S-125 Neva/Pechora

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
S-125 Neva/Pechora
tên ký hiệu NATO: SA-3 Goa
S-125 Neva VS 1.jpg
Bệ phóng S-125 Pechora-2TM (phiên bản hiện đại hóa) cùng dàn ra đa của nó
Loại Hệ thống tên lửa đất đối không chiến lược
Nguồn gốc  Liên Xô
Lược sử hoạt động
Trang bị 1963[1] đến nay
Quốc gia sử dụng Xem bên dưới
Sử dụng trong Chiến tranh 6 ngày, Chiến tranh Kosovo, Chiến tranh Vùng Vịnh, Nội chiến Angola
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Phòng thiết kế trung ương Almaz
Năm thiết kế thập niên 1960
Nhà sản xuất JSC Defense Systems (Pechora-M)
Giai đoạn sản xuất 1963 đến nay
Các biến thể Neva, Pechora, Volna, Neva-M, Neva-M1, Volna-M, Volna-N, Volna-P, Pechora-2, Pechora-2M, Newa SC, Pechora-M, Pechora-2K, Pechora-2A

Isayev S-125 Neva/Pechora (hay SAM-3, tiếng Nga: С-125 "Нева"/"Печора", tên ký hiệu NATO SA-3 Goa)là hệ thống tên lửa đất đối không của Liên Xô, được thiết kế bởi Isayve OKB nhằm bổ sung cho tên lửa S-25S-75. Tên lửa S-125 gồm 2 phần: phần thân dưới là động cơ đẩy phụ-nhiên liệu rắn, thời gian hoạt động 2,6 giây, gắn 4 cánh vây hình chữ nhật có thể xoay 90 độ; phần trên đường kính nhỏ hơn là động cơ đẩy chính-nhiên liệu rắn, thời gian hoạt động 18,7 giây và đầu đạn, được gắn 4 vây đuôi cố định và 4 vây chuyển động được nhỏ hơn ở đầu. Tên lửa được điều khiển bằng sóng radio qua antenna ở cánh vây sau phần trên (có thể tên lửa loại này được trang bị công nghệ tự tìm mục tiêu bằng hồng ngoại ở cuối hành trình IR terminal homing)[2]. Tên lửa 5V24 (V600) có thể đạt đến Mach 3-3,5. Nó có tầm bắn hiệu quả ngắn hơn và độ cao tối đa thấp hơn so với các loại tên lửa thế hệ trước, đồng thời cũng bay chậm hơn. Tuy nhiên nhờ thiết kế hai giai đoạn bay nên nó có hiệu quả hơn khi chống lại các mục tiêu di động. Nó cũng có khả năng tấn công các mục tiêu bay thấp hơn. Đặc biệt nó còn có khả năng chống lại hệ thống đánh lạc hướng điện tử tốt hơn so với thế hệ S-75. Phiên bản dùng cho hải quân của hệ thống này có tên trong báo cáo của NATO là SA-N-1 Goa và tên thiết kế ban đầu là M-1 Volna (tiếng Nga: Волна nghĩa là sóng)

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Liên Xô[sửa | sửa mã nguồn]

S-125 được triển khai lần đầu vào khoảng thời gian 1961-1964 xung quanh Moskva, nhằm bổ sung vào hệ thống phòng không S-25S-75 đã bố trí xung quanh thành phố, cũng như trên lãnh thổ Liên Xô. Năm 1964, một phiên bản nâng cấp của hệ thống có tên là S-125M "Neva-M" và sau này là S-125M1 "Neva-M1" đã được chế tạo. Phiên bản nguyên gốc được định danh là SA-3A theo quy ước của Mỹ và Neva-M có tên là SA-3B và (phiên bản hải quân) SA-N-1B. Neva-M được trang bị lại tầng đẩy đã được thiết kế lại và một hệ thống điều khiển cải tiến. SA-3 không được sử dụng ở miền Bắc Việt Nam, do Liên Xô sợ rằng Trung Quốc (sau mối bất hòa trong mối quan hệ Xô-Trung trong thập niên 1960) sẽ sao chép lại các công nghệ của mình.

