Kuchiki Rukia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Rukia Kuchiki)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Rukia Kuchiki
Nhân vật trong Bleach
RukiaAnime.jpg
Kuchiki Rukia bởi Tite Kubo
Xuất hiện lần đầu Chương 1 manga Bleach
Tập 1 anime Bleach
Tạo ra bởi Tite Kubo
Lồng tiếng bởi Tiếng Nhật
Orikasa Fumiko[1]
Tiếng Anh
Michelle Ruff[2]
Tiếng Philippin
Yasmien Kurdi
Lý lịch
Có quan hệ gần với Kuchiki Hisana (chị, đã chết), Kuchiki Byakuya (anh rể, anh nuôi)
Zanpakutō Sode no Shirayuki

Kuchiki Rukia (朽木 ルキア? Rukia Kuchiki hoặc Hủ Mộc Lộ Kì Á) là một nhân vật hư cấu trong loạt animemanga Bleach được tạo ra bởi Tite Kubo. Trong loạt truyện, cô là một Shinigami, thành viên trong Đội 13 dưới sự chỉ huy của đội trưởng Ukitake Jūshirō. Sau khi gặp gỡ nhân vật chính của Bleach, Kurosaki Ichigo, người có thể nhìn thấy các thực thể siêu nhiên như Shinigami, cô buộc phải cho anh ta sức mạnh của mình để thực hiện nhiệm vụ của cô như là một Shinigami. Rukia đã xuất hiện trong nhiều chuyển thể của Bleach, bao gồm 4 bộ phim, 3 OVA và một số video game.

Rukia là nhân vật đầu tiên của Bleach tạo ra bởi Kubo, thiết kế của cô được ông quyết định để sử dụng cho tất cả các Shinigami khác [3]. Phản ứng với nhân vật Rukia nói chung là tích cực. Sự khác biệt của cô so với các nữ anh hùng shōnen được ca ngợi, cũng như sự tương tác của cô với các nhân vật khác [4]. Kết quả là Rukia thường đứng thứ hai trong các cuộc thăm dò sự phổ biến của Bleach bởi Weekly Shōnen Jump [5] và luôn là nhân vật nữ nổi tiếng nhất trong các cuộc thăm dò [5]. Một số hàng hóa đã được phát hành dựa trên Rukia, trong đó có búp bê nhồi bông và tượng [6][7] .

Sáng tạo và khái niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Bleach lần đầu tiên được hình thành từ mong muốn của Tite Kubo là vẽ shinigami mặc kimono, dẫn đến cơ sở hình thành cho thiết kế của Shinigami [3]. Do đó, Rukia là một trong những nhân vật đầu tiên của Bleach được tạo ra. Trước khi quyết định rằng mỗi Shinigami cầm kiếm, Kubo nghĩ rằng họ nên sử dụng súng trong khi Rukia chỉ sử dụng lưỡi hái. Tuy nhiên, điều này đã được thay đổi khi ông tạo ra kimono của Shinigami. Kubo cũng đề cập rằng Rukia không có vẻ giống như một nhân vật chính, do đó, ông đã tạo ra Kurosaki Ichigo là nhân vật chính [8]. Thiết kế ban đầu của Ichigo có mái tóc đen như Rukia; Kubo đã phải sửa đổi ngoại hình của Ichigo để tương phản với cô, cho Ichigo tóc da cam và dựng dứng [9].

