Sư đoàn 320, Quân đội Nhân dân Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Sư đoàn 320, còn gọi là sư đoàn Đồng Bằng, là một sư đoàn chủ lực thuộc Quân đoàn 3, Quân đội Nhân dân Việt Nam. Sư đoàn có các trung đoàn 64 (còn gọi là trung đoàn Quyết Thắng), trung đoàn 48 (còn gọi là trung đoàn Thăng Long) và trung đoàn 52 (còn gọi là trung đoàn Tây Tiến) cùng các đơn vị khác..

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Là một trong 6 đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân dội nhân dân Việt Nam, Sư đoàn 320 được thành lập vào đầu tháng 1 năm 1951 với mật danh là "Đại đoàn Đồng Bằng" [1]. Ngày 16 tháng năm 1951, Đại đoàn Đồng Bằng ra quân trận đầu, diệt 9 đồn địch tại Kim Bí, Tây Đằng, Phố Ná, Vật Lại, Vật Phụ, Cao Độ, Phú Hữu, Quang Húc, Cao Lĩnh, Cao Độ. Từ đó, ngày 16 tháng 1 năm 1951 trở thành ngày truyền thống của Sư đoàn 320, Quân đội Nhân dân Việt Nam Đại đoàn trưởng kiêm chính ủy đầu tiên là Thiếu tướng Văn Tiến Dũng. Phó Chính ủy Đại đoàn là đồng chí Vũ Oanh. Đại đoàn phó (từ tháng 12/1951): Nguyễn Thế Lâm. Đến ngày 7 tháng 2 năm 1951, Đại đoàn Đồng Bằng mới làm lễ ra mắt tại đình Mống Lá, xã Yên Quang huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.

Thành phần ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đại đoàn bộ (tổ chức từ 1/2 quân số của Liên khu bộ Liên khu 3)
  • Trung đoàn 48 (trung đoàn Thăng Long, nguyên là Trung đoàn 80) thành lập ngày 27 tháng 2 năm 1947 ở Ái Mỗ, Mậu Lương, Sơn Tây); gồm 3 tiểu đoàn: 136 (Đống Đa), 868 (Thanh Lũng), 884 (Tiên Yên). Trung đoàn trưởng kiêm chính ủy: Lê Ngọc Hiền (từ tháng 5/1951 sang thay đồng chí Phạm Hồng Tài hy sinh); Trung đoàn trưởng (tháng 7/1951): Lê Quân, Chính ủy: Phạm Ngọc Hồ.
  • Trung đoàn 52 (trung đoàn Tây Tiến) thành lập trong chiến dịch Sầm Nưa (cuối năm 1949); được đổi tên thành Trung đoàn Đông Biên từ tháng 6/1954; gồm 3 tiểu đoàn: 337 (Kiên Trung), 391 (Yên Ninh), 351.
  • Trung đoàn 64 (Trung đoàn Quyết Thắng) thành lập trong chiến dịch Hà - Nam - Ninh (Chiến dịch Trần Hưng Đạo) năm 1950 gồm 3 tiểu đoàn: 738 (Mạo Chử), 706 (Đồng Mít), 722 (Hưng Công). Trung đoàn trưởng kiêm chính ủy: Phạm Hồng Tài; (từ tháng 7/1951: Trung đoàn trưởng: Lê Ngọc Hiền, Chính ủy: Lê Tư, Trung đoàn phó: Hoàng Văn Khánh.
  • Tiểu đoàn 834 (Kinh Thanh) pháo binh 75 mm (từ tháng 7/1951). Tiểu đoàn trưởng: Trịnh Duy Hậu, chính trị viên: Lương Tuấn Khang.
  • Tiểu đoàn cao xạ phòng không 12,7mm (Mai Đà, từ năm 1952)
  • Chủ nhiệm quân y: Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên

