Salzburg

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Salzburg
Coat of arms of Salzburg Location of Salzburg in Austria

Quốc gia Áo
Bang Salzburg
Vùng hành chính Regierungsbezirk Thành phố độc lập Statutarstadt
Dân số 150.269 (01.01.2007 [1])
Diện tích 7.154 km²
Mật độ dân số 2.288 /km²
Độ cao 424 m
Tọa độ 47°48′0″B 13°02′0″Đ / 47,8°B 13,03333°Đ / 47.80000; 13.03333
Mã số bưu điện 5020
Mã số điện thoại 0662
Tiền tố bảng xe S
Thị trưởng Heinz Schaden (SPÖ)
Trang Web www.stadt-salzburg.at
Khu phố cổ Salzburg
Welterbe.svg Di sản thế giới UNESCO
SalzburgerAltstadt02.JPG
Quốc gia  Áo
Kiểu Văn hóa
Hạng mục ii, iv, vi
Tham khảo 784
Vùng UNESCO Châu Âu và Bắc Mỹ
Lịch sử công nhận
Công nhận 1996 (kì thứ 20)
Khu phố cổ Salzburg và Pháo đài Hohensalzburg

Salzburg là thủ phủ của tiểu bang cùng tên thuộc Cộng hòa Áo. Với 150.269 dân cư Salzburg là thành phố lớn thứ tư của Áo sau Viên, GrazLinz. Thành phố cũng thường được gọi là thành phố MozartWolfgang Amadeus Mozart đã sinh ra và sống hơn nửa cuộc đời ngắn ngủi của ông tại đây. Thành phố Salzburg có nhiều điểm đặc biệt, nhất là khu phố cổ và vùng chung quanh Lâu đài Hellbrunn:

  • Hầm xe cơ giới lâu đời nhất của Áo
  • Pháo đài lịch sử lớn nhất Trung Âu vẫn còn tồn tại (Pháo đài Hohensalzburg)
  • Đường sắt leo núi có dây kéo lâu đời nhất thế giới vẫn còn tồn tại (Reißzug)
  • Đại lộ lâu đời nhất thế giới (Đại lộ Hellbrunn hay Hellbrunner Allee)

Khu phố cổ Salzburg, các khu phố Neustadt, Nonntal, Mülln, các núi Mönchsberg và Kapuzinerberg là di sản thế giới của UNESCO từ ngày 5 tháng 12 năm 1996.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Salzburg nằm trong lòng chảo Salzburg, mang nhiều ảnh hưởng của sông Salzach và các đồi núi chung quanh thành phố vẫn còn nguyên trạng tự nhiên. Nhờ vậy, nội thành Salzburg là một trong các nội thành có nhiều cây xanh nhất của châu Âu. Thuộc thành phố Salzburg bao gồm các núi Festungsberg (với Pháo đài Hohensalzburg), Mönchsberg, Rainberg (Salzburg)Kapuzinerberg. Ở phía nam của Salzburg là các núi Hellbrunner BergMorzger Hügel, trong khu phố Altliefering là đồi Grafenhügel.

Về phía tây nam của thành phố là núi Untersberg cao 1.853 m và về phía đông nam là núi Gaisberg (Salzburg) cao 1.288 m. Cạnh khu rừng ven sông Salzach là vùng đồi Flachgau với núi Plainberg. Về phía tây bắc thành phố Salzburg giáp ranh với bang Bayern của Đức, sông Salzach là biên giới với thành phố Freilassing thuộc Đức.

Phân chia hành chánh[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Salzburg được chia thành 14 đơn vị quản lý hành chánh (Katastralgemeinde): Salzburg, Maxglan, Morzg, Gnigl, Itzling, Aigen, Liefering, Leopoldskron, Gaisberg, Heuberg, Bergheim, Hallwang, Siezenheim và Wals.

Phát triển dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số Salzburg phát triển nhảy vọt trong năm 1935 từ 40.232 lên đến 63.275 người do sáp nhập nhiều làng lân cận. Trong thời gian sau Đệ nhị thế chiến dân số Salzburg một lần nữa lại tăng nhảy vọt do nhiều người tỵ nạn chiến tranh, đặc biệt là người gốc Đức, đã chọn thành phố này làm quê hương thứ hai. Từ khoảng năm 1950 Salzburg trở thành thành phố lớn do dân cư vượt quá ngưỡng 100.000 người. Trong năm 2006 150.000 người có nơi cư ngụ chính trong Salzburg.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thánh Rupert của Salzburg, Giám mục đầu tiên của Salzburg và là vị thánh bảo hộ của bang Salzburg
Đọc bài chính về Lịch sử bang Salzburg

Từ Tiền sử đến đầu thời Trung cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng đất thành phố Salzburg đã có người sinh sống từ Thời đại đồ đá mới. Đặc biệt là tại Rainberg đã có người sinh sống liên tục từ Thời đại đồ đá mới cho tới khi người La Mã tiến vào dưới thời Hoàng đế Augustus trong năm 15 TCN. Thêm vào số đó là các vùng dân cư trong thời người Celt. Sau khi bị người La Mã chiếm giữ, các vùng dân cư trên các ngọn đồi núi được dời về khu phố cổ. Thành phố La Mã Juvavum được thành lập từ đấy. Thành phố đã phát triển nhanh chóng đặc biệt là cạnh tả ngạn sông Salzach, nơi sông Salzach và núi Mönchsberg tạo thành thế phòng thủ tốt và chỉ cần xây đắp công sự bảo vệ vững chắc ở về phía nam là hướng trống. Chỉ vài thập niên sau đó Juvavum đã trở thành một trung tâm hành chánh quan trọng của tỉnh La Mã Noricum dưới thời Hoàng đế Claudius.