Như tên của cô, Kubo nói rằng, bởi vì Rukia trông giống như một shinigami, ông muốn tên của cô có âm thanh như tên của một shinigami. Khi quyết định họ của cô là "Kuchiru" (朽ちる? nghĩa đen "để mục"), bởi vì nó có vẻ giống như một tên một shinigami đã có nên ông sau đó quyết định sử dụng từ "Kuchiki" (朽木? nghĩa đen "gỗ mục"). Ông nói thêm rằng ông đã từng nghe thấy cái gì đó nghe như "Kuchiki Rukia" trên truyền hình Nhật Bản, và thích nó, đủ để sử dụng nó như là một cái tên [8]. Tên đầu tiên của cô đã được hình thành như là kết quả của Kubo nghe tiếng Latin của từ vũ trụ trên truyền hình và sau đó ông quyết định rằng cái tên này thực sự phù hợp với cô vì từ tiếng Latin của tên cô có nguồn gốc có nghĩa là "ánh sáng" và Kubo thấy cô như là "một tia sáng cho Ichigo." Shonen Jump hỏi trong một cuộc phỏng vấn là Kubo có bất kỳ kế hoạch nào cho Ichigo và Rukia thành một cặp, nhưng Kubo không xác nhận hay phủ nhận nó [10]. Sau khi thiết kế zanpakutō của Rukia, Kubo ghi nhận ông rất thích và làm cho nó trở thành một trong những điều đẹp nhất của Bleach' [11].

Khi Kubo được yêu cầu để thực hiện một bìa truyện với một nhân vật nữ trong thời gian Giáng sinh, Kubo ban đầu nghĩ rằng nên sử dụng Rukia, nhưng ông sau đó thay đổi san dùng Inoue Orihime vì ông nghĩ cô phù hợp hơn cho vai trò đó. Tuy nhiên, Kubo đã nhận xét rằng ông trước đó đã thực hiện một minh họa bìa Giáng sinh với Rukia, và rằng ông đã nhận được yêu cầu của một số người hâm mộ muốn xem hình ảnh đó. Trái ngược với điều này Kubo nhận thấy rằng ông thích Rukia hơn trong hình minh họa, trong đó khuôn mặt của cô thể hiện sự đau đớn như khi cô sắp bị xử tử trong manga [12].

Xuất hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Trong manga và anime[sửa | sửa mã nguồn]

Rukia ban đầu gặp Kurosaki Ichigo ở giữa một cuộc tấn công của hollow. Sau khi bị thương do hollow, Rukia bị buộc phải chuyển giao sức mạnh Shinigami của mình cho Ichigo để anh có thể giết Hollow và cứu sống họ và gia đình của anh [13]. Trong khi anh thành công, Rukia quá yếu để có thể trở về Soul Society, và sống với Ichigo trong thế giới con người, có ý định ở lại cho đến khi sức mạnh của cô được phục hồi. Vì vậy, khả năng duy nhất của cô khi đó là kidō, vốn giới hạn trong khả năng và độ đa dạng. Cô sử dụng kidō cho các mục đích như ngăn chặn, chữa thương, hoặc tấn công người khác [14]. Do thời gian của cô dành cho Ichigo, Rukia đã đạt được sự hiểu biết và quan tâm về các hoạt động bên trong của anh [15]. Mối quan hệ của cô với Ichigo là độc nhất, mặc cho thời gian họ quen biết nhau là không nhiều nhưng Ichigo có thể dễ dàng tâm sự và coi cô là người bạn thực sự vì cô luôn khuyến khích và hiểu những gì anh cảm nhận [16]. Trong thời gian ở thế giới con người, Rukia bị coi là mất tích nên Kuchiki ByakuyaAbarai Renji được gửi đi để tìm và đưa cô về Soul Society [17]. Họ thành công, và khi về thì Rukia bị kết án tử hình vì giao sức mạnh Shinigami của mình cho con người. Ichigo cuối cùng đến đúng lúc để ngăn cản vụ tử hình, và cố gắng đưa giúp cô đến nơi an toàn [18].

