Seo In Guk

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Triều Tiên; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Seo.
Seo In-guk
Seo In-guk from acrofan.jpg
Seo In-guk (2011)
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh 서인국
Nghệ danh Seo In-guk
Sinh 23 tháng 10, 1987 (27 tuổi)
Nguyên quán Ulsan, South Korea
Nghề nghiệp Ca sĩ/Diễn viên/Người mẫu
Thể loại K-pop, J-pop, R&B, Ballad, Dance
Năm 2009 đến nay
Hãng đĩa Jellyfish Entertainment (South Korea)
Irving Entertainment/Nippon Crown (Japan)
Website

Official Korean website
Official Japanese website


Korean name
Hangul 서인국
Hanja (Hán tự)
Romaja quốc ngữ Seo In-guk
McCune-Reischauer Sŏ In'guk

Seo In-guk (hangul:서인국) (sinh ngày 23 tháng 10 năm 1987) là một ca sĩ kiêm diễn viên người Hàn Quốc. [tham khảo]

Tháng 10 năm 2009, đánh bật hơn 720.000 thí sinh tham gia, Seo In Guk đã trở thành quán quân của cuộc thi Superstar K lần thứ nhất của Hàn Quốc (tương tự cuộc thi American Idol).

Tháng 3 năm 2012, Seo In Guk đá chéo sân làm diễn viên với vai diễn debut Kim Chang Mo trong bộ phim tâm lý lãng mạn Cơn mưa tình yêu (Love Rain) của đài KBS.

Trong cùng năm, vào cuối tháng 7, anh tiếp tục đảm nhận vai nam chính Yoon Yoon-jae bộ phim truyền hình ăn khách Lời hồi đáp (Reply 1997). Bộ phim đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong sự nghiệp của Seo In Guk. Anh nhanh chóng nhận được nhiều tình cảm từ phía người hâm mộ cũng như gặt hái được nhiều thành công từ vai diễn này.

Bước sang năm 2013, Seo In-guk tiếp tục phát triển song song sự nghiệp ca hát và diễn xuất, cụ thể qua vai diễn Kang Woo trong phim Mặt trời của chàng Joo (The Master's Sun) của đài SBS.

Xuất thân[sửa | sửa mã nguồn]

• Seo In Guk xuất thân từ một gia đình nghèo ở Ulsan sống nhờ chủ yếu vào việc thu nhặt vật liệu tái chế. [tham khảo][1]

Gia đình gồm 5 thành viên: Seo In Guk, cha, mẹ, một em trai và một em gái (đã lập gia đình).

- Mẹ của anh (sinh 1955) làm công việc lao động chân tay: đi thu gom bìa các tông và chất lên xe đẩy. Sau khủng hoảng tài chính của gia đình, bà phụ giúp gia đình bằng công việc nặng nhọc này, và duy trì đến ngày hôm nay (thay bằng xe tải). Mặc dù Seo In Guk đã thành đạt, nhưng bà dường như không muốn phụ thuộc vào con trai mình. Mặt khác, theo bà, lao động là một cách để rèn luyện sức khỏe. Khi mang thai In Guk, bà đặc biệt thèm ăn gà nướng. Nhưng vì nhà nghèo, không đủ tiền nên hai vợ chồng chỉ mua nửa con gà, và sau đó còn giữ lại xương để hầm súp. Bà là người ít khi nổi giận, và luôn gây ấn tượng với mọi người xung quanh bởi tính cách nhiệt tình, thân thiện và ấm áp. Mamma Mia tập 7 Strong Heart tập 6

- Cha của anh (sinh 1962) là thợ hàn và thường xuyên phải làm việc xa nhà. Vì vậy gia đình Seo In Guk hiếm khi có bữa tối quây quần bên nhau. Ông từng là người phản đối con trai theo đuổi ước mơ làm ca sĩ. Có một khoảng thời gian Seo In Guk và mẹ anh đã nói dối ông về việc anh lên thành phố để tham gia một câu lạc bộ sức khỏe, trong khi sự thật là anh theo học một học viện âm nhạc. Sau này theo lời nam ca sĩ, cha anh chỉ giả vờ không biết, và ông đã âm thầm dõi theo và động viên anh theo đuổi ước mơ. Sau chiến thắng quán quân Super star K của In Guk, ông đã từ chối sử dụng số tiền thưởng mà con trai dành tặng cho mình, ngay cả khi có việc cần tiền, ông đã gọi điện để hỏi mượn In Guk và không quên dành dụm để hoàn trả anh đầy đủ. Strong Heart tập 6 Happy Together tập 291

