Sôn Gôhan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sôn Gôhan
Nhân vật trong Dragon Ball
SonGohan.gif
孫 悟飯
Son Gohan
Xuất hiện lần đầu Dragon Ball Manga Vol. 22
Tạo ra bởi Akira Toriyama
Lồng tiếng bởi Xem Diễn viên lồng tiếng
Lý lịch
Tên hiệu Son Gohan
Giới tính Nam
Ngày sinh 757 A.D.
Quốc tịch Saiyan
Có quan hệ gần với Sôn Gôku (cha)
Chichi (mẹ)
Sôn Gôtên
(em trai)
Piccolo (sư phụ)
Biđen (vợ)
Satan đầu xù (cha vợ)
Pan
(con)

Sôn Gôhan (孫悟飯 phiên âm: Tôn Ngộ Phạn?, Son Gohan)  là con trai đầu tiên của nhân vật chính Goku và Chi-Chi, anh trai của Goten, chồng của Videl và cha của Pan. Gohan là người Saiyan lai đầu tiên (nửa người, nửa Saiyan) xuất hiện trong bộ phim. Ông được đặt theo tên ông nội nuôi của Goku, Gohan .

Không giống như cha mình, Gohan thiếu niềm đam mê chiến đấu và chỉ chiến đấu khi cần thiết để bảo vệ những người thân yêu của mình. Tuy nhiên, Gohan chiến đấu bên cạnh các chiến binh Z trong việc bảo vệ trái đất cho phần lớn cuộc đời của mình. Cuối cùng, ông định cư trong một gia đình vào cuối Dragon Ball Z, chọn một cuộc sống của học giả để thay thế.

Bản thân[sửa | sửa mã nguồn]

Gohan lúc nhỏ rất là mít ướt, đụng đâu khóc đó, nhưng sau khi GokuRa Đíc chết, Picollo đã huấn luyện cho Gohan một cách nghiêm khác và sau một năm, Gohan đã trở thành một cậu bé rắn rỏi

Khi chiến đấu với Xên Bọ Hung, Gohan và bố đã vào căn phòng thời gian của thượng đế 3 năm và đã tu thành Siêu Xayda,khi đã trở thành Siêu Xayda,Gohan mới bộc phát được sức mạnh của một người mang 2 dòng máu,mạnh hơn cả một người Saiyan chính cống

Lớn lên, cậu đã nhờ Bulma thiết kế cho một bộ đồ để hành hiệp với cái biệt hiệu Hiệp sĩ Saiyan. Nhưng không may cho cậu là Videl, Con gái ông Santa đầu xù lại biết được bí mật của cậu và bắt cậu tham gia đại hội võ thuật nếu muốn giữ bí mật.

Đại hội võ thuật lần đó Videl cũng tham gia và Gohan đã huấn luyện cho Videl. Từ đó họ bắt đầu có tình cảm và đã lấy nhau. Sau này họ có một đứa con gái là Pan.

Sức mạnh[sửa | sửa mã nguồn]

Gohan được mạnh mẽ hơn sau khi tập luyện cho cuộc chiến chống lại những người Saiyans với Piccolo: mức độ quyền lực của mình là 1000 khi đối đầu với Nappa và Vegeta, và nó tăng lên đến 2800 khi sử dụng Masenko mình trên Nappa. Sau khi tiềm năng của ông đã được mở khóa bởi Grand Elder Guru, mức năng lượng của Gohan tăng lên đến 14.000. Sau khi cuộc chiến chống lại quân Ginyu, do thời gian ông, Vegeta, Krillin và bắt đầu chiến đấu Frieza, mức công suất Gohan là 200.000; khi tức giận của mình tăng lên trong trận chiến của mình với các hình thức khác nhau của Frieza, ông có đủ sức mạnh để có làm Frieza đau

Sức mạnh của Gohan phát triển thậm chí còn cao hơn trước và trong khi Sagas Androids / di động, khi ông huấn luyện với cha mình và đạt được hình thức Super Saiyan là một thiếu niên. Tiềm năng Gohan là lớn hơn cha của mình và quyền lực của mình đã vượt qua Cell khi ông chiến đấu trong Trò chơi Cell, nhưng trái tim dịu dàng của mình ngăn không cho anh hoàn toàn sử dụng nó.  Gohan cuối cùng đạt Super Saiyan 2, lúc này ông trở nên mạnh mẽ hơn bất kỳ các chiến binh Z khác và Super Perfect Cell.

Đến thời điểm ngày 25 thế giới võ thuật giải đấu, do thiếu luyện tập, Gohan không còn mạnh mẽ như ông trong trò chơi di động nhưng nó cũng đủ mạnh mẽ để chiến đấu Dabura và cũng tổ chức off mỡ Majin Bửu trong một thời gian ngắn.Tuy nhiên, sau khi đào tạo với Z Sword, tối cao Kai tin rằng Gohan sẽ có thể đánh bại các chất béo Majin Bửu. Sau khi Z Sword là bị hỏng Gohan có tiềm năng mở khóa của mình hơn nữa bởi Old Kai, như Ultimate Gohan, anh vượt Super Saiyan 2 và thậm chí Super Saiyan 3 (theo Super thú vị Trận Hướng dẫn, ông được khẳng định mạnh hơn Gotenks trong manga / anime). Mystic Gohan là có đủ sức mạnh để đánh bại Super Buu trong trạng thái thường xuyên của mình, và giữ riêng của mình chống lại ông sau khi ông hấp thụ Gotenks và Piccolo, trước khi cuối cùng đã bị đánh bại bởi sức mạnh vượt trội của Super Buu.

  • Diễn viên lồng tiếng
  • Japanese Dub: Masako Nozawa
  • Ocean Dub: Saffron Henderson (young through Android Saga) Jillian Michaels (Cell Games Saga) Brad Swaile (teen and adult)
  • Funimation Dub: Stephanie Nadolny (young and teen) Kyle Hebert (adult) Dameon Clarke (Trunk's timeline adult)
  • Latin American Dub: Laura Torres (young and teen) Luis Alfonso Mendoza (adult)
  • German Dub: Sandro Blumel (young) Robin Kahnmeyer (teen and adult)
  • Brazilian Dub: Fátima Noya (young) Yuri Chesman (teen) Vagner Fagundes (adult)
  • Italian Dub: Patrizia Scianca (young) Davide Garbolino (teen and adult)
  • Tagalog, Hiligaynon and Cebuano Dub: Robert Brillantes
  • Hungarian Dub: Koltai Judit (young) Csőre Gábor (teen and adult)
  • Vietnamese Dub: Ái Phương (young) Hoàng Khuyết (teen and adult)


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]