SMS Scharnhorst

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
SMS Scharnhorst
Tàu tuần dương bọc thép Scharnhorst
Phục vụ (Đức) War Ensign of Germany 1903-1918.svg
Tên gọi: Scharnhorst
Đặt tên theo: Gerhard von Scharnhorst[1]
Đặt hàng: 1904
Đặt lườn: tháng 1 năm 1905
Hạ thủy: 22 tháng 3 năm 1906
Nhập biên chế: 24 tháng 10 năm 1907
Số phận: Bị đánh chìm trong Trận chiến quần đảo Falkland, 8 tháng 12 năm 1914
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu tuần dương bọc thép Scharnhorst
Trọng tải choán nước: 12.985 t (12.780 tấn Anh)
Độ dài: 474,7 ft (144,7 m)
Sườn ngang: 71 ft (22 m)
Mớn nước: 27,5 ft (8,4 m)
Động cơ đẩy: 3 × động cơ hơi nước ba buồng bành trướng đặt dọc 3 xy-lanh;
18 × nồi hơi Schulz Thornycroft;
3 × trục;
công suất 27.759 ihp (20.700 kW)
Tốc độ: 22,7 hải lý một giờ (42 km/h)
Tầm xa: 5.000 nmi (9.300 km; 5.800 mi) ở tốc độ 10 kn (19 km/h; 12 mph);
2.200 nmi (4.100 km; 2.500 mi) ở tốc độ 20 kn (37 km/h; 23 mph)[2]
Tầm hoạt động: 2.000 t (2.000 tấn Anh; 2.200 short ton) than
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
38 sĩ quan; 726 thủy thủ
Vũ trang: 8 × pháo 8,2 in (21 cm) (2×2,4×1);
6 × pháo 5,9 in (15 cm) (6×1);
18 × pháo 3,45 in (8,8 cm) (18×1);
4 × ống phóng ngư lôi 17,7 in (45 cm)
Bọc giáp: đai giáp chính: 6 in (15 cm);
sàn tàu: 1,5–2,5 in (3,8–6,4 cm)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ];
tháp pháo: 7 in (18 cm)

SMS Scharnhorst[Ghi chú 1] là một tàu tuần dương bọc thép của Hải quân Đế quốc Đức, được chế tạo tại xưởng tàu của hãng Blohm & VossHamburg, Đức. Scharnhorst là chiếc dẫn đầu cho lớp của nó, vốn còn bao gồm con tàu chị em Gneisenau, là một phiên bản mở rộng của lớp Roon dẫn trước, với trọng lượng choán nước lên đến 12.985 t (12.780 tấn Anh; 14.314 short ton); chúng được trang bị dàn hỏa lực chính mạnh hơn và có tốc độ tối đa nhanh hơn. Con tàu được đặt tên theo vị tướng người Phổ Gerhard von Scharnhorst và được đưa ra hoạt động vào ngày 24 tháng 10 năm 1907.

Sau khi đi vào hoạt động, Scharnhorst được phân về Hải đội Đông Á Đức Quốc đặt căn cứ tại Thanh Đảo, Trung Quốc, được tiếp nối bởi Gneisenau vào năm 1911. Chúng trở thành hạt nhân của lực lượng được đặt dưới quyền chỉ huy của Phó đô đốc Maximilian von Spee. Sau khi Chiến tranh Thế giới thứ nhất nổ ra vào tháng 8 năm 1914, được tháp tùng bởi ba tàu tuần dương hạng nhẹ và nhiều tàu tiếp than, cả hai đã băng ngang Thái Bình Dương trong quá trình lẩn tránh nhiều lực lượng hải quân Đồng Minh được gửi đi truy lùng và tiêu diệt chúng, trước khi đi đến bờ biển Nam Mỹ. Vào ngày 1 tháng 11 năm 1914, Scharnhorst cùng phần còn lại của hải đội đã đối đầu và áp đảo một hải đội Anh trong trận Coronel. Thất bại đau đớn này đã buộc Bộ Hải quân Anh phải phái hai tàu chiến-tuần dương đi truy tìm và tiêu diệt hải đội của von Spee, kết thúc bởi trận chiến quần đảo Falkland vào ngày 8 tháng 12 năm 1914, nơi toàn bộ hải đội Đức, kể cả Scharnhorst, bị đánh chìm.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Scharnhorst được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Blohm & VossHamburg, Đức vào năm 1905 dưới số hiệu chế tạo 175. Nó được hạ thủy vào ngày 23 tháng 3 năm 1906 và được đưa ra hoạt động một năm rưỡi sau đó, vào ngày 24 tháng 10 năm 1907. Con tàu đã làm tiêu tốn của Chính phủ Đức 20.319.000 Mác,[3] và được thiết kế để phục vụ cùng Hạm đội Biển khơi Đức,[4] tuy nhiên nó tỏ ra quá yếu kém để có thể phục vụ cùng hạm đội chiến trận; thay vào đó nó được bố trí hoạt động ở nước ngoài, một vai trò mà nó đảm nhiệm rất tốt.[5]

