Kiểu 38 (súng trường)
| Súng trường Kiểu 38 | |
|---|---|
| Loại | Thoi nạp đạn chuyển động |
| Nguồn gốc | |
| Lược sử hoạt động | |
| Quốc gia sử dụng | Xem Các nước sử dụng |
| Sử dụng trong | |
| Lược sử chế tạo | |
| Năm thiết kế | 1905 |
| Số lượng chế tạo | 3.400.000 |
| Các biến thể | Súng nhỏ hơn và súng trường kỵ binh |
| Thông số kỹ chiến thuật | |
| Khối lượng | 3,95 kg |
| Chiều dài | 1.280 mm |
| Cỡ nòng | 800 mm |
|
|
|
| Đạn | 6.5×50mm Arisaka |
| Cơ cấu hoạt động | Lên đạn từng viên |
| Tốc độ bắn | 765 m/s (2509 ft/s) |
| Sơ tốc | 30 vòng/phút |
| Cơ cấu nạp | 5 viên đạn |
Súng trường Kiểu 38 Arisaka (tiếng Nhật: 三八式歩兵銃; rōmaji: Sambachi-shiki hoheijū) là loại súng trường lên đạn từng viên và thoi nạp đạn có thể chuyển động (khi bắn thoi nạp sẽ đẩy ra phía sau và mở ra để đẩy vỏ đạn rỗng ra ngoài nhưng sẽ nằm đó luôn nếu muốn lên đạn phải đẩy thoi nạp đạn trở về chỗ cũ). Đây là loại súng trường tiêu chuẩn của bộ binh Nhật Bản trong thời gian dài. Nó còn được biết đến như là súng trường năm thứ 38 của triều đại Minh Trị. Bản cũ hơn là súng trường năm thứ 30 triều đại Minh Trị (Súng trường Kiểu 30) được sử dụng chung với nó cả hai điều được biết dưới cái tên Arisaka theo tên người đã phát minh chúng.
Loại súng này thiết kế sử dụng loại đạn 6,5×50mm Arisaka. Loại đạn này khi bắn tạo ra rất ít độ giật. Tuy nhiên khi mang ra so sánh với loại đạn 6,5×50mm của Na Uy và Ý thì loại đạn này không mạnh bằng các loại đạn cùng loại với nó đạng được sử dụng ở các nước khác. Loại súng trường Arisaka dài khoảng 1280 mm (50 inch) là loại súng trường dài nhất trong các cuộc chiến tranh vì việc tập luyện chiến đấu của quân Nhật Bản trong thời kỳ này là với lưỡi lê vốn dài trung bình 160 cm (5 feet, 3 inch) khiến loại súng này trông giống như một ngọn giáo. Loại súng này còn dài hơn khi lưỡi lê của súng trường Kiểu 30 chỉ dài 400 mm (15,75 inch) được cải tiến.
Hai lý do chính (cùng với những lý do khác) để quân đội Nhật Bản chuyển qua dùng súng trường Kiểu 99 là: súng trường ngắn hơn có thể sử dụng loại đạn mạnh hơn, mục tiêu chính của Nhật Bản là sản xuất một loại súng dài mà tiêu tốn ít công đoạn xử lý máy móc hơn để ngành luyện kim của Nhật Bản có thời gian làm chuyện khác.
Súng trường kỵ binh Kiểu 38 có nòng súng ngắn hơn Kiểu 38. Được sử dụng không chỉ bởi kỵ binh mà còn bởi các kỹ sư, các lực lượng quân nhu và cả các lực lượng binh lính dự bị. Nó được giới thệu cùng thời gian súng trường Kiểu 38 nó có nòng súng ngắn chỉ có 487 mm và chiều dài tổng thể là 966 mm trọng lượng 3,3 kg.
Các biến thể của súng trường kỵ binh Kiểu 38 là súng trường bộ binh cũng tên Kiểu 38 nhưng có chiều dài nòng súng ngắn hơn từ 31,25 inch đến 23,5 inch. Tất cả súng trường Kỵ binh đều có mang số kho và con dấu của xưởng pháo binh Tokyo nơi sản xuất ra loại súng nguyên mẫu.