Angola[sửa | sửa mã nguồn]

Không quân Quốc gia Angola (FAPA-DAA) được trang bị một số lượng các đơn vị SA-3, các đơn vị đã được sử dụng để bao vệ các mục tiêu của Angola trước các máy bay Mirage F.1 của SAAF vào tháng 6 năm 1980. 2 chiếc đã bị hư hại bởi các hệ thống SAM trong khi thực hiện phi vụ, Angola tuyên bố đã bắn hạ 4 chiếc của SAAF.[3]

Vào 7-6-1980, khi tấn công Trại huấn luyện Tobias Haneko của SWAPO trong Chiến dịch Sceptic (Smokeshell), thiếu tá Frans Pretorius và đại úy IC du Plessis của SAAF lái 2 chiếc Mirage F.1 đã trúng đạn tên lửa SA-3. Máy bay của du Plessis bị bắn trúng và phải hạ cánh khẩn cấp tại căn cứ không quân Ondangwa. Máy bay của Pretorius bị hưu hại nặng và hạ cánh khẩn cấp iwr Ruacana. Cả hai chiếc đều phải sửa chữa và trở lại trong biên chế sau đó.[4]

Syria[sửa | sửa mã nguồn]

Syria triển khai các đơn vị SA-3 lần đầu trong Chiến tranh Yom Kippur năm 1973 và trong xung đột Li-băng vào giữa năm 1982 chống lại Không quân Israel, nhưng quân đội Iseael đã thực hiện Chiến dịch Mole Cricket 19 nhằm thủ tiêu các mối đe dọa từ các hệ thống SAM của Syria ở thung lũng Beqaa, trong chiến dịch này Israel đã tiêu diệt các hệ thống SA-2, SA-3 và SA-6 trong một ngày.

Iraq[sửa | sửa mã nguồn]

Một chiếc F-16 của không quân Mỹ (số đuôi 87-257) đã bị bắn hạ vào ngày 19-1-1991 trong Chiến dịch Bão táp Sa mạc. Máy bay đã bị hạ bởi một đạn tên lửa của hệ thống SA-3 ở phía nam Baghdad. Phi công là thiếu tá Jeffrey Scott Tice đã nhảy dù an toàn và bị bắt làm tù binh.[5]

Hai ngày trước đó, một chiếc B-52G đã bị hư hại bởi một tên lủa SAm có thể là SA-3 hoặc SA-6.

Nam Tư[sửa | sửa mã nguồn]

Trung đoàn tên lửa phòng không 250 của quân đội Nam Tư trang bị hệ thống S-125 đã bắn hạ một chiếc máy bay tàng hình F-117 Nighthawk vào ngày 27-3-1999 trong Chiến tranh Kosovo. S-125 đã được cải tiến theo lệnh của đại tá Zoltán Dani nhằm phát hiện máy bay tàng hình.[6][7] Nó cũng bắn hạ một chiếc F-16 của NATO vào ngày 2-5 (phi công là trung tá David Goldfein, chỉ huy của phi đội tiêm kích 555, Goldfein đã nhảy dù và được giải cứu bởi một nhiệm vụ tiêm kiếm và cứu nạn trong chiến đấu - CSAR).[8][9]

Trong chiến tranh, SA-3 và các hệ thống SAM khác đã bắn hạ nhiều máy bay không người lái của NATO và Mỹ.

Miêu tả[sửa | sửa mã nguồn]

S-125 thường được phóng đi từ bệ phóng cố định, nhưng cũng có thể phóng đi từ xe tải ZIL.

Tên lửa[sửa | sửa mã nguồn]

V-600
SA-3 system.jpg
Đạn tên lửa V-600 trên bệ phóng của hệ thống S-125.
Loại Tên lửa đất đối không
Nguồn gốc  Soviet Union
Lược sử chế tạo
Các biến thể V-600, V-601
Thông số kỹ chiến thuật (V-601[10])
Khối lượng 953 kg

Đầu nổ HE nổ mảnh
Trọng lượng đầu nổ 60 kg
Cơ cấu nổ Command

Động cơ phản lực nhiên liệu lỏng
Tầm hoạt động 35 kilômét (22 mi)
Độ cao bay 18.000 mét (59.000 ft)
Hệ thống điều khiển RF CLOS

Hệ thống S-125 sử dụng 2 phiên bản đạn tên lửa khác nhau. V-600 (hay 5V24) có đầu nổ nhỏ chỉ có trọng lượng 60 kg, có tầm bắn khoảng 15 km.

