Sông Aldan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sông Aldan
Aldanrivermap.png
Nguồn Dãy núi Stanovoy
Cửa sông Sông Lena
Các quốc gia lưu vực Nga
Chiều dài 2.273 km (1.412 mi)
Lưu lượng nước bình quân 5.060 m³/s (180.000 cu ft/s)
(gần cửa sông)
Diện tích lưu vực 729.000 km2 (281.000 sq mi)

Aldan (tiếng Nga: Алдан) là chi lưu dài thứ hai của sông Lena, thuộc địa bàn Cộng hòa Sakha ở Đông Siberi. Sông có chiều dài 2.273 km (1412 mi), trong đó khoảng 1.600 km (994 mi) là có khả năng thông hành. Dây là một phần của tuyến đường thủy đến Okhotsk. Năm 1639 Ivan Moskvitin đã đến sông Aldan và sông Maya và qua sông Ulya để tiếp cận biển Okhotsk.

Sông khởi nguồn từ dãy núi Stanovoy ở tây nam của Neryungri, sau đổi hướng đông bắc qua AldanTommot, Ust-Maya, EldikanKhandyga trước khi chuyển hướng tây bắc hợp vào sông Lena gần Batamay.

Các chi lưu chính của sông Aldan là sông Amga, sông Uchursông Maya. Trên lưu vực sông có tài nguyên vàng và các hóa thạch từ kỷ Cambri.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Athol Yates and Nicholas Zvengintzov, 'Siberian BAM Guide', 2001

Tọa độ: 63°26′46,36″B 129°33′12,7″Đ / 63,43333°B 129,55°Đ / 63.43333; 129.55000