Các mẫu biến thể khác được phát triển từ Kiểu 38 là súng trường kỵ binh Kiểu 44, súng ngắm Kiểu 97. Hải quân Hoàng gia Nhật Bản còn mua thên loại súng trường Kiểu 1 từ Ý khi chiến tranh thế giới thứ hai mới bắt đầu. Súng trường được làm bởi Ý có nòng súng sử dụng loại đạn 6.5×50mm giống như Kiểu 38. Súng trường Kiểu 1 đã được sử dụng chung với súng trường Kiểu 38 vì chúng trông khá giống nhau và chiều dài cũng gần bằng nhau, ngoại trừ việc chúng hoạt động giống với súng trường loại Carcano.
Thời hậu chiến Kiểu 38 được cả quân đội Hoa Kỳ và Hiệp hội súng trường quốc gia thử nghiệm lại và công nhận rằng đậy là loại súng trường có thoi lên đạn hoạt động mạnh nhất trên thế giới và nòng súng có thể sử dụng được những loại đạn rất mạnh vốn tạo ra áp lực rất lớn bên trong nòng súng.
Các nước sử dụng [sửa]
Ấn độ thuộc Anh: Số lượng hạn chế và được quân đội Anh cấp.
Trung Quốc: Số súng thu được từ Nhật Bản và Trung Quốc Quốc Dân Đảng sau chiến tranh được gắn nòng súng mới để sử dụng loại đạn 7.62×39mm M43 được Nga viện trợ.
Đế quốc Nhật Bản
Estonia: Sử dụng trong cuộc chiến tranh giành độc lập cho Estonian, được thay nòng mới sử dụng loại đạn .303 British từ 1930 đến 1934 với 24.000 khẩu.
Indonesia: Thu từ quân Nhật sau khi đầu hàng và sử dụng trong cuộc chiến tranh giành độc lập cho Indonesian
Nam Triều Tiên: Thu từ quân Nhật trong phong trào dành độc lập cho Triều Tiên.
Manchukuo
Liên minh các nước khu vực Mã Lai: Thu từ quân Nhật sau khi đầu hàng với số lượng hạn chế.
Bắc Triều Tiên: Thu từ quân Nhật trong phong trào dành độc lập cho Triều Tiên.
Philippines: Rất hạn chế hầu như chỉ sử dụng trong việc chống lại sự chiếm đóng của Nhật Bản.
Trung Hoa dân quốc: Số súng thu được được thử nghiệm và thay nòng để sử dụng loại đạn 7,92mm Mauser mạnh hơn.
Đế quốc Nga: Thu từ quân Nhật trong Trung chiến tranh Nga-Nhật và được Nhật Bản cho trao đổi vũ khí lấy đất trong Chiến tranh thế giới thứ nhất với 728 000 khẩu.
Xô Viết: Thu từ quân Nhật trong Chiến tranh biên giới Xô-Nhật và sử dụng trong Chiến tranh Triều Tiên
Thái Lan: Số lượng hạn chế
Liên hiệp Vương quốc Anh: Thu từ quân Nhật trong Chiến tranh thế giới thứ hai tại Malaya, Hồng Kông và Miến Điện.
Hoa Kỳ: Thu từ quân Nhật và sửa lại để thích hợp sử dụng trong quân đội Hoa Kỳ trên mặt trận Thái Bình Dương
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: Thu từ quân Nhật và sử dụng trong chiến tranh Đông Dương với số lượng hạn chế.
Tài liệu tham khảo [sửa]
- "Battle of the Pacific: How Japs Fight". Tạp chí Time số ngày 15 tháng 2 năm 1943. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2009.
- Daugherty III, Leo J. Fighting Techniques of a Japanese Infantryman 1941–1945: Training, Techniques and Weapons. Staplehurst: Spellmount 2002. ISBN 1-86227-162-3.
- Hatcher, Julian S. General. Hatcher's Notebook. (1966) The Stackpole Company, Harrisburg, PA.