Sư đoàn 3, Quân đội Nhân dân Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Sư đoàn 3 còn được mang tên Sư đoàn Sao Vàng là một sư đoàn bộ binh của Quân đội Nhân dân Việt Nam, thành lập ngày 2 tháng 9 năm 1965. Sư đoàn đã tham gia trong chiến tranh chống Mỹ và chiến tranh biên giới phía Bắc với Trung Quốc.

Mục lục

Tổ chức, biên chế [sửa]

  • Trung đoàn bộ binh 2 (đoàn An Lão)
  • Trung đoàn bộ binh 12 (đoàn Tây Sơn)
  • Trung đoàn bộ binh 141 (đoàn Hoài Ân)
  • 7 Tiểu đoàn, 4 Đại đội trực thuộc

Tên gọi [sửa]

Cũng như phần lớn các đơn vị từ cấp trung đoàn trở lên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, Sư đoàn 3 được mang một danh hiệu riêng là "Sư đoàn Sao Vàng". Tên gọi này được đặt với ý nghĩa "nhắc cán bộ chiến sĩ hãy dũng cảm chiến đấu vì lá cờ vinh quang của Tổ quốc, vì một nước Việt Nam độc lập và thống nhất" [1]

Lịch sử [sửa]

Ngày 9 tháng 8 năm 1965, Thường vụ Đảng ủy Quân khu 5 họp ra nghị quyết thành lập các sư đoàn chủ lực của Quân khu. Sư đoàn 2 phụ trách chiến trường chính của quân khu từ tỉnh Quảng Ngãi ra Quảng Nam. Sư đoàn 3 lấy nam Quảng Ngãi và Bình Định làm địa bàn hoạt động chủ yếu.

Ngày 2 tháng 9 năm 1965, lễ thành lập chính thức Sư đoàn 3 được tổ chức tại khu rừng Bà Bơi, xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

Bộ Tư lệnh sư đoàn gồm

Thành phần của sư đoàn gồm:

  • Trung đoàn bộ binh 2, là trung đoàn chủ lực đầu tiên của Quân khu, thành lập tháng 5 năm 1962. Trung đoàn đã tham gia nhiều trận đánh, trong đó có chiến dịch An Lão trước khi về đứng trong đội hình Sư đoàn 3. Mật danh: Quyết Tâm.
  • Trung đoàn bộ binh 12, nguyên là Trung đoàn 18 Sư đoàn 325 có truyền thống từ kháng chiến chống Pháp. Tháng 2 năm 1965, trung đoàn lên đường vào chiến trường và đã tham gia đợt hoạt động hè 1965 của Quân khu. Mật danh: Quyết Chiến.
  • Trung đoàn bộ binh 22, được thành lập hè 1965 ở miền Bắc, khi vào chiến trường được bổ sung tiểu đoàn 8 Trung đoàn 1 của Quân khu. Mật danh: Quyết Thắng.
  • Một tiểu đoàn pháo cối mang vác (cối 82mm, cối 120mm, ĐKZ 75mm)
  • Một tiểu đoàn cao xạ 12,7
  • Một tiểu đoàn công binh
  • Một tiểu đoàn thông tin
  • Một đại đội trinh sát.

Sư đoàn 3 được xác định là sư đoàn cơ động của Quân khu 5. Trước mắt Sư đoàn nhận nhiệm vụ chiến đấu chủ yếu ở các tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắc Lắc, lấy Bình Định, Quảng Ngãi làm hậu cứ.

Từ năm 1965 đến 1970, Sư đoàn 3 liên tục phải chiến đấu với nhiều đơn vị thuộc các binh chủng khác nhau của đối phương như Sư đoàn kỵ binh số 1, Sư đoàn không vận 101, Sư đoàn bộ binh số 23, Lữ đoàn không vận 173 (Mỹ), Sư đoàn bộ binh Mãnh Hổ, Sư đoàn bộ binh Bạch Mã (Hàn Quốc), Sư đoàn 22 bộ binh (Việt Nam Cộng hoà).... Quân đội Mỹ và đồng minh đã mở nhiều cuộc hành quân càn quét nhưng không tiêu diệt được Sư đoàn.

Tháng 2 năm 1970, Quân khu 5 quyết định phân tán trung đoàn 22 để tăng cường cho các tỉnh và đơn vị khác.