Chiến tranh chống Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tháng 3-4 năm 1952, Đại đoàn chiến đấu chống các trận càn Amphibi (Xe lội nước) và Mercure (Thủy Ngân) do 5 binh đoàn cơ động (GM1, GM2, GM3, GM4, GM7), 3 tiểu đoàn dù, 2 tiểu đoàn bộ binh cơ giới, 64 trọng pháo, 6 tàu chiến, 4 cano cùng nhiều máy bay của thực dân Pháp do tướng Salend trực tiếp chỉ huy nhằm tiêu diệt chủ lực của 320 tại địa bàn Thái Bình, Hà Nam, Nam Định; diệt 2500 lính, bắt 300 lính Âu - Phi, thu hàng nghìn súng các loại.
  • Từ tháng 10 đến tháng 11 năm 1953, Đại đoàn chiến đấu chống cuộc hành quân Mouette (Hải Âu) do 12 tiểu đoàn quân viễn chinh Pháp và 8 tiểu đoàn quân ngụy thực hiện tại Rịa, Nho Quan, Ninh Bình; bẻ gãy ý đồ của H. Nava hòng lôi kéo, phân tán chủ lực của ta đang tập trung chuẩn bị chiến cục Đông - Xuân 1953 - 1954 ở hướng Tây Bắc.
  • Từ tháng 4 đến tháng 6 (04/06/1954) các Trung đoàn 48 (Trung đoàn Thăng Long), Trung đoàn 52 (Trung đoàn Tây Tiến) đã đánh tiêu diệt các cụm cứ điểm Thức Hóa (huyện Giao Thủy), đặc biệt cụm cứ điểm Đông Biên (huyện Hải Hậu) giải phóng hoàn toàn tỉnh Nam Định (http://www.haihau.vn/PrintPreview.aspx?ID=1387).
  • Ngày 10 tháng 10 năm 1954, Đại đoàn Đồng Bằng cùng các đơn vị khác của Quân đội nhân dân Việt Nam tiến vào tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Khối quân chủ lực của Đại đoàn đi vào từ cửa ô Đông Mác và ô Cầu Dền; dẫn đầu là các chiến sĩ Trung đoàn Thăng Long (trung đoàn 48, đơn vị tiền thân đầu tiên của Đại đoàn và là đơn vị chủ lực cấp trung đoàn thứ hai của Quân đội nhân dân Việt Nam).

Chiến tranh chống Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Theo Quyết định số 225/TMH của Bộ Tổng tham mưu QDDNDVN ngày 23/8/1965, sư đoàn 320 được tách làm 2 sư đoàn có phiên hiệu F320A và F320B (320A320B).

Sư đoàn trưởng sư đoàn 320A là Đại tá Nguyễn Kim Tuấn (tức Nguyễn Công Tiến, sau này là Thiếu tướng, tư lệnh Quân đoàn 3, hy sinh tại mặt trận Batdomboong - Campuchia tháng 3 năm 1979).

Sư đoàn trưởng sư đoàn 320B là Đại tá Nguyễn Sùng Lãm (sau này về hưu với quân hàm Trung tướng). Sư đoàn 320A vào Nam chiến đấu ngày 25 tháng 11 năm 1967. Sư đoàn 320B làm nhiệm vụ huấn luyện.

