Sương
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Sương, sương móc, móc, Hán-Việt: lộ thủy, là các thuật ngữ để chỉ các giọt nước nhỏ xuất hiện trên các vật mỏng vào buổi sáng sớm hay thậm chí là buổi chiều. Đây là một dạng của sự ngưng tụ. Sương được tạo ra từ hơi ẩm của khí quyển bị ngưng tụ lại sau một ngày nắng ấm và xuất hiện trong đêm trên bề mặt bị làm lạnh như những giọt nhỏ. Các bề mặt lạnh sẽ làm lạnh không khí ở gần đó, làm giảm độ ẩm mà không khí gần đó có thể giữ được. Lượng hơi nước dôi ra sẽ bị ngưng tụ. Khi nhiệt độ hạ đủ thấp, sương sẽ tạo thành trong dạng các hạt nước đá nhỏ; đây là dạng của sương muối.
Sương thông thường được cho là gắn liền với sự tinh khiết và tươi mát. Ví dụ:
- Ở Việt Nam, các cụ già thường có sở thích pha chè (trà) bằng nước thu được từ sương mai (sương buổi sáng sớm).
- Ở Mỹ có các loại đồ uống nổi tiếng như Mountain Dew và Sierra Mist, trong tên của nó đều có liên quan đến từ sương hay sương mù.
Mục lục |
[sửa] Hình thành
Sương thường xuất hiện vào những đêm quang mây, gió nhẹ, nhiệt độ và độ ẩm tương đối cao. Trong thời tiết như vậy, bức xạ hiệu dụng mạnh, nhiệt độ các cảnh vật trên mặt đất hạ thấp. Không khí tiếp xúc với chúng bị lạnh và hơi nước ngưng kết lại thành các giọt nước bám vào cảnh vật ấy.
Nước sẽ ngưng tụ thành các giọt nhỏ phụ thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm tương đối của không khí. Nhiệt độ và độ ẩm tương đối mà tại đó các giọt nước có thể hình thành được gọi là điểm sương. Khi nhiệt độ bề mặt giảm xuống, đạt tới điểm sương, hơi nước trong khí quyển ngưng tụ để tạo thành các giọt nhỏ trên bề mặt. Quá trình này phân biệt sương với các dạng khí tượng thủy văn khác, được hình thành trực tiếp trong không khí bằng cách làm lạnh nó tới điểm sương (thông thường xung quanh các nhân ngưng tụ) như sương mù hay mây. Tuy nhiên, các nguyên lý nhiệt động lực học của sự hình thành là giống như nhau.
[sửa] Sự xuất hiện
Sự làm lạnh bề mặt vừa đủ thường xảy ra khi nó mất nhiều nhiệt do bức xạ hồng ngoại hơn là năng lượng nó nhận được dưới dạng bức xạ mặt trời từ ánh sáng Mặt Trời, và điều này đặc biệt đúng trong trường hợp những đêm trời quang mây. Một điểm quan trọng khác, độ dẫn nhiệt kém hạn chế sự thay thế phần năng lượng mất đi của bề mặt từ nhiệt năng của các lớp đất sâu hơn, thường là ấm hơn vào ban đêm.
Các vật thể thích hợp cho sự hình thành sương vì thế là những vật dẫn nhiệt kém hay bị cô lập tương đối tốt khỏi mặt đất, và những bề mặt phi kim hay được che phủ như là lớp mạ ánh kim là những vật thể bức xạ tia hồng ngoại kém. Các điều kiện thời tiết thích hợp bao gồm trời quang mây và ít hơi nước trong phần cao của khí quyển để giảm thiểu các hiệu ứng nhà kính và độ ẩm thích hợp của khong khí gần mặt đất. Các đêm có sương điển hình thường được coi là các đêm yên tĩnh bởi gió sẽ đem không khí nóng từ các cao độ lớn xuống bề mặt lạnh. Nếu khí quyển là nguồn chính của hơi ẩm, thì một lượng thông gió nhất định vẫn là cần thiết để thay thế hơi nước đã ngưng tụ. Tốc độ gió tối ưu cao nhất có thể thấy trên các đảo khô cằn. Tuy nhiên, nếu đất ẩm cận kề là nguồn chính của hơi nước thì gió luôn luôn là bất lợi cho sự hình thành sương.
Các nguyên lý hình thành sương không hạn chế sự xuất hiện của nó chỉ về đêm và ngoài trời. Chúng cũng hoạt động khi các kính mắt nhận một luồng hơi nước trong phòng ấm và ẩm hay trong các quy trình công nghiệp. Tuy nhiên, thuật ngữ ngưng tụ được ưa sử dụng hơn trong những trường hợp đó.
[sửa] Ý nghĩa
Do sự phụ thuộc của nó vào cân bằng bức xạ, nên lượng sương có thể đạt tối đa lý thuyết khoảng 0,8 mm mỗi đêm, tuy nhiên, rất hiếm khi vượt quá 0,5 mm. Trong phần lớn các kiểu khí hậu trên thế giới, trung bình hàng năm là quá nhỏ để so với mưa. Trong các khu vực với mùa khô đáng kể, các dạng thực vật như địa y hay thông non thu lợi từ sương. Tuy nhiên, ở quy mô lớn, sự tưới tiêu tự nhiên mà không có mưa, như tại sa mạc Atacama và sa mạc Namib, chủ yếu là do nước từ sương mù.
Một tác động khác của sương đối với thực vật là vai trò của nó như là môi trường sống cho các mầm bệnh như nấm Phytophthora infestans, gây bệnh cho khoai tây.
Trong thần thoại Hy Lạp, Ersa là nữ thần sương.
Sương, được biết đến trong tiếng Hebrew như là טל (tal), là rất quan trọng trong tín ngưỡng Do Thái đối với các mục đích nông nghiệp và thần học. Trong ngày đầu tiên của lễ Vượt Qua, người điều khiển ban ca mặc áo lễ màu trắng, điều khiển buổi lễ trong đó ông cầu nguyện để có sương từ thời điểm đó cho tới lễ hội Sukkot. Trong mùa mưa giữa tháng 12 và lễ Vượt Qua cũng có các bổ sung trong Amidah để cầu sương đến cùng mưa. Cũng có nhiều kiến giải nói tới sương như là công cụ để phục sinh cơ bản.[1]
[sửa] Xem thêm
[sửa] Ghi chú
| Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và tài liệu về: |
- ^ Jewish Encyclopedia: Resurrection. Tra cứu 30-6-2009.