Thời niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

• In Guk đã nuôi dưỡng ước mơ làm ca sĩ từ khi lên 10 tuổi. Thần tượng – người đã bắt nguồn và khơi gợi niềm đam mê âm nhạc trong anh – là rocker Kim Jung–min. Bằng việc tham gia góp vui văn nghệ trong những buổi họp gia đình và cuộc thi âm nhạc của trường, mặc dù là một cậu bé khá nhút nhát, Seo In Guk đã vượt qua được chính mình và dần khẳng định được niềm đam mê và tài năng âm nhạc. Anh theo học ngành Applied Music tại Đại Học Daebul [tham khảo]. Trong suốt những năm đại học, In Guk tiết lộ rằng anh thậm chí từng không có nổi 10.000 won (8,89 USD) trong ví của mình.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2009: quán quân Superstar K1[sửa | sửa mã nguồn]

• Vì muốn theo đuổi ước mơ, dù bị gia đình phản đối quyết liệt, In Guk vẫn một mình bỏ nhà lên Seoul một mình từ năm 18 tuổi. Trong 3 năm đầu, anh phải luôn năn nỉ để được ở nhờ nhà bạn, liên tục thay đổi chỗ ở và bị mọi người dò xét. Sau đó, với sự giúp đỡ của mẹ, anh cuối cùng đã mua được một ngôi nhà. Đó là một nơi kinh khủng vì có nhiều côn trùng và chuột sinh sống. Dù vậy, In Guk đã tự động viên bản thân và bắt tay vào dọn dẹp để bắt đầu một cuộc sống mới trong "ngôi nhà của riêng mình". Happy Together tập 291

• Sau đại học, In Guk nhiều lần thử giọng ở một số công ty giải trí lớn nhất Hàn Quốc [tham khảo][2]. Anh đã phải niếm trải rất nhiều thử thách và khó khăn để theo đuổi ước mơ, những điều tưởng chừng như không thể vượt qua.

• Tại buổi thử giọng đầu tiên của mình, anh được nói rằng, sẽ tốt đẹp hơn nếu anh quay trở lại đây sau khi giảm bớt trọng lượng cơ thể (khoảng 86 kg). Sau khi nghe vậy, In Guk đã tự gây nên cho mình một nỗi ám ảnh về trọng lượng và mắc phải chứng "ăn vô độ tâm thần". Không bỏ cuộc, anh đã vật lộn với căn bệnh bằng cách tự móc họng để nôn mửa ra thức ăn tránh bị tăng cân làm dây thanh quản bị tổn thương nghiêm trọng.[3][4]. Sau khi giảm trọng lượng, anh quay trở lại JYP Entertainment và thực hiện một buổi thử giọng nữa. Nhưng lần này anh lại được nhận xét là:"Bạn đã làm tốt trong việc giảm cân nhưng có vẻ bạn đã không nỗ lực luyện tập ca hát". Đó là do hệ quả của việc tổn thương dây thanh quản, và dù đã cố gắng làm hết khả năng của mình, cuối cùng In Guk đành phải ra về tay trắng.[5]

• Mặc dù gặp nhiều thất bại, Seo In Guk vẫn không bỏ cuộc và quyết tâm tiếp tục thử thách bản thân. Chính nhờ cá tính gan lì và mạnh mẽ của mình, cuối cùng, tháng 10 năm 2009, đánh bật hơn 720.000 thí sinh tham gia, anh đã trở thành quán quân của cuộc thi Superstar K lần thứ nhất của Hàn Quốc. [tham khảo]

• Cùng với số tiền chiến thắng Superstar K1, nam ca sĩ từng mong muốn được phụ giúp cha mẹ bằng cách mở một nhà hàng súp kim chi để họ quản lý. Strong Heart tập 6

• Với chiến thắng vinh quang này, Seo In-guk được nhắc đến như là một "ngôi sao chớp nhoáng"."[6][7] Trong các buổi phỏng vấn sau đó, nam ca sĩ đã chia sẻ: "Có vẻ như mọi người chỉ biết đến tôi từ sau giây phút tôi được đăng quang Superstar K, tuy vậy, họ không biết rằng quá trình tập luyện đằng sau sân khấu mới chính là nền tảng giúp tôi giành được ngôi vị này". Thật vậy, trước khi tham gia cuộc thi, nam ca sĩ đã giành rất nhiều thời gian và công sức để rèn luyện bản thân mình, và ngôi vị quán quân là thành quả mà anh xứng đáng nhận được. Đó là cả một quá trình bền bỉ lâu dài, chứ không chỉ là "chớp nhoáng". In Guk mong tên tuổi của anh không đơn thuần chỉ gắn liền với danh hiệu Super star K hay bất cứ thứ gì khác, anh muốn được công nhận như một người hết mình, chăm chỉ và sống vì đam mê.[8]