Các khẩu pháo trên chiếc SMS Scharnhorst

Scharnhorst có chiều dài chung 144,6 mét (474 ft), mạn thuyền rộng 21,6 m (71 ft) và tầm nước 8,37 m (27 ft 6 in). Con tàu có trọng lượng choán nước tiêu chuẩn 11.616 tấn (11.433 tấn Anh; 12.804 short ton)[Chuyển đổi: Tùy chọn không hợp lệ], và lên đến 12.985 t (12.780 tấn Anh; 14.314 short ton) khi đầy tải. Thủy thủ đoàn đầy đủ của nó bao gồm 52 sĩ quan và 788 thủy thủ, trong đó bao gồm 14 sĩ quan và 62 thủy thủ được tăng cường cho thành phần ban tham mưu của tư lệnh hải đội, cộng thêm vào số thủy thủ đoàn căn bản.[3]

Dàn vũ khí chính của Scharnhorst bao gồm tám khẩu pháo 21 cm (8,3 in) SK L/40 bắn nhanh[Ghi chú 2] gồm bốn khẩu trên hai tháp pháo nòng đôi bố trí phía trước và phía sau cấu trúc thượng tầng, số còn lại đặt trên những tháp pháo nòng đơn hai bên mạn tàu. Dàn pháo hạng hai bao gồm sáu khẩu 15 cm (5,9 in) SK L/40 bắn nhanh bố trí trong các tháp pháo ụ kiểu MPL C/06;[Ghi chú 3][6] và mười tám khẩu pháo 8,8 cm (3,46 in) SK L/45 bắn nhanh bố trí trong tháp pháo ụ. Nó còn được trang bị bốn ống phóng ngư lôi ngầm 44 cm (17 in), gồm một trước mũi, một phía đuôi và một mỗi bên mạn giữa tàu, tất cả đều được đặt trên mặt nước.[3]

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Trước chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1909, Scharnhorst được phân về Hải đội Đông Á Đức Quốc (Ostasiengeschwader), được con tàu chị em Gneisenau tiếp nối vào năm 1910; cả hai hình thành nên hạt nhân của hải đội, với Scharnhorst đảm nhiệm vai trò soái hạm cho tư lệnh hải đội, Phó đô đốc Maximilian von Spee.[3] Chúng là những con tàu xuất sắc về tác xạ: Gneisenau đã hai lần thắng giải Cúp Kaiser[7] trong khi Scharnhorst cũng hai lần về hạng nhì trong các năm 19131914.[8]