Trong câu chuyện này, quá khứ của Rukia được tiết lộ. Rukia chết từ khi còn là một đứa trẻ sơ sinh và được gửi đến Soul Society cùng với chị là Hisana. Mặc dù lúc đầu Hisana cố gắng hết sức để bảo vệ và chăm lo cho Rukia, cô không thể đảm bảo sự tồn tại của chính mình trong khi phải nuôi thêm một đứa trẻ, vì thế Hisana đã bỏ rơi Rukia [19]. Khi Rukia lớn lên, cô kết bạn với Abarai Renji và cùng vào học viện Shinigami, nơi cô được gia đình Kuchiki nhận nuôi [20]. Vốn là một năm trước khi Rukia vào học viện, Hisana chết sau khi yêu cầu chồng cô, Kuchiki Byakuya, để tìm kiếm và nhận Rukia là em gái. Điều này được giữ kín cho đến khi Byakuya quyết định tiết lộ nó cho Rukia [19]. Khi cô được nhận vào Đội 13 Rukia kết bạn với một đội phó của đơn vị, Shiba Kaien, và được đào tạo bởi anh [21]. Trong lúc thực hiện một nhiệm vụ Kaien bị chiếm hữu bởi một hollow và Rukia buộc phải giết anh để bảo vệ chính mình [22].

Rukia sử dụng khả năng "First dance, white moon của Sode no Shirayuki shikai.

Khi Rukia cố gắng giành lấy sự tự do, cô bị chặn lại bởi Sosuke Aizen và đồng bọn. Aizen, tự mình sắp vụ xử tử Rukia, tiết lộ với cô rằng trong tâm hồn của cô đang lưu trữ Hōgyoku ("quả cầu phá vỡ"), một tạo tác mạnh mẽ tạo ra và cất ở đó bởi Kisuke Urahara với khả năng cung cấp cho hollow sức mạnh của Shinigami và ngược lại. Vì muốn Hōgyoku cho riêng mình, Aizen hy vọng rằng cái chết của cô sẽ cho hắn lấy được nó, nhưng giải quyết bằng phương pháp an toàn hơn [23]. Hōgyoku được lấy khỏi cơ thể của Rukia và Aizen và người của hắn chạy trốn khỏi Soul Society, và Rukia được tha bổng [24]. Với Hōgyoku, Aizen có thể tạo ra một đội quân arrancar, mà hắn sử dụng để tấn công Ichigo và bạn bè một khi họ trở về thế giới con người. Rukia và một nhóm Shinigami khác được gửi đến giúp đỡ trong cuộc chiến chống lại arancar [25], mặc dù sau đó Aizen bắt giữ Inoue Orihime khi họ được triệu hồi về Soul Society [26]. Zanpakutō của Rukia, Sode no Shirayuki (袖白雪? nghĩa đen "tay trắng tuyết") là một thanh kiếm toàn màu trắng, vốn được coi là zanpakutō đẹp nhất ở Soul Society [27]. Sode no Shirayuki sử dụng nước đá để tấn công, mỗi khả năng của nó được kích hoạt bởi lệnh "nhảy" của Rukia. Trong mùa 13 của anime, Sode no Shirayuki xuất hiện trong hình dạng của một yukionna, lồng tiếng bởi Sonozaki Mie [28].

Không muốn từ bỏ Orihime cho Aizen, Rukia đi đến Hueco Mundo với Ichigo để giải cứu cô [29]. Khi ở đó, Rukia gặp Espada thứ 9, Aaroniero Arruruerie, người được tiết lộ là chiếm hữu cơ thể của Kaien. Quá đau buồn vì không cứu được cố vấn của mình khỏi sự kiểm soát của một hollow như cô đã từng nghĩ, Rukia giết Aaroniero [30]. Cô bị thương nặng trong trận chiến, và khi Soul Society gửi quân tiếp viện đến Hueco Mundo thì cô được cứu chữa và vết thương được chữa lành [31]. Sau đó, cô giúp Ichigo giải cứu Orihime khỏi Espada Ulquiorra Cifer bằng cách nghênh chiến với Exequias [32], nhưng bị đánh bại bởi Espada Cero Yammy. Sau khi Aizen bị đánh bại và sự mất đi sức mạnh Shinigami của Ichigo, Rukia và Ichigo chia tay nhau khi Ichigo mất đi khả năng cảm nhận sự hiện diện của Rukia. Mười bảy tháng sau, Rukia, giờ là đội phó của Đội 13, trở về thới giế thực để hỗ trợ trong việc khôi phục sức mạnh Shinigami của Ichigo. Sau đó, cô nghệnh chiến với Dokugamine Riruka, một trong những người đánh cắp sức mạnh của Ichigo.