Năm 699 công tước của Bayern đã tặng phần còn lại của thành phố La Mã xưa cũ này cho Giám mục Rupert của Salzburg để truyền đạo vào khu vực. Tên Salzburg được minh chứng lần đầu tiên vào năm 755. Năm 739 Salzburg trở thành nơi cư ngụ chính của Giám mục. Nhà thờ lớn đầu tiên của Salzburg được hoàn thành năm 744. Thể theo lời thỉnh cầu của Vua Frank là Đại đế Karl, Giáo hoàng Leo III đã nâng Salzburg lên thành địa hạt của tổng Giám mục.

Giữa và cuối thời Trung cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Salzburg sau đó thuộc về Vương quốc Frank Đông, sau này là Thánh chế La Mã.

Pháo đài Hohensalzburg được bắt đầu xây dựng dưới thời tổng Giám mục Gebhard của Salzburg trong năm 1077. Vì Gebhard đứng về phía của giáo hoàng trong cuộc tranh chấp phong chức (Investiture Controversy) năm 1076 và năm 1077 đứng về phía của vị vua đối nghịch là Rudolf của Schwaben, nên vị tổng Giám mục đã bị Hoàng đế Heinrich IV của Thánh chế La Mã trục xuất vì tội phản bội sau khi cuộc tranh chấp chấm dứt.

Thành phố đã bị các bá tước của Plain, vốn trung thành với hoàng đế, phá hủy trong đêm 4 rạng sáng ngày 5 tháng 4 năm 1167 vì tổng Giám mục Konrad II của Babenberg đã tiếp nhận cai quản Salzburg mà không có sự đồng ý của hoàng đế Thánh chế La Mã.

Tổng Giám mục Eberhard của Regensberg, người đứng về phía của dòng Staufer, đã thành công trong việc tái lập một địa hạt tổng Giám mục thống nhất trong thời gian 1200 đến 1246. Từ đấy ảnh hưởng của Salzburg ngày càng lớn mạnh.

Salzburg trong thời kỳ Baroque[sửa | sửa mã nguồn]

Khu phố cổ và pháo đài nhìn từ Kapuzinerberg

Đầu thế kỷ 17, tổng Giám mục Wolf Dietrich của Raitenau đã cho cải tạo lại thành phố Salzburg, mang lại cho khu phố cổ nét đặc trưng cho đến ngày hôm nay. Năm 1598 Vincenzo Scamozzi được mời xây dựng lại Nhà thờ lớn Salzburg đã bị cháy đến lần thứ 8. Do mâu thuẫn về việc bán muối và thuế với Bayern, Wolf Dietrich đã chiếm lĩnh vùng đất Berchtesgarden năm 1611. Ngay sau đấy Bayern đã chiếm đóng Salzburg và tổ chức bầu Markus Sittikus của Hehenems thay thế Wolf Dietrich. Nhờ chính sách trung lập thận trọng và khéo léo, Paris của Lordon, người kế nhiệm Markus Sittikus, đã thành công trong việc đưa Salzburg đứng ngoài cuộc Chiến tranh 30 năm.

Chỉ vài năm sau khi Martin Luther công bố các luận đề của ông đa số người dân Salzburg đều rất cởi mở đối với đạo Tin Lành. Thêm vào đó là sự bất bình của người dân đối với chính thể chuyên chế của tổng Giám mục Matthäus Lang của Wellenburg. Các cuộc khởi nghĩa của nông dân năm 1525 một lần nữa lại biểu lộ sự đồng tình của nhiều người dân đối với đạo Tin Lành. Ngay từ trước năm 1590 gần như toàn bộ các gia đình theo đạo Tin Lành trong thành phố Salzburg đều phải rời bỏ đất nước. Trẻ em dưới 15 tuổi thường bị bỏ lại và được bốc thăm chia về cho các gia đình theo Công giáo. Cuối cùng, năm 1731, tổng Giám mục Leopold Anton của Firmian cùng với thủ tướng là Christani di Rallo đã ra lệnh trục xuất tiếp tục 20.000 người dân Salzburg theo đạo Tin Lành. Đầu tiên, vào cuối mùa thu năm 1731, 4.000 nam nữ làm tôi tớ đã bị bắt giam và trục xuất. Trong tháng 4 năm 1732 nhiều gia đình thợ thủ công và nông dân tiếp tục bị trục xuất. Gần ¼ những người bị trục xuất đã chết do không chịu đựng được cực khổ của chuyến đi đày. Mãi đến năm 1740, do vua Phổ can thiệp nhiều lần, những người bị trục xuất này mới được đền bù một phần. Mặc dù chính sách trục xuất phù hợp với luật lệ đương thời (cuius regio, eius religio - lãnh chúa quyết định tôn giáo của thần dân) nhưng việc này đã bị cả châu Âu không đồng tình. Việc dân số giảm đi qua việc trục xuất đã mang lại nhiều hậu quả nặng nề về kinh tế cho vùng đất Salzburg. Năm 1966 tổng Giám mục Andreas Rohracher đã bài tỏ sự hối tiếc sâu đậm của ông về việc trục xuất và kêu gọi thương yêu cũng như tôn trọng lẫn nhau.

