Robert Herrick

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Robert Herrick
Robert Herrick, illustration based on Hesperides impression.
Công việc Nhà thơ

Robert Herrick (24 tháng 8 năm 1591 – 15 tháng 10 năm 1674) – nhà thơ Anh, người ủng hộ vua Charles I, học trò của Ben Jonson.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Robert Herrick sinh ở khu phố thương mại Cheapside, London. Bố là Nicholas Herrick – một thợ kim hoàn, tự tử khi Robert mới lên 1 tuổi. Từ nhỏ được chú là William Herrick dạy dỗ, sau đó được vào học tại trường St John's College, Cambridge. Năm 1617 nhận bằng cử nhân, năm 1620 nhận bằng thạc sĩ.

Sau khi tốt nghiệp Đại học, Herrick sống ở London, trở thành một nhà thơ có tiếng được nhiều nhà mạnh thường quân đỡ đầu. Năm 1623 ông nhận tước hiệu linh mục. Thời kỳ Nội chiến Herrick ủng hộ vua Charles I, sau khi nhà vua thất bại năm 1647 ông phải sống phiêu bạt một thời gian. Năm 1662 Charles II lên ngôi ông mới trở về London sống đến cuối đời ở xứ đạo.

Tập thơ của Herrick in năm 1648 gồm tập "Hesperides" – thơ trữ tình, thơ theo phong cách Anacreon"Noble Numbes" – thơ quý tộc và thơ tôn giáo. Hàng ngàn bài thơ có đề tài rất đa dạng. Quan điểm thơ ca của Robert Herrick nổi tiếng qua những dòng thơ gửi người bạn sau đây:

Julia, if I chance to die
Ere I print my poetry,
I most humbly thee desire
To commit it to the fire:
Better ’twere my book were dead
Than to live not perfected.
Hỡi Julia, bạn thân thiết của ta
Nếu ngày mai ta đi về ngôi mộ
Chưa kịp in thơ đã chầu các cụ
Thì bạn làm ơn đưa vào bếp lò
Thà cứ để cho thơ cháy thành tro
Còn hơn đem in ra làm thơ dở.

Robert Herrick còn nổi tiếng là tác giả của bài thơ Gather Ye Rosebuds While Ye May (Những nụ hồng hãy nhanh tay góp nhặt) được họa sĩ John William Waterhouse lấy làm chủ đề và tên gọi cho những bức tranh nổi tiếng của ông. Robert Herrick mất ngày 15 tháng 10 năm 1674London.

Một số bài thơ ngắn[sửa | sửa mã nguồn]

Thơ về Cô gái
Em cất bước đường xa
Ra lệnh ngày đợi chờ
Ngóng trông ngày trở lại
Để cõi lòng tê tái
Em thành tro, lọ tro.
 
Không mua, không bán
Nếu yêu anh, hãy nói
Tình không bán không mua
Em không đáng một xu
Nếu anh – em từ chối.
 
Gửi Bianca
Bianca, anh biết
Ngày ấy đã cận kề
Mai mốt đây thần chết
Gõ cửa là anh đi.
 
Giọt nước mắt nóng bỏng
Hãy rót lên mộ anh
Em ơi, anh rất muốn
Quay mặt về hướng Đông.
 
Ngày Phán xử
Chúa không cho con người biết ngày phán xử
Để con người sống trong sợ hãi mỗi ngày
Để cái ngày này luôn luôn là nỗi sợ
Mà anh ta có thể gặp nó mỗi ngày.
 
Những ngọn nến
Ta thắp lên những ngọn nến trong đám tang
Tục lệ đơn sơ nhưng vô cùng quan trọng
Là để làm cho tĩnh lặng những linh hồn
Bởi họ đi trong những áo quần màu trắng
Và ở nơi kia sống trong ánh sáng vĩnh hằng.
 
Nỗi buồn Chúa Giê-su
Buồn là phận của ta: hãy vác cây thánh giá
Hoặc là sau khi chết sẽ chịu nhiều đau khổ.
 
Giê-hô-va
Boetius [1] nói về Thiên Chúa như vầy:
Không có số nhiều trong bản chất của Ngài.
 
Điều khó xử
Đức Chúa Trời làm con chiên khó xử
Khi Ngài không nghe lời nguyện cầu của họ.
 
Điều khó xử khác
Chúa từ chối lời cầu nguyện – là điều nhục nhã
Và xấu hổ cho con chiên – Cassiodore [2] nói thế.
 
Thiện và Ác
Thiện và Ác đã trộn lẫn từ xưa
Thiện thiếu Ác không tồn tại bao giờ.
 
Khởi đầu và kết thúc
Phao-lô khởi đầu bằng cái xấu nhưng kết thúc bằng cái tốt
Giu-đa khởi đầu bằng cái tốt nhưng kết cục gian manh
Thế nên chúng ta cần đánh giá trong sự tôn sùng
Không ở sự khởi đầu mà chính là kết cục.
 
Ngày phán xét
Chẳng ai được thưởng trong ngày phán xét cuối cùng
Dù Đức Chúa Trời xưa nay vẫn nhân hậu, bao dung.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng
N.848.Upon a Maid
Gone she is a long, long way,
But she has decreed a day
Back to come, and make no stay:
So we keep, till her return,
Here, her ashes, or her urn.
 
N.1055.Nor Buying or Selling.
Now, if you love me, tell me,
For as I will not sell ye,
So not one cross[3] to buy thee
I'll give, if thou deny me.
 
N.991. To Bianca.
Ah, Bianca! now I see
It is noon and past with me:
In a while it will strike one;
Then, Bianca, I am gone.
 
Some effusions let me have
Offer'd on my holy grave;
Then, Bianca, let me rest
With my face towards the East.
 
N.142. THE JUDGMENT-DAY.
God hides from man the reck'ning day, that he
May fear it ever for uncertainty;
That being ignorant of that one, he may
Expect the coming of it every day.
 
N.181. TAPERS.
Those tapers which we set upon the grave
In fun'ral pomp, but this importance have:
That souls departed are not put out quite;
But as they walked here in their vestures white,
So live in heaven in everlasting light.
 
N.159. Christ’s Sadness
Christ was not sad, i' th' garden, for His own
Passion, but for His sheep's dispersion.
 
N.168. Jehovah
Jehovah, as Boetius saith,
No number of the plural hath.
 
N.169. Confusion of Face
God then confounds man's face when He not bears
The vows of those who are petitioners.
 
N-170. Another
The shame of man's face is no more
Than prayers repell'd, says Cassiodore.
 
N.172. Good and Bad
The bad among the good are here mix'd ever;
The good without the bad are here plac'd never.
 
N-200. Beginnings and Endings
Paul, he began ill, but he ended well;
Judas began well, but he foully fell:
In godliness not the beginnings so
Much as the ends are to be look'd unto.
 
N.234. The Judgment-Day
In doing justice God shall then be known,
Who showing mercy here, few prized, or none.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Boetius (Boethius, 480 – 525) – nhà triết học, nhà thần học La Mã.
  2. ^ Cassiodore (Latin: Cassiodorus, 490 – 575) – nhà sư, học giả, nhà văn La Mã.
  3. ^ Cross – a coin (Đồng xu).

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]