Sau đó Rukia cho thấy dấu hiệu của sự lo lắng trong cuộc gặp của các đội phó sau cái chết Sasakibe. Sau đó, trong cuộc xâm lược của Vandenreich, cô cảm nhận được cái chết của Byakuya và hét lên tên của anh trước khi bị đánh gục bởi một quincy.

Trong các phương tiện khác[sửa | sửa mã nguồn]

Rukia cũng xuất hiện bên ngoài animemanga của Bleach. Cô xuất hiện trong tất cả các bộ phim: cô chiến đấu chống lại Dark One cùng với các Shinigami khác trong Bleach: Memories of Nobody và giúp đỡ trong cuộc tìm kiếm Hitsugaya Toshiro trong Bleach: The DiamondDust Rebellion[33][34]. Rukia cũng đóng vai trò trọng tâm chính trong bộ phim thứ 3, Bleach: Fade to Black, I Call Your Name, trong đó cô bị bắt cóc và tẩy trí nhớ bởi 2 kẻ nổi loạn bí ẩn, và sau đó biến thành 'Dark Rukia' [35]. Cô cũng xuất hiện trong 2 phiên bản OVA, giúp đỡ Ichigo trong Memories in the Rain, chống lại Shinigami nổi loạn Baishin trong The Sealed Sword Frenzy [36][37]. Trong Nhạc kịch rock của Bleach, một vở nhạc kịch dựa trên Bleach, cô được đóng bởi Sato Miki [38]. Trong các video game Bleach, Rukia là một nhân vật chơi được trong mỗi trò chơi, bao gồm các loạt game Heat the SoulBlade Battlers. Trong một số trò chơi, hình dạng con người và trạng thái Shinigami của cô có sẵn như là các nhân vật riêng biệt [39][40] trong khi Dark Rukia là chơi được ở Heat the Soul 6Heat the Soul 7 [41].

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Rukia được xếp hạng cao trong các bình chọn của Weekly Shōnen Jump về sự phổ biến của Bleach, dứng trong top 5 nhân vật nổi tiếng hàng đầu ở tất cả 4 cuộc thăm dò. Cô được xếp hạng là nhân vật nổi tiếng thứ 2 sau Ichigo trong 2 cuộc thăm dò đầu tiên và rơi xuống vị trí thứ 3 trong cuộc bình chọn thứ 3, được thay thế bởi Hitsugaya Toshiro [5][42][43]. Vào đầu năm 2008, cô được bình chọn là nhân vật nổi tiếng thứ 2 trong Bleach, nhận được 383 phiếu ít hơn nhân vật dẫn trước, Hitsugaya Toshiro [44]. Zanpakutō của cô, Sode no Shirayuki, đứng thứ 2 trong các zanpakutō nổi tiếng trong Bleach. Nhà phân phối âm nhạc Nhật Bản Recochoku đã làm hai cuộc khảo sát hàng năm trong đó có các nhân vật anime mà mọi người muốn kết hôn. Rukia đứng thứ 4 trong danh mục "The Character I Want to Be My Bride" từ cuộc khảo sát năm 2009 [45]. Trong một cuộc thăm dò nhân vật năm 2007 của Nhật Bản do tạp chí Newtype, Rukia đã được bình chọn là một trong những nhân vật nữ nổi tiếng nhất từ anime [46].

