Hương thảo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Rosmarinus officinalis)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Rosmarinus officinalis
Rosmarinus officinalis - Köhler–s Medizinal-Pflanzen-258.jpg
Tranh mô tả trong quyển Medicinal Plants của Köhler
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
Bộ (ordo) Lamiales
Họ (familia) Lamiaceae
Chi (genus) Rosmarinus
Loài (species) R. officinalis
Danh pháp hai phần
Rosmarinus officinalis
L.[1]

Hương thảo, tên khoa học Rosmarinus officinalis, là một loài thực vật có hoa trong họ Hoa môi. Loài này được L. mô tả khoa học đầu tiên năm 1753.[2]

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Theo trang Y học cổ truyền Tuệ Tĩnh, hương thảo là loài cây nhỏ cao 1-2m, phân nhánh và mọc thành bụi. Lá nhiều, hẹp, hình dải, dai, có mép gập xuống, không cuống, màu xanh sẫm và nhẵn ở trên, phủ lông rải rác màu trắng ở mặt dưới. Hoa xếp 2-10 ở các vòng lá, dài cỡ 1cm, màu lam nhạt hơi có màu hoa cà với những chấm tím ở phía trong các thuỳ. Toàn cây có mùi rất thơm[3]

Phân bổ[sửa | sửa mã nguồn]

Cây bản địa vùng Địa Trung Hải, được trồng nhiều ở Nam Âu châu, Tây ÁBắc Phi trước đây. Tại Việt Nam cây được nhập trồng ở một số tỉnh miền Trung và miền Nam (theo A. Pételot). Thường trồng bằng cách giâm cành hay gieo hạt.

Cây thích hợp với khí hậu nhiều nắng, khô ráo nhưng không quá nóng. Đất trồng phải thoát nước tốt.

Thành phần hóa học[sửa | sửa mã nguồn]

Cây chứa tinh dầu và tanin. Tinh dầu (0,5% ở cây khô, 1,1-2% ở lá, 1,4% ở hoa) mà thành phần gồm có a-pinen (tới 80%), terpen, borneol, acetat bornyl, camphor, cineol và một sesquiterpen (caryophyllen). Nếu mới cất, tinh dầu là một chất lỏng không màu hay vàng vàng, về sau sẫm dần và cứng lại, có thể hoa tan vào rượu theo bất kỳ tỷ lệ nào. Cây chứa choline, một glucosid không tan trong nước, một saponosid acid, các acid hữu cơ (citric, glycolic, glyeeric) và hai heterosid là romaside và romarinoside; còn có acid rosmarinic[3].

Ứng dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Hương thảo tỏa mùi hương nồng ngào ngạt, lá tươi hay lá khô đều thơm. Bộ phận sử dụng được của hương thảo là ngọn cây với lá. Khi thu hoạch ở quy mô lớn, người ta có thể cắt các ngọn cây có hoa đem phơi hay sấy khô, đập lấy lá. Cũng có thể cắt các cành tươi không hoa hoặc tỉa lá để dùng ở quy mô nhỏ.

Ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]

Lá tươi hay lá khô đều được dùng làm gia vị trong ẩm thực và chiết xuất tinh dầu ứng dụng trong y tế, mỹ phẩm. Cành cây được sử dụng làm que xiên trong các món nướng BBQ, lá được gia vào các món nướng, áp chảo như bít tết, đặc biệt thích hợp khi khử mùi các loại thịt đỏ như thịt cừu, thịt bò thậm chí các loại thịt rừng có mùi như thịt nai, heo mọi. Các món thuần Âu như cừu nướng áp chảo, đút lò, nướng nguyên tảng, đến cừu hầm đều có thể sử dụng hương thảo. Các loại thịt trắng như thịt lợn, thịt gà, các loại rau củ quả như khoai tây, cà rốt đút lò cũng có thể sử dụng hương thảo cho ra các món rất thơm ngon, tuy cỏ xạ hương mùi nhẹ hơn và thích hợp hơn.

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Hương thảo có vị chát, nóng, mùi thơm nồng, hơi se, có tính tẩy uế và chuyển máu. Dùng với liều thấp, nó gây sự dồn máu ở các cơ quan vùng bụng và kích thích sự tiết dạ dày và ruột; nó cũng lợi tiểu. Với liều cao, nó gây co thắt và chóng mặt. Tinh dầu có tác dụng thông ruột, lợi mật và lợi tiểu. Người ta biết được tác dụng của hương thảo là do sự có mặt của acid rosmarinic và các flavonoid, nó cũng có những tính chất chống oxy hoá cũng do có acid rosmarinic.

Ở châu Âu người ta cũng dùng lá hương thảo làm pommat và thuốc xoa trị thấp khớp và đau nửa đầu. Nước hãm (nấu một nắm lá trong ½ lít nước để chiết hết thuốc) dùng rửa các vết thương nhiễm trùng và lâu khỏi. Dùng trong nước hãm này dùng lợi tiểu và gây tiết mật.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Rosmarinus officinalis information from NPGS/GRIN”. www.ars-grin.gov. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2008. 
  2. ^ The Plant List (2010). Rosmarinus officinalis. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2013. 
  3. ^ a ă Hương thảo

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]