Sebastian Kurz

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sebastian Kurz
220px
Chức vụ
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Áo
Nhiệm kỳ 16 tháng 12 năm 2013 – 
Tiền nhiệm Michael Spindelegger
Quốc vụ khanh Hội nhập
Nhiệm kỳ 21 tháng 4 năm 2011 – 16 tháng 12 năm 2013
Tiền nhiệm thiết lập chức vụ
Kế nhiệm sáp nhập vào Bộ Ngoại giao
Thông tin chung
Đảng Đảng Nhân dân Áo
Sinh 27 tháng 8, 1986 (28 tuổi)
Quận Meidling, Viên, Áo
Nơi ở Viên, Áo
Alma mater Đại học Viên

Sebastian Kurz (sinh ngày 27 tháng 8 năm 1986) là một chính trị gia người Áo, đảng viên Đảng Nhân dân Áo (ÖVP). Ông từng giữ chức vụ Quốc vụ khanh Hội nhập của Bộ Nội vụ Liên bang Áo. Ngày 12 tháng 12 năm 2013, ông được bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Áo. Ngày 16 tháng 12 năm 2013, Sebastian Kurz chính thức trở thành Ngoại trưởng trẻ tuổi nhất trong lịch sử nền Đệ nhị cộng hòa của Áo và là vị ngoại trưởng trẻ nhất Liên minh châu Âu.[1][2]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sebastian Kurz là đoàn viên Đoàn Thanh thiếu niên thuộc Đảng Nhân dân Áo từ năm 2003.[3] Năm 2009, ông được bầu làm Chủ tịch đoàn với 99% số phiếu tán thành và tiếp tục giữ cương vị này với 100% phiếu tán thành vào năm 2012.[4] Cũng từ năm 2009, ông làm Phó Chủ tịch Đảng nhân dân ÁoViên. Từ năm 2010 đến năm 2011, ông là thành viên Hội đồng Thành phố Viên.

Tháng 4 năm 2011, trong thời gian diễn ra cuộc cải tổ nội các thì Kurz được chỉ định làm Quốc vụ khanh Hội nhập (thuộc Bộ Nội vụ Liên bang Áo); sự kiện này khơi mào một số chỉ trích.[5][6] Tuy nhiên một năm sau thì truyền thông đã dành những đánh giá tích cực hơn cho ông.[7][8] Trong cuộc bầu cử Quốc hội Áo 2013, ông giành được nhiều phiếu trực tiếp nhất từ cử tri so với các chính trị gia khác.[1] Từ 16 tháng 12 năm 2013, ông là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Áo, trong đó phụ trách thêm mảng hội nhập xã hội theo yêu cầu của ông.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Sebastian Kurz có mẹ là giáo viên, còn cha là kĩ sư.[9] Ông sinh ra và hiện vẫn sinh sống tại quận Meidling, thành phố Viên.[10] Năm 2004, ông tốt nghiệp trung học. Bản thân ông từng phát biểu rằng mối quan tâm của ông là vấn đề hội nhập xã hội của dân nhập cư. Giai đoạn 2004-2005, ông thực hiện nghĩa vụ quân sự trong quân đội Áo. Sau đó, ông ghi danh khoa Luật của Đại học Viên,[11] đến học kỳ thứ 13 (năm 2011) thì ông trở thành Quốc vụ khanh Hội nhập.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Michael Shields (17 tháng 12 năm 2013). “Kurz, 27, puts fresh face on Austrian foreign policy”. Reuters. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2013. “But the appointment of the youngest Austrian minister in the history of the second republic, established after World War II, drew opposition fire.” 
  2. ^ “Austria swears in EU's youngest foreign minister Sebastian Kurz”. BBC News. 16 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2013. “Europe's youngest foreign minister has taken office, after Austria swore in its new coalition government.” 
  3. ^ “JVP”. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2011. 
  4. ^ “OTS0063 vom 14. April 2012”. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2012. 
  5. ^ Oliver Pink (22 tháng 4 năm 2011). “Gerechtigkeit für Sebastian Kurz”. Die Presse. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2011. 
  6. ^ Peter Michael Linges (16 tháng 7 năm 2011). “Kurz kann´s”. Profil. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2011. 
  7. ^ Oliver Pink (6 tháng 4 năm 2012). “Der unterschätzte Staatssekretär”. Die Presse. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2012. 
  8. ^ Gerald John, Peter Mayer (4 tháng 4 năm 2012). “Vom Superpraktikanten zum Tempomacher”. Der Standard. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2012. 
  9. ^ Sebastian Kurz: Prinz Gutgelaunt, hồ sơ ngày 13 tháng 12 năm 2013
  10. ^ Oliver Pink; Thomas Prior (23 tháng 4 năm 2011). “Sebastian Kurz: „Goldene Löffel hatte ich nie im Mund"”. Die Presse. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2011. “Ich bin ein Meidlinger, kein Hietzinger. Ich bin im Zwölften aufgewachsen und in öffentliche Schulen gegangen.” 
  11. ^ “Lebenslauf Sebastian Kurz”. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]