Vào tháng 6 năm 1914, chuyến đi tuần tra thường lệ hàng năm của Hải đội Đông Á bắt đầu; Gneisenau gặp gỡ Scharnhorst tại Nagasaki, Nhật Bản, nơi chúng được tiếp đầy than. Hai con tàu lên đường hướng về phía Nam, đi đến Truk vào đầu tháng 7; trên đường đi chúng nhận được tin tức về vụ ám sát Thái tử Franz Ferdinand của Áo.[9] Ngày 17 tháng 7, hải đội đi đến Ponape thuộc quần đảo Caroline. Tại đây, Đô đốc von Spee có thể truy cập được mạng lưới vô tuyến của Đức, nơi ông biết được Áo-Hung đã tuyên chiến với SerbiaNga tuyên bố tổng động viên. Đến ngày 31 tháng 7, tin tức bay đến về việc Đức ra tối hậu thư về hạn định cuối cùng mà Nga phải giải giáp. Von Spee ra lệnh cho các con tàu chuẩn bị chiến tranh.[Ghi chú 4] Ngày 2 tháng 8, Hoàng đế Wilhelm II ra lệnh tổng động viên chống lại Pháp và Nga.[10]

Mở màn Chiến tranh Thế giới thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

SMS Scharnhorst

Khi Chiến tranh Thế giới thứ nhất bùng nổ, Scharnhorst là soái hạm của Tư lệnh Hải đội Đông Á Đức Quốc, Phó đô đốc Maximilian von Spee, một đơn vị vốn bao gồm Scharnhorst, tàu chị em Gneisenau, các tàu tuần dương hạng nhẹ Emden, NürnbergLeipzig.[11] Vào ngày 6 tháng 8 năm 1914, Scharnhorst, Gneisenau, tàu tiếp liệu Titaniatàu tiếp than Nhật Bản Fukoku Maru vẫn còn ở lại Ponape;[12] von Spee ra lệnh triệu hồi các tàu tuần dương hạng nhẹ vốn đang phân tán trên nhiều chuyến đi khác nhau khắp Thái Bình Dương.[13] Nürnberg gia nhập với von Spee cuối ngày hôm đó;[12] ông quyết định nơi tốt nhất để tập trung lực lượng dưới quyền là ở đảo Pagan về phía Bắc quần đảo Mariana, một lãnh thổ vẫn dưới quyền kiểm soát của Đức tại trung tâm Thái Bình Dương. Mọi tàu tiếp than, tàu tiếp liệu và tàu biển chở hành khách đang có đều được lệnh đi đến gặp gỡ Hải đội Đông Á tại đây.[14] Ngày 11 tháng 8, von Spee đi đến Pagan, nơi ông được tháp tùng bởi Emden, chiếc tàu buôn tuần dương vũ trang Prinz Eitel Friedrich cùng nhiều tàu tiếp liệu.[15]

ScharnhorstGneisenau hội quân cùng với EmdenNürnberg, bốn con tàu bắt đầu rời khu vực trung tâm Thái Bình Dương hướng về phía Chile. Ngày 13 tháng 8, hạm trưởng của Emden, Thiếu tướng Hải quân Karl von Müller, thuyết phục von Spee cho tách con tàu của mình ra làm nhiệm vụ cướp phá tàu buôn.[16] Ngày 14 tháng 8, Hải đội Đông Á lên đường từ Pagan hướng đến đảo san hô Enewetak thuộc quần đảo Marshall, do Scharnhorst dẫn đầu.[17] Các con tàu được tiếp đầy than khi đến nơi vào ngày 20 tháng 8.[18] Để giúp cho Bộ chỉ huy tối cao Đức được thông tin đầy đủ, von Spee cho tách Nürnberg ra vào ngày 8 tháng 9 đi đến Honolulu gửi thông tin thông qua các nước trung lập. Nürnberg mang lại thông tin về việc lực lượng Đồng Minh đã xâm chiếm thuộc địa Samoa của Đức. ScharnhorstGneisenau đi đến Apia để khảo sát tình hình, nhưng không tìm thấy mục tiêu thích hợp.[19]