Từ 1772 đến 1803, dưới thời cầm quyền của tổng Giám mục Hieronymus Franz Josef Collodero của Wallsee và Mels, Salzburg đã trở thành trung tâm của thời kỳ Khai sáng. Hệ thống trường học được cải tổ theo gương mẫu Áo và nhiều nhà khoa học cũng như nghệ thuật đã được gọi về Salzburg.

Salzburg sau thời thế tục hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Đạo luật thế tục hóa các sở hữu tôn giáo của năm 1803 chấm dứt sự cai trị các tổng Giám mục Salzburg. Thành phố cùng với FreisingPassau trở thành lãnh địa của Đại công tước Ferdinand III của Toscana. Năm 1805, cùng với Berchtesgaden, Salzburg được chia về cho Đế quốc Áo, năm 1810 lại trở thành một phần của Bayern. Năm 1816 sau Đại hội nghị Wien Salzburg lại thuộc về Áo và trở thành một phần của Thượng Áo (Oberösterreich).

Các cuộc bầu cử đầu tiên được tiến hành theo luật bầu cử vào năm 1919. Cuộc trưng cầu dân ý sáp nhập vào Áo-Đức được tiến hành vào ngày 29 tháng 5 năm 1921.

Thời kỳ Quốc Xã và Đệ nhị thế chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới chế độ Quốc Xã độc tài, vào ngày 30 tháng 4 năm 1938 đã xảy ra việc đốt sách, nhiều người Do Thái cũng như chính trị gia đối lập đã bị bắt giữ. Trong khuôn khổ của cái được gọi là Kristallnacht Nhà thờ Do Thái Salzburg đã bị phá hủy vào ngày 9 tháng 11.

15 cuộc ném bom của phi cơ quân đội Mỹ trong thời gian 1944/1945 đã phá hủy hay làm hư hại 7.600 hộ dân cư, 14.563 người mất nhà cửa, hơn 550 người chết.

Sau Đệ nhị thế chiến đến ngày nay[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đội Mỹ tiến vào Salzburg ngày 4 tháng 5 năm 1945, tiếp nhận thành phố từ quân đội Đức dưới quyền chỉ huy của Đại tá Hans Lepperdinger. Người Mỹ đã đưa Richard Hildmann vào chức vụ thị trưởng. Các đảng chính trị như Đảng Xã hội Dân chủ Áo, Đảng Nhân dân ÁoĐảng Cộng sản Áo được thành lập. Nhiều làn sóng người tỵ nạn không quê hương (Displaced Persons), người gốc Đức và người Do Thái đã tràn vào thành phố. Trong tháng 12 năm 1946 trong khu vực Salzburg đã có khoảng 13.200 người tỵ nạn, chủ yếu từ Đông ÂuTrung Âu. Nhiều trại tỵ nạn đạ được thành lập, trong số đó nổi tiếng nhất là trại Parsch.

Salzburg là nơi tổ chức Hội nghị các tiểu bang vào ngày 26 tháng 9. Salzburg là bang đầu tiên đã kêu gọi tái thành lập nước Cộng hòa Áo và công nhận chính phủ quốc gia tại Wien. Salzburg cũng như nhiều phần của vùng Steiermark trở thành Vùng chiếm đóng của quân đội Mỹ. Salzburg là nơi đặt trụ sở của Bộ tư lệnh. Trong những tuần đầu tiên, lực lượng chiếm đóng đã tịch thu nhiều căn nhà và điều hành toàn bộ Salzburg, nhưng sau đó đã chuyển sang hợp tác với chính quyền của tiểu bang và của thành phố. Ngoại trừ một vài cuộc tấn công riêng lẻ, người dân Salzburg đã hợp tác với lực lượng chiếm đóng. Nhờ vào sự giúp đỡ lớn về kinh tế (Kế hoạch Marshall) mà nền kinh tế Salzburg đã nhanh chóng khôi phục.

Khách sạn châu Âu cao 16 tầng, cho đến nay vẫn là tòa nhà cao nhất Salzburg, được khai trương vào ngày 15 tháng 7 năm 1957. Ý kiến của người Salzburg về tòa nhà này cho đến nay vẫn đa dạng: từ "vết nhơ của thập niên 50" cho đến "cần được bảo vệ". Vào ngày 1 tháng 5 năm 1959, buổi lễ đầu tiên được tiến hành trong Nhà thờ lớn Salzburg vừa được tái kiến thiết.

Vào ngày 5 tháng 7 năm 1962, sau hơn 150 năm gián đoạn, Trường Đại học Salzburg (Universität Salzburg) đã được tái thành lập với khoa Công giáo-Thần học và khoa Triết. Khoa Triết sau đó được mở rộng thành khoa Khoa học Xã hội rồi thành khoa Khoa học Xã hội và Văn hóa. Khoa Khoa học Tự nhiên được thành lập vào ngày 3 tháng 10 năm 1986.

