Sữa ong chúa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sự phát triển của ấu trùng bên trong sữa ong chúa

Sữa ong chúa là sản phẩm được tiết ra từ hàm của con ong thợ[1] 7 ngày tuổi trở đi để nuôi ong chúa và ấu trùng ong chúa.[2] Ở nhiệt độ thường sữa ong chúa là chất đặc biệt như bơ, màu hơi ngà vàng. Thành phần hoá học của nó rất phức tạp, nó phụ thuộc vào đàn ong, nguồn hoa...

Ảnh hưởng đến sức khỏe con người[sửa | sửa mã nguồn]

Nhưng điều đáng chú ý là sữa ong chúa chứa hormon và các chất đặc biệt có tác dụng củng cố và tăng cường sức khoẻ con người. Nó là thuốc rất bổ đặc biệt đối với người già, suy nhược, thiếu máu... Có nghiên cứu cho thấy trẻ em ăn nhiều sữa ong chúa sẽ dậy thì sớm hơn so với trẻ em cùng lứa.

Sữa ong chúa chứa một tỷ lệ đáng kể của protein, axit amin, lipid, vitaminđường, và cũng có nhiều giá trị dinh dưỡng và dược lý.

Trong thực tế, các nghiên cứu khoa học đã chứng minh số lợi ích của sữa ong chúa với sức khỏe con người. Tuy nhiên, một số thí nghiệm trong phòng và trên cơ thể người cho thấy:[3][4]:

  • Chất hoạt động làm giãn mạch và làm hạ huyết áp;
  • Chất chống ung thư.

Những lợi ích của sữa ong chúa với phụ nữ sau mãn kinh cũng được một một nghiên cứu lâm sàng Nhật Bản đề cập[5], vì liên quan đến việc sản xuất estrogen[6]. Tuy nhiên, kiến thức về tác động của loại thuốc trong dài hạn khi sử dụng sữa ong chúa lâu dài với phụ nữ sau mãn kinh, cũng như con người nói chung, vẫn chưa biết được đầy đủ [7].

Về những tác động tiêu cực có thể có sức khỏe con người, chỉ có một trường hợp viêm đường ruột liên quan đến tiêu chảy đã được báo cáo tại Nhật Bản vào năm 1997 sau khi dùng sữa ong chúa hàng ngày với liều lượng 10 ml trong vòng 25 ngày trên một người phụ nữ cao tuổi[8]. Trường hợp này, liên quan đến tiêu thụ quá mức của sữa ong chúa, và không hấp thụ được hết.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Graham, J. (ed.) (1992) The Hive and the Honey Bee (Revised Edition). Dadant & Sons.
  2. ^ Jung-Hoffmann L: Die Determination von Königin und Arbeiterin der Honigbiene. Z Bienenforsch 1966, 8:296-322.
  3. ^ Fujii, A. 1995. Pharmacological effect of royal jelly. Honeybee Science 16, 97–104.
  4. ^ Mateescu, C. et Barbulescu, D. 1999. Enhanced nutritive, functional and therapeutic action of combined bee products in complex food supplements. Roumanian Biotechnology Letter 4, 163–172.
  5. ^ Kushima et al. 1973. Effects of royal jelly on autonomic imbalance in menopausal women. The World of Obstetrics and Gynecology 25, 439–443.
  6. ^ Satoshi, M. et al.2005. Royal jelly has estrogenic effects in vitro and in vivo. Journal of Ethnopharmacology 101, 215–220.
  7. ^ “Gelée royale de passeportsante.fr”. 
  8. ^ Yonei Y. et al.. 1997. Colitis in a human consuming royal jelly. Journal of Gastroenterology and Hepatology 12, 495.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]