Trong trận Papeete vào ngày 22 tháng 9, Scharnhorst cùng với phần còn lại của Hải đội Đông Á đã bắn phá phần thuộc địa của Pháp này. Trong trận bắn phá, pháo hạm Pháp cũ Zélée bị hỏa lực từ các con tàu Đức đánh chìm.[20] Tuy nhiên, ý định của von Spee muốn chiếm lấy số dự trữ than tại đây bị ngăn trở do ông e ngại lối vào cảng bị cài mìn.[21] Đến ngày 12 tháng 10, Scharnhorst cùng với phần còn lại của Hải đội Đông Á đi đến đảo Phục Sinh, tại đây chúng được tháp tùng thêm bởi sự có mặt của DresdenLeipzig vốn đi đến từ vùng biển Hoa Kỳ.[22] Dresden vốn đặt căn cứ tại vùng biển Caribe,[11] nhưng lại đang có mặt tại San Francisco khi von Spee ra lệnh tập trung mọi lực lượng hải quân Đức trong khu vực.[23] Sau một tuần lễ tại khu vực này, các con tàu khởi hành đi Chile.[22]

Trận Coronel[sửa | sửa mã nguồn]

Scharnhorst di chuyển hết tốc độ
Bài chi tiết: Trận Coronel

Để đối đầu lại với hải đội Đức ngoài khơi bờ biển Nam Mỹ, Hải quân Hoàng gia Anh chỉ có những nguồn lực hiếm hoi; dưới quyền chỉ huy của Chuẩn đô đốc Christopher Cradock là các tàu tuần dương bọc thép Good HopeMonmouth, tàu tuần dương hạng nhẹ Glasgow và tàu tuần dương phụ trợ Otranto. Hải đội này còn được tăng cường bởi chiếc thiết giáp hạm tiền-dreadnoughtCanopus và chiếc tàu tuần dương bọc thép Defence, tuy nhiên chiếc cuối cùng này chỉ đến nơi sau khi trận Coronel đã kết thúc.[24] Canopus bị Cradock cho để lại phía sau, vì ông e ngại tốc độ chậm của nó sẽ ngăn trở việc đối đầu hiệu quả với các con tàu Đức.[25]

Chiều tối ngày 26 tháng 10, Scharnhorst cùng với phần còn lại của hải đội khởi hành từ Mas a Fuera, Chile, hướng sang phía Đông. Von Spee biết được Glasgow bị phát hiện đang ở tại Coronel vào ngày 31 tháng 10, nên quay mũi về phía cảng này.[25] Ông đến nơi vào xế trưa ngày 1 tháng 11, và bất ngờ đụng độ với cả Good Hope, MonmouthOtranto cũng như Glasgow. Canopus còn tụt lại phía sau khoảng 300 dặm (480 km) hộ tống các tàu tiếp than Anh.[26] Lúc 17 giờ 00, Glasgow nhìn thấy các con tàu Đức; Cradock lập đội hình với Good Hope dẫn đầu, tiếp nối bởi Monmouth, Glasgow, và Otranto ở phía sau cùng. Von Spee quyết định kìm lại cuộc tấn công cho đến khi mặt trời lặn thêm, lúc mà các con tàu Anh sẽ soi bóng trên nền trời. Cradock nhận ra sự vô dụng của Otranto trong hàng chiến trận, nên cho tách nó ra.[27]

Lúc 19 giờ 00, các con tàu Đức tiếp cận để tấn công.[27] Scharnhorst đối đầu với Good Hope và đã bắn trúng đối thủ ít nhất 35 phát; một trong số các quả đạn pháo đã xuyên thủng một hầm đạn, làm phá hủy Good Hope lúc 19 giờ 57 phút bởi một vụ nổ dữ dội.[8] Cùng lúc đó Nürnberg tiếp cận ở tầm bắn thẳng để tấn công Monmouth, nả đạn pháo vào nó.[28] Glasgow bị buộc phải bỏ lại Monmouth lúc 20 giờ 20 phút trước khi chạy thoát về phía Nam để gặp gỡ Canopus. Monmouth cuối cùng lật úp và chìm lúc 21 giờ 08 phút;[29] có trên 1.600 người thiệt mạng từ hai chiếc tàu chiến Anh bị đánh chìm, trong đó có cả đô đốc Cradock. Thiệt hại về phía Đức là nhẹ; tuy nhiên các con tàu Đức đã tiêu phí hết 40% lượng đạn dự trữ của chúng.[27] Scharnhorst bị bắn trúng hai lần trong trận đụng độ, nhưng cả hai quả đạn pháo đều bị tịt ngòi.[29]