Phiên bản sau có tên gọi V-601 (hay 5V27). Nó có chiều dài 6,09 m, sải cảnh 2,2 m và đường kính 0,375 m. Trọng lượng tên lửa khi phóng là 953 kg, đầu nổ nặng 70 kg gồm 33 kg thuốc nổ mạnh và 4.500 mảnh nhỏ. Tầm bắn từ 3,5 đến 35 km (với Pechora 2A). Độ cao hoạt động của tên lửa từ 100 m đến 18 km.[10]

Radar[sửa | sửa mã nguồn]

Các bệ phóng được điều khiển bởi đài chỉ huy và ba hệ thống radar chính:

  • P-15 "Flat Face"/P-15M(2) "Squat Eye" - radar cảnh giới và bắt mục tiêu/phiên bản cải tiến chống mục tiêu bay thấp băng C, công suất 380 kW (cũng sử dụng cho SA-6SA-8, tầm hoạt động 250 km/155 dặm)
  • SNR-125 "Low Blow" - radar bám mục tiêu, điều khiển tên lửa băng I/D, công suất 250 kW
  • PRV-11 "Side Net" - đài radar đo cao băng E (cũng sử dụng cho SA-2, SA-4SA-5, tầm hoạt động 28 km/17 dặm, độ cao đo được lên tới 32 km/105,000 ft)

"Flat Face"/"Squat Eye" được đặt trên xe tải van ("Squat Eye" được đặt cao nhằm bắt các mục tiêu bay thấp tốt hơn), "Low Blow" đặt trên một xe móc và "Side Net" đặt trên một xe móc thân hộp.

Các biến thể và gói nâng cấp[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên bản hải quân[sửa | sửa mã nguồn]

Bệ phóng ZIF-101 của hệ thống Volna trên tàu khu trục Strogiy.

Phiên bản hải quân M-1 Volna (SA-N-1) được phát triển năm 1956, cùng với phiên bản lục quân. Nó được đặt lần đầu tiên trên tàu khu trục lớp Kotlin (Project 56K) Bravyi và thử nghiệm năm 1962. Vào cùng năm 1962, hệ thống được chấp nhận trang bị. Đạn tên lửa cơ bản là V-600 (hay 4K90) (tầm bắn: 4–15 km, độ cao: 0.1 đến 10 km). Việc điều khiển và dẫn đường cho tên lửa được thực hiện nhờ radar 4R90 Yatagan, với 5 anten parabol. Hệ thống chỉ có thể điều khiển tên lửa hướng đến một mục tiêu (hoặc hai nếu tàu trang bị hai hệ thống Volna). Trong trường hợp khẩn cấp, Volna cũng có thể được sử dụng để tấn công các mục tiêu mặt nước.

Kiểu bệ phóng đầu tiên có hai tên lửa là ZIF-101, với kho đạn 16 tên lửa. Năm 1963 một bệ phóng hai tên lửa cải tiến được chế tạo mang tên ZIF-102, với khi đạn 32 tên lửa được trang bị cho các lớp tàu chiến mới. Năm 1967, hệ thống Volna được nâng cấp lên chuẩn Volna-M (SA-N-1B) với đạn tên lửa V-601 (4K91) (tầm bắn: 4–22 km, độ cao: 0.1–14 km).

Trong giai đoạn 1974-1976 một số hệ thống đã được hiện đại hóa lên tiêu chuẩn Volna-P, hệ thống nâng cấp có thêm một kênh bám mục tiêu truyền hình và khả năng chống nhiễu tốt hơn. Sau đó đạn tên lửa cải tiến V-601M cũng được trang bị (hệ thống Volna-N).

Một số tàu khu trục của Ấn Độ cũng được trang bị hệ thống M-1 Volna.

Các gói nâng cấp[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù Nga thay thế hầu hết các hệ thống S-125 của mình bằng các Hệ thống tên lửa Buk, họ quyết định nâng cấp hệ thống S-125 nhằm thu hút các khách hàng không có đủ khả năng tài chính để thay thế S-125 bằng các hệ thống mới. Các gói nâng cấp giúp cho Pechora-2 có nhiều tính năng tốt hơn, có thể đồng thời điều khiển nhiều tên lửa hướng đến nhiều mục tiêu cùng lúc và xác suất tiêu diệt mục tiêu cao hơn. Bệ phóng được gắn lên xe tải cho phép thời gian triển khai nhanh hơn. Hệ thống Pechora-2M cũng có thể tiêu diệt các tên lửa hành trình với đầu đạn thay thế bằng thiết bị đo từ xa.