Phần lớn khu phố cổ trở thành khu dành riêng cho người đi bộ từ ngày 9 tháng 7 năm 1973.

Trong tháng 10 năm 2003, trường Đại học Y khoa Paracelsus bắt đầu hoạt động, là trường đại học y khoa tư nhân đầu tiên của nước Áo.

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Đường lối chính trị của thành phố mang dấu ấn bảo thủ cho đến giữa thế kỷ 20. Năm 1914 Robert Preußler là người của Đảng Xã hội Dân chủ Áo đầu tiên trong hội đồng thành phố Salzburg. Sau Đệ nhị thế chiến, Richard Hildmann, người từ 1935 đến 1938 đã là thị trưởng thành phố, được Ủy ban quân quản của Mỹ cử vào chức vụ thị trưởng tạm thời vào ngày 5 tháng 5 năm 1945. Từ 1999 chức vụ thị trưởng được người dân bầu trực tiếp. Thị trưởng thành phố từ 1999Heinz Schaden (Đảng Xã hội Dân chủ Áo).

Thắng cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thờ lớn Salzburg

Toàn bộ khu phố cổ Salzburg, khu phố Neustadt (Salzburg), khu phố Nonntal, Mülln, các núi Mönchsberg và Kapuzinerberg là di sản thế giới của UNESCO từ ngày 5 tháng 12 năm 1996. Độc nhất trên thế giới là Lâu đài Hellbrunn với vườn hoa lâu đài và các đài phun nước cũng như quan cảnh vườn hoa chung quanh Đại lộ Hellbrunn.

Kiến trúc nhà thờ nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhà thờ lớn Salzburg: xây mới 1614-1628, là nhà thờ Baroque đầu tiên phía bắc dãy núi Alps.
  • Tu viện Thánh Peter là tu viện lâu đời nhất vẫn còn tồn tại
  • Tu viện Nonnberg (Benediktinen-Frauenstift Nonnberg) là nữ tu viện tồn tại liên tục lâu đời nhất thế giới
  • Nhà thờ của Đại học Salzburg, tác phẩm chính của kiến trúc sư Johann Bernhard Fischer von Erlach.
  • Nhà thờ Dòng Phanxicô Salzburg
  • Nhà thờ Michael

Các công trình xây dựng phi tôn giáo, quảng trường và phố cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng đáng xem là Dinh Cũ của tổng Giám mục (Dinh thự Salzburg), Dinh Mới mà ngày nay là Viện bảo tàng Salzburg Carolino Augusteum, Cổng Sigmund là đường hần xe cơ giới lâu đời nhất Trung Âu. Trong Đường Ngũ cốc (Getreidegasse) là ngôi nhà nơi Mozart ra đời.

Lâu đài[sửa | sửa mã nguồn]

Lâu đài Mirabell

Kiến trúc hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những năm gần đây nhiều công trình kiến trúc hiện đại đã được thực hiện bên ngoài khu phố cổ. Trong số đó là Viện Bảo tàng Hiện đại Salzburg, Europark là một trung tâm mua sắm hiện đại cũng như Khoa Khoa học tự nhiên của trường Đại học Salzburg.

Công viên công cộng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vườn hoa của Lâu đài Mirabell
  • Vườn hoa của Lâu đài Hellbrunn
  • Công viên Lehn
  • Công viên Nhân dân trong khu phố Parsch
  • Công viên Donnenberg trong khu phố Nonntal
  • Công viên Baron Schwarz và Công viên Tiến sĩ Hans Lechner trong khu phố Schallmoss.
  • Công viên Minnesheim trong khu phố Gnigl

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Großes Festspielhaus (Nhà lễ hội Lớn), một trong những nơi tổ chức hòa tấu âm nhạc trong dịp Lễ hội Salzburg

Ngay từ thời tổng Giám mục Arn của Salzburg thành phố đã có truyền thống về âm nhạc. Danh tiếng của thành phố âm nhạc Salzburg vang dội đến mức năm 870 Giáo hoàng Johannes VIII đã phải nhờ cậy vị tổng Giám mục Salzburg cử về một cây đàn ống cùng vời người chơi đàn đến Tòa thánh Vatican để phục vụ. Dưới thời của hầu tước-tổng Giám mục Eberhard của Regensberg, nhà thơ và nhà soạn nhạc danh tiếng Neidhart của Reuental đã sống và sáng tác tại đây. Năm 1424 Oswald của Wolkenstein (1377-1445) cũng đã lưu lại Salzburg dưới thời của tổng Giám mục Eberhard III của Neuhaus.

Dưới thời của hầu tước-tổng Giám mục Mathäus Lang của Wellenburg, cũng là một nhạc sĩ tài năng, nhiều nhà soạn nhạc đã sống và sáng tác tại Salzburg như Heirich Fink, Caspar Clanner và "vua đàn ống" Paul Hofhaimer. Nhà soạn nhạc nhà thờ theo đạo Tin Lành Paul Speratus cũng đã sống tại đây cho đến khi bị trục xuất. Năm 1591 hầu tước-tổng Giám mục Wolf Dietrich đã cho tái thành lập dàn nhạc trong cung điện và đội đồng ca nhà thờ với 78 nhạc sĩ.

