Sông Bằng Giang

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sông Bằng Giang vào Việt Nam ở Sóc Giang và rời ở Tà Lùng.

Sông Bằng, còn có tên gọi là sông Bằng Giang chảy qua tỉnh Cao Bằng, Việt Nam.

Bắt nguồn từ tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc chảy theo hướng tây bắc - đông nam vào Cao Bằng tại cửa khẩu Sóc Giang, xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng.

Từ xã Sóc Giang, sông chảy theo hướng đông nam qua các huyện Hà Quảng, Hòa An, thành phố Cao Bằng, huyện Phục Hòa. Đoạn sông chảy qua Cao Bằng kết thúc tại cửa khẩu Tà Lùng, xã Mỹ Hưng, huyện Phục Hòa (phía đông nam Cao Bằng) trước khi đổ vào tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Nó hợp lưu với sông Kỳ Cùng gần thị trấn Long Châu, (Long Châu, Sùng Tả, Quảng Tây) để tạo thành sông Tả Giang, chi lưu phía nam của Úc Giang. Ở Trung Quốc, sông Bằng được gọi là sông Thủy Khẩu (水口河, Suikouhe).

Sông Bằng có tổng chiều dài khoảng 108 km, trên đất Việt Nam sông Bằng có chiều dài khoảng 90 km, diện tích lưu vực 4.000km2,độ cao bình quân lưu vực là 482 m, chiều rộng trung bình lưu vực là 44,5 km, mật độ lưới sông 0,91 km/km2, hệ số uốn khúc là 1,29. Sông Bằng Giang có 24 chi lưu trong đó có 3 chi lưu lớn là sông Sê Bao, sông Hiếu, sông Bắc Vọng.

Diện tích tự nhiên toàn lưu vực sông Bằng tính đến cửa khẩu Tà Lùng là 4740 km², trong đó thuộc địa phận Việt Nam là 4264km8, thuộc địa phận Trung Quốc 476 km². Mật độ lưới sông trong lưu vực là 0,91 km/km².[1]

Ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vietnam Administrative Atlas, NXB Bản Đồ, 2004

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]