Các hàng hóa dựa trên Rukia đã được phát hành, bao gồm móc chìa khóa [47], búp bê [6], và tượng [7]. Orikasa Fumiko, diễn viên lồng tiếng Nhật của Rukia, thích cái cách mà Rukia được phát triển trong khi chiến đấu chống lại arrancar. Tuy nhiên, cô cũng rất buồn bởi sau khi Rukia đánh bại arrancar đầu tiên, cô ngay lập tức bị đâm bởi arrancar Grimmjow [11]. Michelle Ruff, diễn viên lồng tiếng tiếng Anh của Rukia, coi Rukia là một "nạn nhân", do sự cô đơn của Rukia và cách cô ấy đã được phát triển thông qua anime khi cô đã bắt đầu tin tưởng mọi người. Cô cũng thích Rukia lạnh lùng khi cô đang đấu tranh nhưng cũng coi đó là thách thức khi thể hiện Rukia do thái độ khác nhau của cô [48]. Ruff là người chiến thắng trong hạng mục "Nữ diễn viên lồng tiếng xuất sắc nhất (tiếng Anh)" từ giải thưởng SPJA Industry Awards năm 2009 dựa công việc của cô là Rukia. Rukia cũng thắng ở hạng mục "Nhân vật nữ hay nhất" dựa trên sự xuất hiện của cô trong Bleach: Memories of Nobody [49].

