Sư đoàn 10, Quân đội Nhân dân Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Sư đoàn 10 bộ binh là một sư đoàn bộ binh thuộc Quân đoàn 3, Quân đội Nhân dân Việt Nam. Hầu hết tân binh hàng năm của sư đoàn là cư dân của 2 địa phương là Đà NẵngBình Định.[1][2]

Lược sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền thân của Sư đoàn là các Trung đoàn chủ lực của Mặt trận Tây Nguyên. Ngày 20 tháng 9 năm 1972, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định thành lập sư đoàn với sự chuẩn y của Quân ủy Trung ươngBộ Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Bộ tư lệnh và cơ quan sư đoàn được hình thành từ Bộ tư lệnh và cơ quan mặt trận cánh đông Tây Nguyên tại Đắc Tô - Tân Cảnh chuyển thành, nên Sư Đoàn 10 còn có tên là Đoàn Đắc Tô. Thành phàn bao gồm:

Ban đầu, trong đội hình sư đoàn 10 có bốn trung đoàn bộ binh: 24, 28, 66 và 95. Cuối tháng 5 năm 1973, bộ tư lệnh sư đoàn có sự thay đổi, Đỗ Đức Giá phó tham mưu trưởng Mặt trận Tây Nguyên được cử giữ chức sư đoàn trưởng thay Nguyễn Mạnh Quân; Lã Ngọc Châu được bổ nhiệm giữ chức chính ủy sư đoàn thay Đặng Vũ Hiệp.

Trong Chiến dịch Tây Nguyên, sư đoàn đã tấn công và hạ được căn cứ Đức Lập vào ngày 8 tháng 3 năm 1975, tiếp theo đó, từ 14 đến 18 tháng 3 năm 1975, Sư đoàn đã tiến công tiêu diệt lực lượng phản kích đổ bộ bằng trực thăng trên đường 21, Đông Bắc thị xã Buôn Ma Thuột, của Sư đoàn 23 và Liên đoàn biệt động quân 21 Việt Nam Cộng hòa[3], góp phần tạo nên bước ngoặt trong chiến tranh.[4]

Cơ cấu tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Biên chế tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phần của sư đoàn hiện nay gồm:

  • Sư đoàn bộ (cơ quan sư đoàn): Phòng Tham mưu, Phòng Chính trị, Phòng Hậu cần và Phòng Kỹ thuật.
  • Trung đoàn bộ binh 28, 66, 24
  • Tiểu đoàn 16 Pháo cao xạ
  • Tiểu đoàn 15 Pháo hỗn hợp
  • Tiểu đoàn 14 Pháo cối
  • Tiểu đoàn 24 Quân y
  • Tiểu đoàn 25 Vận tải
  • Tiểu đoàn 18 Thông tin
  • Tiểu đoàn 17 Công binh

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]