Trận chiến quần đảo Falkland[sửa | sửa mã nguồn]

Khi tin tức thất bại của trận chiến đến London, Hải quân Hoàng gia Anh tổ chức một lực lượng để truy tìm và tiêu diệt Hải đội Đông Á Đức. Nhằm mục đích này, hai tàu chiến-tuần dương mới mạnh mẻ InvincibleInflexible được cho tách ra từ Hạm đội Grand và đặt dưới quyền chỉ huy của Phó đô đốc Doveton Sturdee.[30] Hai chiếc tàu chiến rời Devonport ngày 10 tháng 11, và trên đường hướng đến quần đảo Falkland, chúng được tháp tùng bởi các tàu tuần dương bọc thép Carnarvon, KentCornwall cùng các tàu tuần dương hạng nhẹ BristolGlasgow cùng với Otranto. Lực lượng tám chiếc tàu chiến Anh đi đến Falkland vào ngày 7 tháng 12, nơi chúng lập tức được tiếp than.[31]

GneisenauNürnberg, hai chiếc dẫn đầu đội hình hải đội Đức, cũng tiếp cận Falkland sáng ngày hôm đó với ý định phá hủy trạm thu phát vô tuyến của Anh tại đây. Trinh sát viên trên Gneisenau nhìn thấy hai chiếc tàu chiến-tuần dương trong cảng Stanley, và khi các quả đạn pháo 30,5 cm (12,0 in) được bắn từ Canopus, vốn được cho mắc cạn như một tàu bảo vệ, những con tàu Đức quay mũi rút chạy.[31] Lực lượng Đức nhắm về hướng Đông Nam với tốc độ 22 kn (41 km/h; 25 mph); Scharnhorst là con tàu trung tâm đội hình, có GneisenauNürnberg dẫn trước cùng DresdenLeipzig tiếp nối theo sau.[32] Tuy nhiên, những tàu chiến-tuần dương mới của đối phương nhanh chóng tăng áp lực hơi nước và tiến ra khỏi cảng đuổi theo Hải đội Đông Á Đức Quốc.[31]

Scharnhorst lật úp và chìm trong khi Gneisenau tiếp tục chiến đấu

Đến 13 giờ 20 phút, các tàu chiến Anh nhanh hơn đã đuổi kịp Scharnhorst và các con tàu cùng đi, và bắt đầu nả pháo ở khoảng cách 14 km (8,7 mi).[33] Von Spee nhận thức các tàu tuần dương bọc thép của mình không thể thoát khỏi các tàu chiến-tuần dương nhanh hơn nhiều của đối phương, nên ra lệnh cho ba chiếc tàu tuần dương hạng nhẹ tìm cách tách ra trong khi ông quay mũi ScharnhorstGneisenau giao chiến với lực lượng Anh. Tuy nhiên, Sturdee cũng khôn ngoan tách các tàu tuần dương bọc thép và tàu tuần dương hạng nhẹ dưới quyền đuổi theo các tàu hạng nhẹ Đức trong khi giữ các tàu chiến-tuần dương của mình đối phó với ScharnhorstGneisenau.[34] Invincible khai hỏa nhắm vào Scharnhorst trong khi Inflexible tấn công Gneisenau. Sturdee tìm cách nới rộng khoảng cách bằng cách bẻ lái 2 point về phía Bắc nhằm ngăn không cho von Spee tiếp cận đến tầm bắn hiệu quả của dàn pháo 8,2 in (21 cm) nhỏ hơn. Tuy nhiên, von Spee phản công bằng cách bẻ lái nhanh về phía Nam, buộc Sturdee cũng bẻ lái theo về hướng Nam; điều này cho phép ScharnhorstGneisenau tiến đến đủ gần để đối chiến bằng pháo hạng hai 5,9 in (15 cm); hỏa lực của chúng khá hiệu quả đến mức buộc phía Anh phải tạm thời tránh ra xa.[35]