Năm 1999, một tổ hợp tài chính-công nghiệp giữa Nga và Belarus có tên gọi là Oboronitelnye Sistemy đã giành được hợp đồng đại tu các hệ thống S-125 của Ai Cập. Các hệ thống S-125 cũ sẽ được nâng cấp để lên tiêu chuẩn Pechora 2M.[1]

Năm 2001, Ba Lan bắt đầu đưa ra gói nâng cấp hệ thống S-125 gọi là Newa SC. Gói nâng cấp này thay thế các thành phần là mạch analog bằng mạch digital nhằm nâng cao độ tin cậy và chính xác. Ngoài ra còn bao gồm việc đặt bệ phóng lên khung gầm của xe tăng T-55 (trở thành xe bệ tự hành), nâng cao khả năng cơ động và thêm khả năng phân biệt bạn thù và liên kết dữ liệu. Radar được đặt trên một khung gầm xe tải hạng nặng 8 bánh (trước đó sử dụng cho bệ phóng của Scud). Serbia sửa đổi bao gồm các thiết bị đầu cuối/camera cho đài radar.

Sau đo vài năm, phiên bản của Nga đã được nâng cấp một lần nữa thành Pechora-M, các khía cạnh của hệ thống đã được nâng cấp hầu hết - động cơ tên lửa, radar, hệ thống điều khiển, đầu đạn, ngòi nổ và các thiết bị điện tử khác. Ngoài ra còn thêm khả năng bám mục tiêu bằng laser/hồng ngoài cho phép phóng tên lửa mà không cần sử dụng đến radar.

Năm 2008, công ty Tetraedr của Belarus cũng đưa ra một phiên bản Pechora-2TM với mục tiêu tăng khả năng bám bắt mục tiêu, giảm thời gian triển khai khí tài, đặc biệt là khả năng chống nhiễu phức tạp theo yêu cầu nhiệm vụ tác chiến phòng không hiện đại:

  • Hệ thống cho phép tiêu diệt các mục tiêu ở độ cao thấp, các mục tiêu có diện tích phản xạ sóng radar (RCS) nhỏ.
  • Chương trình nâng cấp tập trung chủ yếu vào cải tiến hệ thống radar điều khiển hỏa lực SNR-125. Đài điều khiển SNR-125-2TM có phạm vi bắt mục tiêu diện tích phản xạ sóng radar (RCS) 2m2 ở cự ly 100 km (trước nâng cấp chỉ là 80 km). Thời gian để khóa một mục tiêu nguy hiểm trong nhóm mục tiêu phát hiện được chỉ mất 3 giây. Radar có khả năng theo dõi đồng thời 2 mục tiêu cùng lúc, dẫn đường tiêu diệt cả 2 mục tiêu bằng 2 tên lửa hoặc một mục tiêu bằng 2 tên lửa (trước khi nâng cấp chỉ có thể bắn 1 mục tiêu)
  • Tăng cường khả năng dễ dàng thao tác bằng việc thay thế các thiết bị, màn hình analog, các nút bấm cơ khí bằng các thiết bị kỹ thuật số.
  • Đài SNR-125-2TM được bổ sung thêm tổ hợp ngắm quang – điện tử cho phép phát hiện mục tiêu cỡ máy bay tiêm kích ở cự ly 40 km để sử dụng trong trường hợp radar bị tắt hoặc bị nhiễu.
  • Đạn 5V27 nâng cấp cho phép diệt mục tiêu ở tầm bắn xa đến 35 km (chưa nâng cấp là 27 km), tầm cao đạt 25 km (chưa nâng cấp là 18 km), có thể đánh chặn mục tiêu di chuyển tốc độ 900 m/s. Độ cao đối với các mục tiêu bay thấp hạ xuống từ 60 m xuống 20m. Khả năng bắn hạ mục tiêu trên không được tăng cường bằng việc gia tăng khối lượng thuốc nổ lên 1,6 lần và số mảnh vỡ lên 3,7 lần. Theo nhà sản xuất, xác suất tiêu diệt mục tiêu máy bay chiến thuật từ 85-96%, tên lửa hành trình đạt từ 30-80%, trực thăng đạt 40-85%.
  • Tăng cường khả năng kháng nhiễu của hệ thống khỏi các dải nhiễu tích cực và thụ động. Khả năng kháng nhiễu chặn tích cực của hệ thống S-125-2TM là 2.700 W/MHz, cao hơn rất nhiều so với 24 W/MHz của S-125.
  • Thay mới các thiết bị chính trên cơ sở công nghệ mới. Sự thay thế bao gồm: cabin – 100%; trạm ăng ten – 80%; thiết bị phóng – 80%
  • Thời gian triển khai đội hình chiến đấu chỉ mất khoảng 20-30 phút (trước khi nâng cấp là 90 phút).