Vào ngày 27 tháng 1 năm 1614 Markus Sittikus của Hohenems khánh thành nhà hát mới trong cung điện với các buổi trình diễn opera đầu tiên ngoài nước Ý.

Người con vĩ đại của Salzburg, Wolfgang Amadeus Mozart, ra đời năm 1756. Thế nhưng quan hệ giữa Mozart và vị hầu tước-tổng Giám mục Collero, cũng là một người chơi đàn vĩ cầm xuất sắc, đã đỗ vỡ. Mozart cho rằng ông không được ủng hộ đầy đủ. Sau khi Salzburg sáp nhập vào Áo (1816) truyền thống của dàn nhạc cung điện tắt dần

Franz Xaver Gruber, người sáng tác giai điệu cho bài hát Đêm Yên lặng, ra đời tại Salzburg năm 1792.

Buổi lễ khánh thành đài tưởng niệm Mozart đầu tiên năm 1842 bắt đầu cho truyền thống Lễ hội Mozart. Quỹ quốc tế Marateum được thành lập năm 1870, Trường Âm nhạc Mazarteum năm 1880, sau này trở thành Trường Đại học Âm nhạc Mozarteum. Clemens Krauss, Berhard Paumgartner, sau đấy là Klaus Ager cũng như là Gerhard Wimberger và nhiều người khác đã hoạt động tại đây.

Một số sự kiện âm nhạc:

Hội họa[sửa | sửa mã nguồn]

Bích họa trong Tu viện Melk của Johann Michael Rottmayr

Hội họa thời Trung cổ trong Salzburg mang dấu ấn của các dòng tu. Quyển sách giai điệu nhạc của Tu viện Thánh Peter là một trong những công trình quan trọng nhất của việc minh họa sách thời Trung cổ trong vùng núi Alps. Nhiều công trình minh họa sách thời Romanesque và Gothic cũng hình thành tại đây. Cũng nổi tiếng là các bức bích họa trong Tu viện Nonnberg. Tại đây vẫn còn giữ được một bức kính cửa sổ thời Gothic. Các nghệ sĩ Salzburg nổi tiếng thời Gothic là Rueland FrueaufConrad Laib. Họa sĩ Salzburg nổi tiếng trong thời Cận đại là Hans Bocksberger. Các họa sĩ thời Baroque đầu tiên và nổi tiếng nhất trong vùng nam Đức và Áo là họa sĩ Salzburg Johann Michael RottmayrMartino Altomonte. Vào thời Lãng mạn Salzburg được nhiều họa sĩ "tái khám phá", đặc biệt là Ferdinand Olivier, Adrian Ludwig Richter và sau đó là Johann Fischbach. Các bức tranh tôn vinh Salzburg của họ và các tác phẩm về lữ hành đã tạo nền tảng cho ngành du lịch Salzburg. Andreas Nesselthaler, Rudolf von AltHubert Sattler cũng đã vẽ nhiều tranh phong cảnh Salzburg và vùng phụ cận. Sáng tác cùng thời kỳ này là họa sĩ Hans Makart sinh tại Salzburg, người đã có nhiều ảnh hưởng đến thế hệ họa sĩ trẻ.

Sống và sáng tác tại Salzbubrg sau Đệ nhất thế chiếnAnton Faistauer, người đã vẽ nhiều bức bích họa lớn trong Nhà thờ Mortg và Nhà lễ hội Salzburg cũng như nhiều tranh sơn dầu. Sau Đệ nhị thế chiến, Oskar Kokoschka đã thành lập Học viện mùa hè quốc tế dành cho hội họa. trong Pháo đài Hohensalzburg.

Điêu khắc[sửa | sửa mã nguồn]

Hầu hết các tác phẩm điêu khắc thời Trung cổ đều mang tính tôn giáo. Các nhà điêu khác có tên tuổi cuối thời Gothic tại Salzburg là Michael PacherVeit Stoß. Michael Pacher đã sáng tạo một trong các bàn thờ lớn nhất và đẹp nhất Trung Âu cho Nhà thờ dòng Phanxicô. Tiếc rằng hiện nay chỉ còn lại bức tượng Đức Mẹ. Nổi tiếng thời Baroque là nhà điêu khắc Michael Bernhard Mandl. Nghệ thuật điêu khắc thế kỷ 18 tại Salzburg mang dấu ấn của Georg Raphael Donner. Cũng sáng tác trong thời kỳ này là Sebastian Stumpfeger, Johann Georg HitzlAnton Pfaffinger. Nổi bật trong số các nhà nghệ thuật của thế kỷ 20Giacomo Manzu với các tác phẩm của ông.

Viện bảo tàng[sửa | sửa mã nguồn]

Một buổi biểu diễn ngoài trời

Phim ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Công ty "Phim nghệ thuật Salzburg" (Salzburger-Kunstfilm) được thành lập năm 1921. Phim tài liệu Die Festspiele 1921 (Các lễ hội 1921) được sản xuất ngay cùng năm. Phim truyện đầu tiên, Die Tragödie des Carlo Prinetti (Bi kịch của Carlo Prinetti) được trình chiếu lần đầu tiên tại Viên vào ngày 29 tháng 1 năm 1924. Thế nhưng công ty đã ngưng hoạt động ngay từ năm 1925 trong cuộc khủng hoảng phim câm Áo. Rạp chiếu bóng Maxglan thời đấy là rạp chiếu bóng lớn thứ hai của Áo.

