Kiểu 38 (súng trường)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Súng trường Kiểu 38)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Súng trường Kiểu 38
Rifle Type 38 1.jpg
Loại Súng trường
Nguồn gốc  Đế quốc Nhật Bản
Lược sử hoạt động
Quốc gia sử dụng Xem Các nước sử dụng
Sử dụng trong
Lược sử chế tạo
Năm thiết kế 1905
Số lượng chế tạo 3.400.000
Các biến thể Súng nhỏ hơn và súng trường kỵ binh
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 3,95 kg
Chiều dài 1.280 mm
Cỡ nòng  800 mm

Đạn 6,5×50mm Arisaka
Cơ cấu hoạt động Thoi nạp đạn trượt
Tốc độ bắn 765 m/s
Sơ tốc 30 vòng/phút
Cơ cấu nạp 5 viên đạn

Súng trường Kiểu 38 Arisaka (tiếng Nhật: 三八式歩兵銃; rōmaji: Sambachi-shiki hoheijū) là loại súng trường lên đạn từng viên và thoi nạp đạn có thể chuyển động (khi bắn thoi nạp sẽ đẩy ra phía sau và mở ra để đẩy vỏ đạn rỗng ra ngoài nhưng sẽ nằm đó luôn nếu muốn lên đạn phải đẩy thoi nạp đạn trở về chỗ cũ). Đây là loại súng trường tiêu chuẩn của bộ binh Nhật Bản trong thời gian dài. Nó còn được biết đến như là súng trường năm thứ 38 của triều đại Minh Trị. Bản cũ hơn là súng trường năm thứ 30 triều đại Minh Trị (Súng trường Kiểu 30) được sử dụng chung với nó cả hai điều được biết dưới cái tên Arisaka theo tên người đã phát minh chúng.

Loại súng này thiết kế sử dụng loại đạn 6,5×50mm Arisaka. Loại đạn này khi bắn tạo ra rất ít độ giật. Tuy nhiên khi mang ra so sánh với loại đạn 6,5×50mm của Na UyÝ thì loại đạn này không mạnh bằng các loại đạn cùng loại với nó đạng được sử dụng ở các nước khác. Loại súng trường Arisaka dài khoảng 1280 mm (50 inch) là loại súng trường dài nhất trong các cuộc chiến tranh vì việc tập luyện chiến đấu của quân Nhật Bản trong thời kỳ này là với lưỡi lê vốn dài trung bình 160 cm (5 feet, 3 inch) khiến loại súng này trông giống như một ngọn giáo. Loại súng này còn dài hơn khi lưỡi lê của súng trường Kiểu 30 chỉ dài 400 mm (15,75 inch) được cải tiến.

Hai lý do chính (cùng với những lý do khác) để quân đội Nhật Bản chuyển qua dùng súng trường Kiểu 99 là: súng trường ngắn hơn có thể sử dụng loại đạn mạnh hơn, mục tiêu chính của Nhật Bản là sản xuất một loại súng dài mà tiêu tốn ít công đoạn xử lý máy móc hơn để ngành luyện kim của Nhật Bản có thời gian làm chuyện khác.

Súng trường kỵ binh Kiểu 38 có nòng súng ngắn hơn Kiểu 38. Được sử dụng không chỉ bởi kỵ binh mà còn bởi các kỹ sư, các lực lượng quân nhu và cả các lực lượng binh lính dự bị. Nó được giới thệu cùng thời gian súng trường Kiểu 38 nó có nòng súng ngắn chỉ có 487 mm và chiều dài tổng thể là 966 mm trọng lượng 3,3 kg.

Các biến thể của súng trường kỵ binh Kiểu 38 là súng trường bộ binh cũng tên Kiểu 38 nhưng có chiều dài nòng súng ngắn hơn từ 31,25 inch đến 23,5 inch. Tất cả súng trường Kỵ binh đều có mang số kho và con dấu của xưởng pháo binh Tokyo nơi sản xuất ra loại súng nguyên mẫu.

Các mẫu biến thể khác được phát triển từ Kiểu 38 là súng trường kỵ binh Kiểu 44, súng ngắm Kiểu 97. Hải quân Hoàng gia Nhật Bản còn mua thên loại súng trường Kiểu 1 từ Ý khi chiến tranh thế giới thứ hai mới bắt đầu. Súng trường được làm bởi Ý có nòng súng sử dụng loại đạn 6.5×50mm giống như Kiểu 38. Súng trường Kiểu 1 đã được sử dụng chung với súng trường Kiểu 38 vì chúng trông khá giống nhau và chiều dài cũng gần bằng nhau, ngoại trừ việc chúng hoạt động giống với súng trường loại Carcano.

Thời hậu chiến Kiểu 38 được cả quân đội Hoa Kỳ và Hiệp hội súng trường quốc gia thử nghiệm lại và công nhận rằng đậy là loại súng trường có thoi lên đạn hoạt động mạnh nhất trên thế giới và nòng súng có thể sử dụng được những loại đạn rất mạnh vốn tạo ra áp lực rất lớn bên trong nòng súng.

Các nước sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Battle of the Pacific: How Japs Fight". Tạp chí Time số ngày 15 tháng 2 năm 1943. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2009.
  • Daugherty III, Leo J. Fighting Techniques of a Japanese Infantryman 1941–1945: Training, Techniques and Weapons. Staplehurst: Spellmount 2002. ISBN 1-86227-162-3.
  • Hatcher, Julian S. General. Hatcher's Notebook. (1966) The Stackpole Company, Harrisburg, PA.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]