  • Tháng 2 năm 1971, Sư đoàn 320 cùng với Sư đoàn 2, Sư đoàn 308, Sư đoàn 304 tham gia chiến dịch phòng ngự phản công tại mặt trận Đường 9-Nam Lào. Ngày 25 tháng 2 năm 1971, Trung đoàn 64 (F320) dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Khuất Duy Tiến đã đánh chiếm căn cứ 31 (đồi 456) ở cánh bắc của mặt trận, tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn dù số 3, bắt sống toàn bộ Ban chỉ huy - tham mưu của Lữ dù 3(VNCH), trong đó có đại tá Nguyễn Văn Thọ, Lữ đoàn trưởng.
  • Năm 1972, Sư đoàn 320 A (trong đó có trung đoàn 52 và 2 trung đoàn bộ binh mới thành lập)được phối thuộc cho mặt trận Bắc Tây Nguyên, tham gia chiến dịch Bắc Tây Nguyên năm 1972. Sư đoàn 320B gồm các trung đoàn 48, 64 và một trung đoàn bộ đội địa phương của mặt trận B5 tăng cường được phối thuộc cho mặt trận Trị - Thiên, tham gia chiến dịch Trị - Thiên 1972. Các trung đoàn 48 và 64 của Sư đoàn 320 B là các đơn vị chủ lực phòng thủ Thành cổ Quảng Trị trong suốt 81 ngày đêm lịch sử (26/6/1972 đến 15/9/1972). Đặc biệt là Trung đoàn 48 với khẩu hiệu "48 còn, Quảng Trị còn". Từ tháng 8 năm 1972, các trung đoàn này bị tổn thất nặng, đã được các trung đoàn 18, 101, 95 (Sư đoàn 325)tăng cường để giữ vững Thành cổ.
  • Ngày 26 tháng 3 năm 1975, trong khi tham gia chiến dịch Tây Nguyên, sư đoàn 320A được biên chế vào Quân đoàn 3. Ngày 13 tháng 10 năm 1975, khi Bộ Tư lệnh mặt trận phát hiện ý đồ của dịch định rút chạy khỏi Tây Nguyên theo dường số 7; Sư đoàn đang đóng quân tại Thuần Mẫn được lệnh cấp tốc hành quân băng rừng bằng mọi phương tiện, kể cả hành quân bộ đến các điểm chốt trên đường số 7 đoạn Cheo Reo, Củng Sơn. Tại đây, Sư đoàn đã bố trí nhiều trận đánh phục kích, tập kích, phối hợp với sư đoàn 10 và một bộ phận sư đoàn 316 xóa sổ hoàn toàn sư đoàn 22 và sư đoàn 23 (VNCH), bắt sống đại tá Lý Tòng Bá (sư đoàn trưởng sư đoàn 23), góp phần giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên, một địa bàn sinh tử đối với Mỹ - ngụy, báo hiệu sự thất bại không thể tránh khỏi của chế độ Sài Gòn.
  • Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Sư đoàn 320B (lúc náy được đổi phiên hiệu thành F390) nằm trong đội hình của Quân đoàn 1, cùng với sư đoàn 312 và sư đoàn 338 đánh chiếm các cứ điểm Bến Cát, Thủ Dầu Một (Bình Dương), tiêu diệt các đơn vị ngụy quân còn lại của Sư đoàn 5, Sư đoàn 18, Lữ đoàn kị binh số 1 và Lữ đoàn 258 Thủy quan lục chiến; sau đó thọc sâu và nội đô Sài Gòn, đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tư lệnh Không quân và Bộ Tổng Tham mưu VNCH. Sư đoàn 320A nằm trong đội hình Quân đoàn 3 cùng với Sư đoàn 316 và sư đoàn 10 đánh chiếm Trảng Bàng, tiêu diệt Sư đoàn 5 và Sư đoàn 22 (tái lập), phát triển về Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh; phối hợp với Quân đoàn 1 đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tư lệnh quân đoàn 3 (VNCH), căn cứ ra đa thám không Phú Lâm và nhiều mục tiêu quan trọng khác.
  • Cuối năm 1978, đầu năm 1979, sư đoàn 320 nằm trong đội hình Quân đoàn 3 đã cùng các đơn vị bạn tiến hành chiến dịch phản công ở biên giới Tây Nam, thực hiện nghĩa vụ quốc tế, giải phóng nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng của tập đoàn Polpot - Yêng Xari. Xuất phát từ Tây Ninh, Sư đoàn làm chủ công ở chính diện phía Đông, giải phóng Kongpong Cham, vượt sông Mê Kông đánh chiếm phía Bắc Phnompeng, truy quét tàn quân Polpot đến Xiemriep, Battambang, Sisophon.
  • Tháng 6 năm 1979, cùng với toàn bộ Quân đoàn 3, sư đoàn 320 cơ động ra Bắc bằng đường không để phòng thủ biên giới Việt - Trung.

Các chiến dịch, trận đánh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sư đoàn 320, Quân đội Nhân dân Việt Nam trên Bách khoa toàn thư Việt Nam