh Đức
Thành tích
Danh hiệu Đại kiện tướng
Hệ số Elo 2594 (10.2014)
Cao nhất 2640 (7.1981)

Robert Hübner (hoặc phiên âm Robert Huebner) (sinh 6 tháng 11 năm 1948 tại Köln, Tây Đức)[1] là một đại kiện tướng cờ vua người Đức, nhà viết sách cờ và nhà nghiên cứu văn bản trên giấy cói (chuyên gia về nghiên cứu chữ tượng hình Ai Cập cổ). Ông từng xếp thứ 3 trên bảng xếp hạng của FIDE vào tháng 7 năm 1981 với mức Elo đỉnh cao là 2640 [2], được đánh giá là kỳ thủ Đức xuất sắc nhất kể từ sau Emanuel Lasker.

Sự nghiệp thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Về cờ vua, kĩ thuật của Hübner được đánh giá là hiệu quả và không khoan nhượng. Tuy nhiên, cuộc đua tới chức vô địch thế giới của Hübner đã thất bại bởi những lần rút lui của ông và một trận thua tiebreak kỳ lạ. Ông rút khỏi trận tứ kết năm 1971 với Tigran Petrosian sau cuộc tranh cãi gay gắt về điều kiện thi đấu. Ông cũng rút lui khỏi trận đấu chọn ứng cử viên với Viktor Korchnoi năm 1980. Cuối cùng, ông đã thua trong trận tứ kết năm 1983 với Vasily Smyslov trong ván tie break do việc phân định thắng thua bằng bàn quay roulette.

Hübner đạt đến đỉnh cao phong độ vào cuối thập kỷ 1970 và đầu những năm 1980. Ông tham gia nhiều giải đấu mạnh như Tilburg năm 1978 và Montréal năm 1979 (The Tournament of Stars - Giải đấu của các ngôi sao), thi đấu cùng Anatoly Karpov, Mikhail TalJan Timman. Ông đồng vô địch với Ljubomir Ljubojević tại Linares năm 1985. Hiện Hübner vẫn tham gia các giải đấu quốc tế.

Đóng góp của Hübner trong lĩnh vực về lý thuyết cờ bao gồm nghiêm cứu về các nhà vô địch thế giới và mở rộng phân tích về các thiên tài cờ vua thế kỷ 19. Những đóng góp gần đây của ông gồm các nghiên cứu và phân tích chi tiết về các ván đấu của những nhà vô địch thế giới, đặc biệt là Bobby FischerAleksandr Alekhin.

Hübner làm trợ lí cho Nigel Short trong trận tranh ngôi vô địch thế giới với Garry Kasparov năm 1993. Năm 2000 ông cùng đội tuyển cờ vua Đức giành huy chương bạc tại Olympiad cờ vua lần thứ 34 tại Istanbul.

Hübner đạt danh hiệu kiện tướng quốc tế năm 1969 và đại kiện tướng năm 1971.[1] Tên ông được đặt cho biến Hübner của khai cuộc phòng thủ Nimzo-Ấn Độ (1.d4 Nf6 2.c4 e6 3.Nc3 Bb4 4.e3 c5).[3][4]

Ngoài ra, Hübner còn là một trong những kỳ thủ cờ tướng tài năng không phải người Trung Quốc [5], từng giành hạng ba Phi Hoa Việt duệ (giải cho kỳ thủ không phải người Hoa và người Việt) tại giải vô địch cờ tướng thế giới[6].

Một số ván đấu tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Gaige, Jeremy (1987), Chess Personalia, A Biobibliography, McFarland, tr. 181, ISBN 0-7864-2353-6 
  2. ^ Bảng xếp hạng FIDE tháng 7 năm 1981
  3. ^ Bill Wall's list of chess openings (Danh sách các khai cuộc cờ vua của Bill Wall)
  4. ^ Chess Archaelogy: Openings classified under ECO E20-E59
  5. ^ Chinese Chess for Beginners (Cờ tướng cho người mới chơi) của Sam Sloan (1989) ISBN 0-923891-11-0
  6. ^ Minh Quang (18 tháng 4 năm 2010). “Giao lưu cờ Việt Nam - Đức: "Điểm nhấn" Robert Huebner”. Hà Nội Mới. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2010. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Golombek, Harry (1977), Golombek's Encyclopedia of Chess (Từ điển bách khoa về cờ vua của Golombek), Nhà xuất bản Crown, ISBN 0-517-53146-1 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]