• Ngoài ra, không những giành được giải thưởng trị giá 100 triệu won (tương đương 1,7 tỉ đồng Việt Nam) mà Seo In Guk còn được "hit man" (người chuyên tạo các ca khúc đỉnh) Bang Shin Huyk "tặng" cho "Calling you" làm ca khúc chủ đạo trong album ra mắt của anh vào cuối năm 2009. Profile mp3.zing.vn

• Mặc dù nam ca sĩ phải xoay xở với một lịch trình công việc bận rộn (thu âm, chụp quảng cáo, phỏng vấn, chương trình tạp kĩ)[9], đổi lại album "Calling You" của anh đã nhanh chóng trở thành hit được yêu thích, đem lại cho anh những thành công bước đầu. Cụ thể, cùng với ca khúc chủ đạo "Calling You", 2 ca khúc "Young Love" và "Beautiful Farewell" đã chiếm lĩnh gần như toàn bộ các bảng xếp hạng âm nhạc của Hàn Quốc chỉ trong những ngày đầu ra mắt. Với thành tích ấn tượng đó, anh đã nhận được giải thưởng nam nghệ sĩ mới tại lễ trao giải Cyworld Digital Music Award. Profile mp3.zing.vn

Năm 2012: lấn sân làm diễn viên - đạt nhiều thành công với vai nam chính Yoon Yoon-jae trong Reply 1997[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 2:

• Seo In Guk vào vai Hyun Woo trong vở nhạc kịch hát lại (jukebox musical) Gwanghwamun Love Song: nhân vật phải lòng người yêu của bạn thân nhưng không sao chối bỏ được tình cảm của mình. Ngoài ra anh còn luôn bảo vệ người anh trai ruột dù có phải hy sinh đánh đổi tất cả mọi thứ anh có.[10]

Tháng 3:

• Debut làm diễn viên truyền hình khi đảm nhận một vai phụ trong bộ phim Cơn mưa tình yêu (Love Rain)[11][12] của đài KBS: Kim Chang Mo là một sinh viên luật, chủ quán cà phê âm nhạc trong thập niên 70. Nhân vật này là một người lãng mạn, cực kỳ hâm mộ guitar và âm nhạc. Seo In Guk thậm chí phải tăng cân để vào vai một nhân vật lạc quan nhưng lười biếng này.

• Kí hợp đồng với công ty giải trí Nhật Bản Irving Entertainment[13][14][15] (2012) nhằm quảng bá tên tuổi ra thị trường nước ngoài. [tham khảo]

Tháng 7:

• Đảm nhận vai nam chính trong bộ phim truyền hình ăn khách Lời hồi đáp (Reply 1997) của đài TvN. Thuộc thể loại hài kịch tình huống, Reply 1997 lấy bối cảnh thập niên 90, thời hoàng kim của nhóm nhạc đình đám H.O.T. Phim kể về một fan cuồng nhóm H.O.T là Si Won (Apink Jung Eun Ji thủ vai), cô luôn mơ được kết hôn với thành viên của nhóm nhạc này nên thực hiện một kế hoạch chi tiết để được gặp thần tượng. Trong khi đó, Yoon Yoon-jea (vai của Seo In Guk) lại là người rất thích Si Won - cô bạn thân nối khố của mình. Bộ phim đã nhận được nhiều phản hồi rất tích cực từ phía người xem cũng như từ các nhà phê bình. [tham khảo][16][17][18][19][20][21]

Tháng 9:

• Vào vai một gã lăng nhăng chính hiệu trong Rascal Sons - dự án drama cuối tuần của đài MBC. Trong phim, nam ca sĩ đóng vai Yoo Seung Gi - con trai út trong 1 gia đình gồm 3 người con. Mặc dù đã kết hôn từ rất sớm và thậm chí có một đứa nhóc kháu khỉnh song anh chàng vẫn liên tục quyến rũ những người phụ nữ khác. Thói trăng hoa của Seung Gi đã khiến vợ anh - Mi Rim (Yoon Se In) - đau khổ không ít lần. In Guk cho biết lý do lựa chọn một bộ phim truyền hình 50 tập là vì muốn học hỏi nhiều hơn từ các thầy giáo và những tiền bối dày dặn kinh nghiệm diễn xuất. [tham khảo][22][23][24][25][26]

Năm 2013: ra mắt album mới: "With Laughter or With Tears" và tiếp tục phát triển sự nghiệp diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 1:

• Kí hợp đồng làm người mẫu cho hãng thời trang thể thao Isenberg. Hợp tác với nhóm nhạc nữ Sistar trong bộ sưu tập xuân hè.