Rạp chiếu bóng Mozart được xây năm 1905. Tiền thân của rạp chiếu bóng Elmo hình thành năm 1947 và được mở rộng nhiều lần. Trung tâm văn hóa phim ảnh Salzburg tổ chức hằng năm vào mùa thu Lễ hội phim. Ngoài ra Salzburg còn có các rạp chiếu bóng: Central trên đường Linz (Linzer Gasse), Cineplexx Airport được khánh thành năm 1998 trong Airportcenter là một khu mua sắm và vui chơi giải trí, Cineplexx City tại Nhà ga chính được khai trương năm 2001.

Cộng đồng tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Một phòng cầu nguyện của những người Hồi giáo

Cho đến đầu thế kỷ 19, tức là cho đến khi lãnh địa của hầu tước-tổng Giám mục chấm dứt, Salzburg không có sự chia cắt giữa nhà thờ và nhà nước nên thành phố mang ảnh hưởng nhà thờ Công giáo rất lớn. Các khó khăn của cộng đồng Tin Lành, cộng đồng người Do Thái và đặc biệt là việc trục xuất người theo đạo Tin lành là những minh chứng cho việc này. Cho đến ngày nay các tháp nhà thờ vẫn thống trị quang cảnh của thành phố mà đã từng được gọi là Roma phía bắc. Nếu như thế kỷ 18 và đặc biệt là thế kỷ 19 đã mang lại những khả năng đầu tiên cho cuộc sống của các cộng đồng tôn giáo phi Công giáo thì trong nửa sau của thế kỷ 20, chủ yếu vì chiến tranh, trục xuất và hội nhập mà Salzburg đã đa dạng nhiều hơn về mặt tôn giáo.

Người theo đạo Công giáo chiếm 55,6% dân số vẫn là cộng đồng tôn giáo lớn nhất trong Salzburg, vượt xa các cộng đồng tôn giáo còn lại; 6,7% người dân theo đạo Tin Lành. Cộng đồng Chính Thống giáo Đông phương chiếm 5,3% dân số. Người theo đạo Hồi với 6,8% dân số là cộng đồng tôn giáo phi Thiên Chúa giáo lớn nhất. Cộng đồng văn hóa Israel chiếm 0,06% dân số thành phố, các cộng đồng tôn giáo phi Thiên Chúa giáo khác như Phật giáo chiếm 0,06% dân số.

Bên cạnh khoảng 10 nơi cầu nguyện của những người Hồi giáo còn có một nhà thờ Do Thái và một trung tâm Phật giáo cũng như là một nhà thờ Ấn Độ giáo.

Khoảng 17,1% người dân Salzburg không theo đạo giáo và theo thống kê dân số thì không rõ tôn giáo của 6,5% người dân.

Thời gian nhàn rỗi[sửa | sửa mã nguồn]

Thể thao[sửa | sửa mã nguồn]

Sân vận động Wals Siezenheim

Câu lạc bộ chuyên về thể thao lâu đời nhất trong bang Salzburg là Salzburger AK 1914. Tuy vậy Salzburg còn có nhiều hiệp hội thể dục lâu đời hơn: Hội thể dục Salzburg được thành lập năm 1861, Hội thể dục Maxglan năm 1902. Câu lạc bộ bóng đá FC Red Bull Salzburg được thành lập năm 1933 dưới tên SV Austria Salzburg là câu lạc bộ bóng đá có nhiều thành tích nhất của Salzburg. Câu lạc bộ khúc côn cầu trên băng EC Red Bull Salzburg được thành lập năm 1977 dưới tên Salzburger EC hiện đang tái thi đấu trong giải vô địch hạng nhất từ năm 2004; đội nữ khúc côn cầu trên băng đầu tiên của Áo, EC The Ravens Salzburg, đoạt giải vô địch trong mùa 2005/2006. Trong bộ môn American Football còn non trẻ ở Áo, đội Salzburg Bulls đã đoạt giải vô địch năm 1984.

Năm 2003 thành phố Salzburg có thêm một sân vận động bóng đá: Sân vận động Wals Siezenhem, cũng là nơi tổ chức thi đấu cho Giải vô địch bóng đá châu Âu 2008.

Cho đến nay chỉ có một ít sự kiện thể thao lớn được tổ chức tại Salzburg. Cuộc Chạy việt dã Salzburg (Salzburg-Marathon) được tổ chức lần đầu tiên năm 2005. Giải vô địch thế giới xe đạp trên đường phố được tổ chức tại Salzburg và vùng phụ cận năm 2006. Thành phố cũng đã đăng ký tổ chức Thế vận hội mùa đông 2014 nhưng không được bình chọn.

Cuộc sống về đêm[sửa | sửa mã nguồn]

Phần lớn các địa điểm vui chơi về đêm đều tập trung trong khu phố cổ, đặc biệt là chung quanh Quảng trường Anton Neumayr và cạnh bến sông Rudolf với nhiều quán bia. Hình thành trong những năm gần đây là City Center (Salzburg) cạnh Nhà ga chính và Airportcenter, nơi có nhiều quán disco, rạp chiếu bóng và bar.