Tháng 7 năm 1970, do những khó khăn về quân số, lương thực, vũ khí và trang bị, Quân khu 5 quyết định giải thể Sư đoàn 3. Bộ tư lệnh Sư đoàn chuyển thành bộ phận tiền phương quân khu, các đơn vị trực thuộc bổ sung cho trung đoàn 2 và trung đoàn 12.

Ngày 29 tháng 6 năm 1971, Quân khu 5 quyết định thành lập lại Sư đoàn 3. Thành phần gồm trung đoàn 2, 12, 21 và các tiểu đoàn pháo cối, cao xạ, công binh.

Tháng 4 năm 1972, Sư đoàn 3 là lực lượng chính của Quân khu 5 trong chiến dịch Bắc Bình Định (ngày 9 tháng 4 đến ngày 3 tháng 5 năm 1972) nhằm vào 3 huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn, Phù Mỹ, riêng trung đoàn 12 làm nhiệm vụ cắt đứt đường 19 lên Bắc Tây Nguyên.

Từ ngày 16 tháng 7 năm 1972, Sư đoàn chiến đấu bảo vệ Hoài Ân trước sự phản kích của quân đội Việt Nam Cộng hoà, kéo dài cho đến khi Hiệp định Paris kí kết ngày 28 tháng 1 năm 1973 mới kết thúc.

Cuối tháng 6 năm 1973, Quân khu 5 giải thể trung đoàn 21 và điều trung đoàn 141 (Sư đoàn 2) về đứng trong đội hình Sư đoàn 3.

Năm 1974, Sư đoàn được tăng cường trung đoàn pháo binh 68 trong biên chế.

Tháng 3 năm 1975, Sư đoàn 3 cắt đường 19 và tiến công tiêu diệt Sư đoàn 22 Việt Nam Cộng hoà ở Bình Định, chiếm thị xã Quy Nhơn.

Tháng 4 năm 1975, Sư đoàn 3 được tăng cường cho Quân đoàn 2 thành Cánh quân Duyên Hải tiến công trong hành tiến dọc theo đường số 1. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Sư đoàn tiến công đánh chiếm Vũng Tàu.

Tháng 6 năm 1976, Sư đoàn được điều ra phía Bắc trực thuộc Quân khu 3, vừa làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế vừa làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu.

Tháng 7 năm 1978, Sư đoàn được điều về Quân khu 1 làm nhiệm vụ phòng thủ trên hướng Lạng Sơn.

Từ ngày 17 tháng 2 đến ngày 5 tháng 3 năm 1979, Sư đoàn 3 chiến đấu bảo vệ Lạng Sơn và là một trong những đơn vị có hiệu suất chiến đấu cao nhất trong Chiến tranh biên giới phía Bắc với Trung Quốc, gây cho đối phương nhiều thiệt hại và cả nể trọng.

Ngày 23 tháng 2 năm 1979, Sư đoàn 3 về đứng trong đội hình Quân đoàn 14 hay còn gọi là Quân đoàn 5 (binh đoàn Chi Lăng) cho đến khi Quân đoàn này giải thể.

Một số đơn vị của Sư đoàn 3 cũng đã chiến đấu tại mặt trận biên giới Vị Xuyên, tỉnh Hà Tuyên (nay là Hà Giang) giai đoạn 1984-1989.

Thành tích [sửa]

Tháng 1 năm 1976, Sư đoàn 3 được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Nhiều đơn vị và cá nhân trong Sư đoàn cũng được tặng danh hiệu Anh hùng cũng như nhiều huân, huy chương các loại.

Chú thích [sửa]

  1. ^ Sư đoàn Sao Vàng

Tham khảo [sửa]

  • Sư đoàn Sao Vàng, NXB Quân đội nhân dân, 1980

Hiện nay tiểu đoàng công binh 15 trực thuộc FBB3 là tiểu đoàn có nhiện vụ tháo gỡ bom mìn tại các huyện biên giới của tỉnh Lạng Sơn và nhiệm vụ quốc gia tham gia thi công cụm đường hầm phòng thủ quốc gia tại xxxxxx.Đơn vị thi công này có tên là CZ3,được thành lập năm 2001.Đây là đơn vị được sự quan tâm rất lớn của các thủ trưởng quân khu và sư đoàn,nằm dưới sự điều hành trực tiếp của D15.Đơn vị đã thi công nhiều đường hầm với chất lượng cao và đảm bảo yêu cầu trong chiến đấu thực tiễn.

Liên kết ngoài [sửa]

Sư đoàn Sao Vàng