Một số ấn phẩm cho anime, manga, video game, và các phương tiện thông tin liên quan khác đã cung cấp lời khen ngợi và phê bình về nhân vật Rukia. Mặc dù Chris Beveridge từ Mania Entertainment coi sự giới thiệu của Rukia là khá điển hình trong các truyện manga khác, ông ca ngợi cách cô tương tác với bạn học của cô và Ichigo [4]. Melissa Harper của Anime News Network (ANN) đánh giá cao sự khác biệt giữa Rukia và các nữ anh hùng shōnen truyền thống, khẳng định rằng Rukia mất sức mạnh của mình và sau đó phụ thuộc vào Ichigo là "một nguồn tuyệt vời của cả lãng mạn và hài hước trong show." Tuy nhiên, việc loại bỏ các cảnh hài hước của Rukia như là một sinh trung học của bản dịch tiếng Anh đã bị phàn nàn, mặc dù Ruff được ca tụng là đã làm một "công việc tuyệt vời." [50] Carlos Alexandre từ popcultureshock.com coi cô là "less of a foil to Ichigo and more like the other side of the same coin". Câu nói và hành động của Rukia cũng được Alexendre nhận xét là để làm cho cô xứng đáng với sự tôn trọng [51]. IGN gọi cảnh Rukia bị buộc phải rời khỏi Kurosaki Ichigo và trở về Soul Society là "touchingly beautiful" và chúc mừng cho sự phát triển nhân cách của Rukia trong thời gian cô ở thế giới con người [52]. Sự xuất hiện tiếp theo của cô trong Soul Society đã bị chỉ trích bởi Theron Martin của ANN do những thiếu thốn về hoạt động làm cho chúng "irritating given how strong a character she was in the series' early going" [53].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ TV Tokyo, Dentsu, Studio Pierrot (October 5, 2004). "死神になっちゃった日" (bằng). Bleach. Tập 1. TV Tokyo. 
  2. ^ TV Tokyo, Dentsu, Studio Pierrot (September 8, 2006). "A Soul Reaper is Born!" (bằng). Bleach. Tập 1. Cartoon Network. 
  3. ^ a ă Deb Aoki. “Interview: Tite Kubo (page 1)”. About.com. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2008. 
  4. ^ a ă Beveridge, Chris (28 tháng 11 năm 2006). “Bleach Vol. #01”. Mania Entertainment. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2009. 
  5. ^ a ă â Kubo, Tite (2008). Bleach, Volume 24. Viz Media. tr. 186. ISBN 1-4215-1603-5 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  6. ^ a ă “Amazon.com: Bleach Rukia School Uniform Plush Figure”. Amazon.com. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2008. 
  7. ^ a ă “Amazon.com: Bleach 5" PVC Figurines Series 1: Ichigo Kurosaki & Rukia Kuchiki Two-Pack Figure Set”. Amazon.com. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2008. 
  8. ^ a ă Tite Kubo, Masakazu Morita. (August 2007). Tite Kubo Interview, Bleach B-Station 112. Japan: Bleach B-Station. 
  9. ^ Weekly Shōnen Jump, Number 9 (February). Shueisha. 2008. tr. 123. 
  10. ^ Deb Aoki. “Interview: Tite Kubo (page 2)”. About.com. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2008. 
  11. ^ a ă Fumiko Orikasa, Masakazu Morita. (April 2007). Bleach Voices Actors Interview, Bleach B-Station 103. Japan: Bleach B-Station. 
  12. ^ Kubo, Tite (2008). The Art of Bleach. Viz Media. ISBN 1-4215-1884-8. 
  13. ^ Kubo, Tite (2004). “Chapter 1”. Bleach, Volume 1. Viz Media. tr. 55. ISBN 1-59116-441-9. 
  14. ^ Kubo, Tite (2004). “Chapter 9”. Bleach, Volume 2. Viz Media. tr. 34–37. ISBN 1-59116-442-7. 
  15. ^ Kubo, Tite (2008). “Chapter 196”. Bleach, Volume 22. Viz Media. ISBN 1-4215-1179-7. 
  16. ^ Kubo, Tite (2006). “Chapter 94”. Bleach, Volume 11. Viz Media. tr. 116–119. ISBN 1-4215-0271-2. 
  17. ^ Kubo, Tite (2005). “Chapter 52”. Bleach, Volume 6. Viz Media. ISBN 1-59116-728-0. 
  18. ^ Kubo, Tite (2007). “Chapter 150”. Bleach, Volume 18. Viz Media. ISBN 1-4215-1042-1. 
  19. ^ a ă Kubo, Tite (2007). “Chapter 179”. Bleach, Volume 21. Viz Media. tr. 15–24. ISBN 1-4215-1165-7. 
  20. ^ Kubo, Tite (2006). “Chapter 98”. Bleach, Volume 11. Viz Media. ISBN 1-4215-0271-2. 
  21. ^ Kubo, Tite (2006). “Chapter 134”. Bleach, Volume 16. Viz Media. ISBN 1-4215-0614-9. 
  22. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Kubo2006
  23. ^ Kubo, Tite (2007). “Chapter 175”. Bleach, Volume 20. Viz Media. ISBN 1-4215-1044-8. 
  24. ^ Kubo, Tite (2007). “Chapter 177”. Bleach, Volume 20. Viz Media. ISBN 1-4215-1044-8. 
  25. ^ Kubo, Tite (2008). “Chapter 195”. Bleach, Volume 22. Viz Media. ISBN 1-4215-1179-7. 
  26. ^ Kubo, Tite (2007). “Chapter 238”. Bleach, Volume 27. Shueisha. ISBN 4-08-874339-4 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  27. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Fame
  28. ^ TV Tokyo, Dentsu, Studio Pierrot (August 4, 2004). "白哉、桜と共に消ゆ" (bằng). Bleach. Tập 231. TV Tokyo. 
  29. ^ Kubo, Tite (2007). “Chapter 247”. Bleach, Volume 28. Shueisha. ISBN 4-08-874365-3 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  30. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Pity
  31. ^ Kubo, Tite (2008). “Chapter 304”. Bleach, Volume 34. Shueisha. ISBN 4-08-874541-1 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  32. ^ Kubo, Tite (2009). “Chapter 317”. Bleach, Volume 37. Shueisha. ISBN 978-4-08-874628-9. 
  33. ^ (DVD) Bleach: Memories of Nobody. Viz Media. 2008. 
  34. ^ (DVD) 劇場版BLEACH The DiamondDust Rebellion もう一つの氷輪丸. TV Tokyo. 2008. 
  35. ^ “Third Bleach Film, First Major Film Have Titles, Dates”. Anime News Network. 15 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2009. 
  36. ^ (DVD) Bleach: Memories in the Rain. TV Tokyo. 2006. 
  37. ^ (DVD) Bleach - The Sealed Sword Frenzy. TV Tokyo. 2006. 
  38. ^ “Bleach Rock Musical official site”. Studio Pierrot. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2009. 
  39. ^ Bleach: Heat the Soul official site” (bằng tiếng Nhật). SCEI. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2008. 
  40. ^ SCEI biên tập (2007). Bleach: Heat the Soul 4 Japanese instruction manual (bằng tiếng Nhật). SCEI. tr. 42–43. 
  41. ^ SCEI biên tập (2009). Bleach: Heat the Soul 6 Japanese instruction manual (bằng tiếng Nhật). SCEI. 
  42. ^ Kubo, Tite (2005). “Radio Kon”. Bleach, Volume 8. Viz Media. ISBN 1-59116-872-4. 
  43. ^ Kubo, Tite (2006). “Bleach popularity vote 2”. Bleach, Volume 13. Viz Media. ISBN 1-4215-0611-4. 
  44. ^ Kubo, Tite (2008). “Chapter 307”. Bleach, Volume 35. Shueisha. ISBN 978-4-08-874575-6. 
  45. ^ “Survey: K-ON's Mio, Reborn's Hibari are #1 Bride, Groom”. Anime News Network. 14 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2009. 
  46. ^ “NT Research”. Newtype, Issue 5 (Kadokawa Shoten). May năm 2007. 
  47. ^ “Bleach - Accessories - Rukia Metal Keychain”. Viz Media. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2008.  [[]][liên kết hỏng]
  48. ^ Bleach Uncut Season 2 Box Set; Behind the scenes of Bleach. [DVD]. Viz Media. August 19, 2008. 
  49. ^ “SPJA Industry Award Winners Announced at Anime Expo”. Anime news Network. 3 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2009. 
  50. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên ANNDVD1Review
  51. ^ Alexandre, Carlos (30 tháng 7 năm 2007). “Anime Review: Bleach, Vol. 1”. popcultureshock.com. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2009. 
  52. ^ Van Horn, Jason (16 tháng 1 năm 2007). “IGN: Ichigo Dies! Review”. IGN. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2008. 
  53. ^ Martin, Theron (3 tháng 9 năm 2009). “Bleach DVD - Season 3 Uncut Box Set”. Anime News Network. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