Đặc sản[sửa | sửa mã nguồn]

Mozartkugel
  • Mozartkugel (Quả cầu Mozart), được gọi nguyên thủy là Kẹo Mazart, do tiệm bánh kẹo Paul Fürst sáng tạo năm 1890 và đặt tên theo Wolfgang Amadeus Mozart, được làm từ bột bánh hạnh nhân và bọc bằng nougat.
  • Salzburger Nockerln là món ăn ngọt tráng miệng (ăn nóng) được làm chủ yếu từ lòng đỏ trứng với đường (đánh thành kem) và bánh gnocchi.
  • Bosna là một loại thức ăn nhanh tương tự như Hot Dog.
  • Kasnockn là một biến cải của mì Spätzle

Môi trường và sinh thái[sửa | sửa mã nguồn]

Salzburg có 41 di tích tự nhiên và 39 cảnh quang được bảo vệ, đáng nhắc đến là: Đại lộ Hellbrunn đặc biệt là với quần thể cây chung quanh, khu đất Kopfweiden am Almkanal với quần thể cây đặc hữu, các khu rừng tự nhiên được bảo tồn trong khu phố Rainberg, Gaisberg, khu rừng ven sông Itzlinger Au, các đồi núi Kapuzinerberg, Rainberg (Salzburg).

Cơ sở hạ tầng[sửa | sửa mã nguồn]

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Cảng hàng không Salzburg

Cảng hàng không Salzburg (Salzburg Airport W. A. Mozart) của thành phố là cảng hàng không quan trọng thứ nhì của Áo với 1,42 triệu hành khách hằng năm. Số lượng khách tăng nhanh nhờ du lịch mùa đông trong vùng.

Salzburg cũng là một nút giao thông đường sắt quan trọng trong và ngoài nước. Nhà ga chính Salzburg là một trong các nhà ga có lượng khách nhiều nhất Áo. Từ đây có thể đi đến thủ đô liên bang Wien, đi về hướng nam (Villach, Graz, Slovenia, Ý) hay đi đến München (Đức). Ngoài ra nhiều chuyến tàu của Công ty đường sắt Đức (Deutsche Bahn) cũng dừng tại Salzburg như tuyến InterCity Frankfurt-Salzburg và nhiều tuyến khác của Eurocity.

Các tuyến đường cao tốc A1 (Wien-Salzburg), A8 (München-Salzburg) và A10 (Salzburg-Villach) tạo thành một vòng cung quanh thành phố.

Mạng lưới đường sắt của S-Bahn Salzburg là mạng lưới giao thông công cộng chính trong vùng Salzburg, ngày càng phát triển trở thành phương tiện giao thông nội thành. Thêm vào đó là mạng lưới xe buýt địa phương được xây dựng tốt, nối kết thành phố với cái vùng phụ cận

Mạng lưới xe buýt nội thành do công ty StadtBus Salzburg vận hành là một trong các mạng lưới xe buýt lớn nhất châu Âu. Bổ sung vào mạng lưới xe buýt là các tuyến buýt của công ty Albus Salzburg. Mạng lưới được xây dựng chủ yếu theo hình sao, vì thế mà vẫn còn thiếu một vài tuyến kết nối ngang nhưng hiện nay vẫn được liên tục mở rộng.

Tất cả các phương tiện giao thông công cộng nội thành được kết hợp trong Hiệp hội Giao thông Salzburg (Salzburger Verkehrsbund), có cùng chung một giá và được phối hợp với nhau.

Ở rìa thành phố là các khu vực Park and Ride dành cho du khách đến Salzburg bằng ô tô. Từ đấy có thể dễ dàng đi vào trung tâm thành phố bằng các phương tiện giao thông công cộng.

Xe đạp đóng một vai trò quan trọng trong Salzburg. Tỷ lệ xe đạp chiếm hơn 20% trong giao thông. Từ năm 1991 hệ thống hành chính của thành phố có riêng một ban chuyên về điều phối giao thông xe đạp. Hệ thống mướn xe đạp của Citybike Salzburg hiện đang được xây dựng và mở rộng, tạo khả năng đi lại một cách rẻ tiền trong thành phố nhờ vào hệ thống đường dành riêng cho xe đạp tương đối tốt. Sau khi đăng ký qua Internet hay trực tiếp tại các terminal có thể mướn xe đạp bằng thẻ tín dụng Maestro. Không phải trả tiền cho giờ đầu tiên.

Điện, nước và nước thải[sửa | sửa mã nguồn]

Công ty cổ phần Salzburg (Salzburg AG) chịu trách nhiệm cung cấp điệnnước cho thành phố Salzburg. Công ty Salzburg dùng chủ yếu là từ nguồn nước ngầm, cung cấp hằng năm khoảng 12 tỉ lít nước sạch cho thành phố.

Nước thải được xử lý từ năm 1987 bởi nhà máy Siggerwisen được thiết kế có công suất đủ xử lý cho 600.000 người và ngoài vùng Salzburg còn xử lý nước thải của thị trấn Ainring thuộc Đức.

Đào tạo và nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

Đại học[sửa | sửa mã nguồn]

Tòa nhà của phân khoa Khoa học xã hội, phía trên là Pháo đài Hoehensalzburg

Salzburg có 5 trường đại học, lâu đời nhất là trường Đại học Paris Lodron Salzburg (Paris-Lodron-Universität Salzburg) được thành lập năm 1622. Trường có 4 khoa: Thần học (công giáo), Luật, Khoa học Xã hội - Văn hóa và Khoa học tự nhiên.