Tháng 12/2008, Tetraedr đã tìm được khách hàng đầu tiên là nước Cộng hòa Azerbaijan với hợp đồng nâng cấp 27 tổ hợp tên lửa phòng không S-125M “Neva-M” theo chuẩn S-125-2TM “Pechora-2TM” qua 2 giai đoạn: giai đoạn 1 do các chuyên gia Tetraedr trực tiếp nâng cấp 5 tổ hợp S-125M kết thúc vào tháng 4/2009, giai đoạn 2 do kỹ thuật viên Azerbaijan tham gia nâng cấp dưới sự hướng dẫn, giám sát và chuyển giao công nghệ từng bước của chuyên gia Tetraedr cho các tổ hợp còn lại.

Việt Nam là khách hàng thứ hai ký với Tetraedr hợp đồng chuyển giao gói nâng cấp khoảng trên 30 tổ hợp tên lửa phòng không S-125M “Pechora-M” lên chuẩn S-125-2TM Pechora-2TM. Dự kiến S-125-2TM Pechora-2TM sẽ được trang bị cho ít nhất 10 trung đoàn tên lửa phòng không (hiện có 8 trung đoàn đang sử dụng Pechora-2M gồm 213, 250, 257, 274, 276, 282, 284, 285). Đầu tháng 10/2010, các xe khí tài và linh kiện nâng cấp tổ hợp S-125M “Pechora-M” giai đoạn 1 của hợp đồng này đã được máy bay vận tải chuyển tới sân bay Nội Bài. Tiểu đoàn 152 thuộc Trung đoàn tên lửa 250 là đơn vị đầu tiên của Quân chủng tiếp nhận bộ khí tài mới được nâng cấp.

Quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Các quốc gia hiện đang sử dụng S-125

Không còn sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Các hình ảnh về radar[sửa | sửa mã nguồn]


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “SA-3-Goa”. Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2008. 
  2. ^ http://www.fas.org/nuke/guide/russia/airdef/s-125.htm
  3. ^ http://s188567700.online.de/CMS/index.php?option=com_content&task=view&id=131&Itemid=47
  4. ^ Lord, Dick (2000). Vlamgat: The Story of the Mirage F1 in the South African Air Force. Covos-Day. ISBN 0620241160.  Đã bỏ qua tham số không rõ |auuthorlink= (trợ giúp)
  5. ^ “Airframe Details for F”. Truy cập 9 tháng 2 năm 2015. 
  6. ^ “Serb discusses 1999 downing of stealth”. USA Today. 26 tháng 10 năm 2005. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2008. 
  7. ^ “Kako je oficir postao uspešan pekar”. Glas Javnosti. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2008. 
  8. ^ Roberts, Chris. "Holloman commander recalls being shot down in Serbia". F-16.net, ngày 7 tháng 2 năm 2007. Truy cập: 16 tháng 5 năm 2008.
  9. ^ Anon. "F-16 Aircraft Database: F-16 Airframe Details for 88-0550". F-16.net. Truy cập: 16 tháng 5 năm 2008.
  10. ^ a ă “S-125/Pechora (SA-3 'Goa')”. Jane's. 13 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2008. 
  11. ^ a ă â b c d “Sistema antiaéreo Pechora-2M: Un arma eficaz como el Kalashnikov. Vedomosti” [Anti-Air Pechora-2M system: An weapon as effective as the Kalashnikov. Vedomosti] (bằng tiếng Tây Ban Nha). RIA. 26 tháng 12 năm 2008. Truy cập 19 tháng 7 năm 2009. 
  12. ^ http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Them-hinh-anh-S300-Viet-Nam-dien-tap/201112/181706.datviet
  13. ^ http://cambodia.usembassy.gov/missile_destruction.html
  14. ^ “IMINT & Analysis: Hungarian Strategic Air Defense: A Cold War Case Study”. Truy cập 9 tháng 2 năm 2015. 
  15. ^ http://www.country-data.com/cgi-bin/query/r-12053.html

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]