http://bleach.wikia.com

Nhân vật trong Bleach

Karakura  Kurosaki IchigoInoue OrihimeIshida UryūYasutora "Chad" SadoArisawa TatsukiAsano Keigo
Shinigami: Yamamoto-Genryūsai Shigekuni & Sasakibe ChōjirōSoifon & Ōmaeda MarechiyoIchimaru Gin & Kira IzuruUnohana Retsu, Kotetsu Isane, & Yamada HanatarōAizen Sōsuke & Hinamori MomoKuchiki Byakuya & Abarai RenjiKomamura Sajin & Iba TetsuzaemonKyōraku Shunsui & Ise NanaoTōsen Kaname & Hisagi ShūheiHitsugaya Tōshirō & Matsumoto RangikuZaraki Kenpachi, Kusajishi Yachiru, Madarame Ikkaku, & Ayasegawa YumichikaKurotsuchi Mayuri & Kurotsuchi NemuUkitake Jūshirō, Shiba Kaien, & Kuchiki RukiaUrahara Kisuke, Shihouin Yoruichi, & Kurosaki IsshinNhững shinigami khác
Bounts: Kariya Jin & Gō KogaNhững Bount khác
Arrancar: Ulquiorra SchifferGrimmjow JeagerjaquesLuppiSzayel Aporro GrantzAaroniero ArleriYammyNoitoraWonderwice MargeraNhững arrancar khác
Nhân vật khác: Shiba GanjuKonIshida RyūkenHirako ShinjiDanh sách đầy đủ