Đến 15 giờ 30 phút, Scharnhorst bị bắn thủng nhiều lỗ bên dưới mực nước, ống khói thứ ba bị phá hủy và nó bị cháy trầm trọng. Nó cũng bị ngập nước khoảng 3 ft (0,91 m) hơn tầm nước thông thường. Lúc 16 giờ 04, trinh sát viên của Inflexible trông thấy Scharnhorst nghiêng mạnh sang mạn trái và nó chìm lúc 16 giờ 17 phút.[36] Tất cả 860 sĩ quan và thủy thủ trên chiếc Scharnhorst, kể cả von Spee, đều tử trận theo con tàu.[3] Gneisenau, LeipzigNürnberg cũng bị đánh chìm; riêng Dresden tìm cách lẫn thoát, nhưng cuối cùng cũng bị theo dõi và bị đánh chìm tại đảo Juan Fernández. Việc Hải đội Đông Á bị tiêu diệt hoàn toàn đã gây tổn thất khoảng 2.200 sĩ quan và thủy thủ Đức, trong đó có cả hai người con của Đô đốc von Spee.[33]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "SMS" là từ viết tắt trong tiếng Đức của "Seiner Majestät Schiff", có nghĩa "tàu của đức vua", tương đương với HMS trong tiếng Anh.
  2. ^ Trong thuật ngữ pháo của Hải quân Đế quốc Đức, "SK" (Schnellfeuerkanone) cho biết là kiểu pháo bắn nhanh, trong khi L/40 cho biết chiều dài của nòng pháo. Trong trường hợp này, pháo L/40 có ý nghĩa 40 caliber, tức là nòng pháo có chiều dài gấp 40 lần so với đường kính trong. Xem: Grießmer, tr. 177.
  3. ^ MPL được viết tắt từ Mittel-Pivot-Lafette (bệ trục xoay trung tâm).
  4. ^ Nguyên văn tiếng Anh: "Strip for War", có nghĩa là vứt bỏ mọi thứ không cần thiết như quần áo lễ phục, bàn ghế, thảm và các vật dụng dễ cháy. Xem Hough, tr. 17.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Rüger 2007, tr. 160
  2. ^ Hough 1980, tr. 12
  3. ^ a ă â b c Gröner 1990, tr. 52
  4. ^ Herwig 1998, tr. 44
  5. ^ Gardiner 1985, tr. 142
  6. ^ DiGiulian, Tony (22 tháng 5 năm 2012). “Germany: Ammunition, Guns and Mountings Definitions”. NavWeaps.com. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2012. 
  7. ^ Hough 1980, tr. 3
  8. ^ a ă Strachan 2001, tr. 35
  9. ^ Hough 1980, tr. 11–12
  10. ^ Hough 1980, tr. 17–18
  11. ^ a ă Halpern 1995, tr. 66
  12. ^ a ă Halpern 1995, tr. 71
  13. ^ Hough 1980, tr. 1–2
  14. ^ Hough 1980, tr. 3–4
  15. ^ Hough 1980, tr. 5
  16. ^ Herwig 1998, tr. 155–156
  17. ^ Hough 1980, tr. 23
  18. ^ Hough 1980, tr. 33
  19. ^ Strachan 2001, tr. 471
  20. ^ Strachan 2001, tr. 472
  21. ^ Halpern 1995, tr. 89
  22. ^ a ă Hawkins 2002, tr. 34
  23. ^ Hough 1980, tr. 2
  24. ^ Herwig 1998, tr. 156
  25. ^ a ă Halpern 1995, tr. 92
  26. ^ Halpern 1995, tr. 92–93
  27. ^ a ă â Halpern 1995, tr. 93
  28. ^ Herwig 1998, tr. 157
  29. ^ a ă Strachan 2001, tr. 36
  30. ^ Strachan 2001, tr. 41
  31. ^ a ă â Strachan 2001, tr. 47
  32. ^ Bennett 2005, tr. 115
  33. ^ a ă Herwig 1998, tr. 158
  34. ^ Bennett 2005, tr. 117
  35. ^ Bennett 2005, tr. 118
  36. ^ Bennett 2005, tr. 119

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: 52°29′58″N 56°9′59″T / 52,49944°N 56,16639°T / -52.49944; -56.16639