Sabratha
| Sabratah صبراتة Sabratha |
|
| Location in Libya | |
| Tọa độ: 32°47′32″B 12°29′3″Đ / 32,79222°B 12,48417°Đ | |
|---|---|
| Quốc gia | Libya |
| Quận | Az Zawiyah 2001–2007 Sabratha Wa Surman |
| Múi giờ | UTC + 2 (UTC) |
| Archaeological Site of Sabratha | |
|---|---|
| Di sản thế giới UNESCO | |
|
|
|
| Quốc gia | |
| Dạng | Cultural |
| Tiêu chuẩn | iii |
| Tham khảo | 184 |
| Vùng† | Arab States |
| Lịch sử công nhận | |
| Công nhận | 1982 (Kỳ họp thứ 6th) |
| * Dịch từ tên chính thức trên danh sách Di sản thế giới. † Vùng được UNESCO phân loại chính thức. |
|
Sabratha, Sabratah hay Siburata (tiếng Ả Rập: صبراتة), thuộc quận Az Zawiyah[1] nằm ở góc tây bắc của đất nước Libya, từng là điểm cực tây của "ba đô thị" của Tripolis. Từ 2001 đến 2007 nơi đây là thủ phủ của quận Sabratha Wa Surman. Đô thị này nằm bên Địa Trung Hải và nằm cách phía tây của Tripoli 65 km (40 dặm). Các di chủi khảo cổ nơi đây đã được UNESCO ghi nhận là Di sản Thế giới vào năm 1982.
Mục lục |
Sabratha cổ [sửa]
Cảng Sabratha có thể đã được lập ra vào năm 500 TCN, đóng vai trò như một địa điểm giao thương của Phoenicia trên khu vực ven biển và vùng nội địa châu Phi. Người Phoenicia đã lấy tên bằng tiếng Lybico-Berber 'Sbrt'n',[2] vốn là tên từ trước khi người Phoenicia đến làm tên gọi chính thức. Sabratha trở thành một phần của vương quốc Numidia của Massinissa trong một thời gian ngắn trước khi bị La Mã hóa và được tái xây dựng vào thế kỷ 2 và 3 SCN. Hoàng đế Septimus Severus được sinh ra gần Leptis Magna, và Sabratha đã đạt tới sự phát triển cực thịnh dưới thời Severans. Thành phố bị thiệt hại nghiêm trọng bởi các vụ động đất vào thế kỷ 4, đặc biệt là vào năm 365. Thành phố được tái xây dựng dưới thời Byzantine. Sau hàng trăm năm người Ả Rập chinh phục Maghreb, việc giao thương đã chuyển địa điểm tới các cảng khác và Sabratha bị co lại thnahf một ngôi làng.
Di chỉ khảo cổ [sửa]
Với một nhà hát có vẻ đẹp tráng lệ vào cuối thế kỷ 3 và vẫn giữ lại được ba tầng kiến trúc cơ bản, Sabratha có điện thờ được thiết kế duy nhất cho Liber Pater, Serapis và Isis. Đây là một vương cung thánh đường Thiên Chúa giáo trong thời Justinian và cũng còn lại một số tàn tích của các phòng ốc của thời La Mã, như Villa Sileen, gấnAl-Khams). Ngoài ra nơi đây còn có một số di tích nhà tắm cổ nhìn ra biển và các bảo tàng chứa nhiều châu báu, nhưng hiện chúng được cất giữ tại bảo tàng quốc gia ở Tripoli.
Thư viện ảnh [sửa]
Tham khảo [sửa]
- ^ شعبيات الجماهيرية العظمى – Sha'biyat of Great Jamahiriya, truy cập 20 tháng 7, 2009, tiếng Ả Rập
- ^ Septimus Severus page 2
Đọc thêm [sửa]
- Matthews, Kenneth D. (1957) Cities in the Sand, Leptis Magna and Sabratha in Roman Africa University of Pennsylvania Press, Philadelphia, OCLC 414295
- Ward, Philip (1970) Sabratha: A Guide for Visitors Oleander Press, Cambridge, UK, ISBN 0-902675-05-2
Liên kết ngoài [sửa]
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Sabratha. |
- UNESCO archaeological site of Sabratha
- Complete photo coverage of the archeological site
- "Sabratah, Libya" Falling Rain Genomics, Inc.
- Sabratha, image from the BSR Library and Archive digital collections. Ward-Perkins photographic collection