Trường âm nhạc Mozarteum được thành lập năm 1841 và từ 1970 là trường Đại học, chủ yếu là các khoa về hòa nhạc nhưng bên cạnh đó cũng có các khoa khác như kịch và đạo diễn.

Trường Đại học Y tư nhân Paracelsus (Paracelsus Medizinische Privatuniversität) được thành lập năm 2003 là trường đại học tư nhân. Tuy vậy 1/3 vốn thành lập là từ phía nhà nước.

Đại học Thực hành Salzburg (Fachhochschule Salzburg) được thành lập năm 1995 có các khoa về kỹ thuật, kinh tế, thiết kế tạo mẫu cũng như nhiều khoa trong lãnh vực y tế và xã hội.

Salzburg Management Business School được thành lập năm 2001 chuyên đào tạo về kinh tế (bằng master).

Học viện[sửa | sửa mã nguồn]

  • Học viện Sư phạm của liên bang tại Salzburg
  • Học viện quốc tế mùa hè về nghệ thuật tạo hình tại Salzburg
  • Học viện Sư phạm-Tôn giáo của địa hạt tổng Giám mục Salzburg
  • Học viện dinh dưỡng Salzburg
  • Học viện thiết kế quảng cáo Salzburg
  • Học viện nghiên cứu về Mozart
  • Học viện hộ sinh
  • Học viện về kỹ thuật y khoa
  • Học viện về kỹ thuật phóng xạ
  • Học viện về điều trị tâm lý
  • Học viện truyền thông đại chúng Áo về đào tạo nhà báo

Viện nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Viện nghiên cứu Sư phạm Liên bang
  • Viện nghiên cứu Tôn giáo-Sư phạm của Đại hạt tổng giám nục Salzburg
  • Viện nghiên cứu đa ngành về du lịch
  • Viện nghiên cứu châu Phi-châu Á Salzburg
  • Salzburg Research
  • Salzburg Seminar
  • Viện nghiên cứu tim châu Âu

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Salzburg và vùng Flachgau phụ cận là một nơi đầu tư có nhiều thu hút cho các doanh nghiệp lớn hay nhỏ và là đầu tàu kinh tế cho cả tiểu bang. Tăng trưởng kinh tế liên tục của Salzburg đứng thứ nhì, chỉ sau thủ đô Wien. Các doanh nghiệp của thành phố (60%) và của vùng Flachgau (30%) chiếm tổng cộng 90% doanh số của toàn tiểu bang trong năm 2005.

Doanh nghiệp lớn[sửa | sửa mã nguồn]

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Áo (Statistik Austria), vào ngày 15 tháng 5 năm 2001 thành phố có 10.210 cơ sở với tổng cộng 100.055 lao động. Chủ lao động tư nhân lớn nhất lớn nhất là Spar (Áo) với 16.000 nhân viên (tính riêng cho tiểu bang với các doanh nghiệp có trụ sở chính trong thành phố Salzburg). Sau đấy là Công ty TNHH Porsche Holding với 14.670 nhân viên.

Truyền thông đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Studio tiểu bang của đài truyền hình quốc gia Áo ORF nằm trong khu phố Nonntal và cũng là nơi sản xuất chương trình cho Radio Salzburg. Đài truyền hình tư nhân Salzburg TV phát song từ năm 1995.

Báo chí:

Đài phát thanh:

Thành phố kết nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Heinz Dopsch, Robert Hoffmann: Geschichte der Stadt Salzburg (Lịch sử thành phố Salzburg), Pustet Salzburg 1996.
  • Heinz Dopsch: Kleine Geschichte Salzburgs – Stadt und Land (Sơ lược lịch sử Salzburg - Thành phố và vùng phụ cận), Pustet 2001.
  • Robert Hoffmann: Mythos Salzburg. Bilder einer Stadt (Thần thoại Salzburg. Hình ảnh của một thành phố), Salzburg, Pustet München 2002.
  • Kurt Kaindl, Roland Floimair: Hundert Jahre Film, 1895-1995: Salzburger Film- und Fotopioniere (100 phim ảnh, 1895-1995: Các nhà nhiếp ảnh và làm phim tiên phong của Salzburg), Amt der Salzburger Landesregierung, vertreten durch das Landespressebüro, Salzburg 1994.
  • Fritz Koller, Hermann Rumschöttel: Bayern und Salzburg im 19. und 20. Jahrhundert, vom Salzachkreis zur EUregio (Bayern và Salzburg trong thế kỷ 19 và 20, từ huyện Salzach đến vùng Euro), Samson 2006. ISBN 3-921635-98-5
  • Herbert Rosendorfer: Salzburg für Anfänger (Salzburg cho người mới), nymphenburger 2003.
  • Christian Strasser: The Sound of Klein-Hollywood: Filmproduktion in Salzburg, Salzburg im Film: mit einem Filmlexikon (Âm thanh của Hollywood nhỏ: Sản xuất phim tại Salzburg, Salzburg trong phim: một từ điển bách khoa nhỏ). Österreichischer Kunst- und Kulturverlag Wien 1993. ISBN 3-85437-047-4

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]