Sốt xuất huyết

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sốt xuất huyết do virus
Phân loại và tư liệu bên ngoài
ICD-10 A96-A99

Sốt xuất huyết hay chính xác hơn là sốt xuất huyết do virus (tiếng Anh: viral hemorrhagic fever, viết tắt: VHF) là một nhóm các bệnh do một số họ virus sau: Arenavirus, Filoviridae, BunyaviridaeFlavivirus. Một số loài virus có thể gây bệnh nhẹ như sốt Nephropathia Scandinavia, trong khi đó một số loài khác có thể gây bệnh tương đối nặng, thậm chí có thể gây tử vong, chẳng hạn như sốt Lassa, virus Marburg, virus Ebola, sốt xuất huyết Bolivia, Hantavirus (sốt xuất huyết Triều Tiên), sốt xuất huyết Crimea-Congo, và sốt xuất huyết Dengue. Đây là bệnh sốt cao có xuất huyết, có thể quy vào các chứng ôn dịch, thời độc, thử táo dịch hoặc thấp nhiệt. Sốt xuất huyết được truyền qua muỗi, đặc biệt là muỗi vằn. dịch[1]

Ở Việt Nam, tỷ lệ người trên 15 tuổi mắc sốt xuất huyết tại các tỉnh phía Nam đã tăng từ 14% năm 1991 lên đến 30% năm 2004, và đang có xu hướng tăng lên trong mùa dịch năm nay. Theo các bác sĩ chuyên ngành, đây là điều rất đáng lo ngại vì người lớn bị sốt xuất huyết dễ tử vong hơn trẻ em.[2]

Triệu chứng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sốt cao
  • Đau đầu
  • Đau mình
  • Viêm kết mạc

Sau đó xuất hiện xuất huyết từ nhẹ đến nặng và có thể gây tử vong

-Sốt: sốt cao đột ngột, nhiệt độ 39-40oC, sốt kéo dài 2-7 ngày, sốt kèm các triệu chứng: mệt mỏi, chán ăn, đau bụng ở thượng vị hoặc hạ sườn phải, đôi khi nôn, gan to: ở trẻ em hay gặp hơn người lớn, đôi khi da xung huyết hoặc có phát ban.

- Hiện tượng xuất huyết: thường xuất hiện vào ngày thứ 2 của bệnh:

+ Các biểu hiện xuất huyết tự nhiên hoặc xuất huyết khi tiêm chích sẽ thấy bầm tím quanh nơi tiêm

+ Xuất huyết ngoài da: biểu hiện như các chấm xuất huyết, vết bầm tím, rõ nhất là xuất huyết ở mặt trước 2 cẳng chân, mặt trong 2 cẳng tay, gan bàn tay, lòng bàn chân.

+ Xuất huyết ở niêm mạc: chảy máu cam, chảy máu chân răng, xuất huyết dưới màng tiếp hợp, đi tiểu ra máu, kinh nguyệt kéo dài hoặc xuất hiện kinh nguyệt sớm hơn kỳ hạn.

+ Xuất huyết tiêu hóa: nôn ra máu, đi đại tiện ra máu. Khi có xuất huyết tiêu hóa nhiều Hội chứng thần kinh: đau người. đau cơ, đau khớp, nhức đầu, đau quanh hố mắt; trẻ em nhỏ sốt cao, đôi khi co giật, hốt hoảng; không có biểu hiện màng não

Sốc là dấu hiệu nặng, thường xuất hiện từ ngày thứ 3-6 của bệnh, đặc biệt lúc người bệnh đang sốt cao chuyển sang hết sốt và có thể xảy ra kể cả khi không thấy rõ dấu hiệu xuất huyết. Dấu hiệu của sốc gồm: Trẻ mệt li bì hoặc vật vã, Chân tay lạnh,tiểu ít, có thể kèm thao ói hoặc đi cầu ra máu.Thời gian diễn ra sốc thường ngắn từ 12 đến 24 h-> đi viện

Phân loại virus gây sốt xuất huyết[sửa | sửa mã nguồn]

Cách phân loại này là của Tổ chức Y tế Thế giới

Họ Chi Virus Bệnh Ổ lây bệnh
Flaviviridae Flavivirus Amaril
Dengue 1,2,3,4
Sốt vàng da
Dengue
WestNile, Japanes Encerphalistic(VNNB)
Bunyaviridae Phlebovirus
Nairovirus
Hantavirus
Rift
Crimea-Congo
Hantaan
Seoul
Puumala
Sin Nombre
Sốt thung lũng Rift
Sốt xuất huyết Crimea-Congo
Sốt xuất huyết triệu chứng thận
Sốt xuất huyết triệu chứng thận
Sốt xuất huyết triệu chứng thận
Triệu chứng viêm phổi do Hantavirus
Apodemus
Rattus rattus
Clethrionomys
Peromyscus
Arenaviridae Arenavirus Lassa
Junin
Machupo
Guanarito
Sabia
Sốt xuất huyết Lassa
Sốt xuất huyết Arhentina
Sốt xuất huyết Bolivia
Sốt xuất huyết Venezuela
Sốt xuất huyết Brasil
Mastomys
Calomys
Calomys
Sigmodon alstoniZygodontomys brevicauda
Filoviridae Filovirus Ebola Z,S,R,CI
Marburg
Virus Ebola
Virus Marburg

Cách phòng chống[sửa | sửa mã nguồn]

Cần diệt ấu trùng muỗi (lăng quăng) hoặc không tạo điều kiện để muỗi đẻ trứng như thả cá vàng hoặc các loại cá ăn lăng quăng vào trong lu, giếng, chum, vại,...; đổ các nước trong các vật đựng nước không cần thiết; tránh để đồ đạc lộn xộn hoặc để nhiều đồ vào chỗ tối tạo khe hở cho muỗi sinh sản; đặt bát nước muối ở các khe trong nhà; sử dụng nhang muỗi, thuốc xịt.

Điều trị[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay vaccin chống bệnh Dengua và sốt xuất huyết có hội chứng thận đang ở giai đoạn nghiên cứu.

Chẩn đoán dựa trên lâm sàng và xét nghiệm. Điều trị thường là làm giảm các triệu chứng (giảm đau và hạ sốt). Đa số các ca thường nhẹ và khỏi bệnh trong vòng vài ngày. Trường hợp nặng cần nhập viện và săn sóc tích cực các biến chứng huyết áp thấp và chảy máu.

Hiện chưa có thuốc đặc trị, bệnh nhân cần được điều trị theo triệu chứng, việc tiêu diệt vectơ truyền bệnh có vai trò quan trọng, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa ra những bản hướng dẫn điều trị và dự phòng bệnh Dengue và sốt vàng, và tại một số nước có bản hướng dẫn của quốc gia như Achentina, Bolivia, Congo,...

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]