Tháng 3:

• Quay trở lại ca hát khi cho ra mắt Single " I Can't Live Because of you". Bài hát nhận được nhiều sự quan tâm từ phía người hâm mộ và nhanh chóng leo lên top các bảng xếp hạng âm nhạc.

• Tham gia làm khách mời trong chương trình tạp kĩ "I Live Alone" [27] của đài MBC. Anh đồng thời nhận lời tham gia hai dự án phim điện ảnh là Police FamilyNo Breathing. [tham khảo]

- Police Family[28] là một câu chuyện lãng mạn và hài hước xoay quanh việc một cô gái sinh ra trong gia đình cảnh sát gặp gỡ và kết hôn với con trai của một gia đình tội phạm (vai của Seo In Guk).

- No Breathing[29], In Guk lần đầu tiên thử sức trong thể loại phim điện ảnh. Anh đảm nhận vai Won Il một tài năng bẩm sinh nhưng lại luôn né tránh việc bơi lội, cho đến một ngày anh ấy quyết định quay trở lại với môn thể thao này.

Tháng 4:

• Phát hành album mới tựa đề "With Laughter or With Tears". Đây là lần đầu tiên nam ca sĩ thử sức với thể loại nhạc trữ tình ballad. Với sự tham gia diễn xuất của nữ diễn viên kiêm đạo diễn đa tài Goo Hye Sun cùng những giai điệu nhẹ nhàng sâu lắng, bài hát miêu tả tâm trạng đau khổ và buồn phiền của một người đàn ông sau khi chia tay với người yêu [tham khảo][30][31][32]. Không dừng lại ở đó, Goo Hye Sun còn chủ động góp thêm một sáng tác của mình vào album mới nhất của nam ca sĩ. Were we happy?[33][34] cũng là một bản ballad buồn cho thấy những tâm tư tiếc nuối sau khi đôi lứa tan vỡ.

• Debut tại Nhật Bản với album Fly Away[35][36]. Nội dung bài hát phản ánh rất rõ những tâm tư phiền muộn của người đàn ông sau khi để người phụ nữ của mình ra đi. Bài hát có một ý nghĩa sâu sắc và giai điệu da diết khiến người nghe không khỏi xúc động.

Tháng 5:

• Được cử làm đại sứ danh dự cho cục cảnh sát Ulsan (Korea). Thời gian hoạt động trong 2 năm với chiến dịch nhằm "xóa bỏ 4 tệ nạn xã hội".

• Tham gia thử thách Midnight Challenge Trekking của hãng thời trang Isenberg.

• Hợp tác với Sistar làm người mẫu độc quyền của thương hiệu thời trang thể thao Isenberg trong bộ sưu tập thu đông 2013.

Tháng 6:

• Tham gia drama của đài SBS mang tựa Mặt trời của chàng Joo (The Master's Sun), hợp tác với hai ngôi sao nổi tiếng So Ji Sub và Gong Hyo Jin. [tham khảo]

- Thuộc thể loại mới lạ: hài kịch lãng mạn kết hợp với yếu tố kinh dị, bộ phim được chắp bút bởi hai nhà biên kịch danh tiếng - chị em nhà Hong. Trong phim, Seo In Guk sẽ vào vai Kang Woo, đội trưởng đội an ninh của một trung tâm thương mại. Kang Woo là một nhân vật có lý lịch đặc biệt. Xuất thân là một quân nhân, sau khi xuất ngũ đã chọn công việc làm bảo vệ. Là một con người hiền lành và có tinh thần trách nhiệm cao, Kang Woo luôn cố gắng hết sức để hoàn thành nhiệm vụ được giao.[37][38]

- Sở hữu nhiều yếu tố hoàn hảo (sự phối hợp ăn ý của dàn diễn viên, kịch bản phong phú với những tình tiết khơi gợi sự tò mò, đạo diễn tài năng và nhiệt huyết dẫn dắt….), The Master's Sun đã chiếm lĩnh vị trí quán quân của bảng xếp hạng truyền hình khung giờ vàng ngày thứ 4 - 5 trong năm tuần liên tiếp sau khi ra mắt.

Tháng 7:

• Tổ chức buổi họp fan đầu tiên ~ HELLO! ~ tại Nhật. Sự kiện thu hút nhiều mối quan tâm của giới truyền thông.

Tháng 10:

• Ra mắt 2nd Japanese Single "We Can Dance Tonight".

Năm 2014[sửa | sửa mã nguồn]

• Làm đại sứ danh dự (cùng với Apink Jung Eun-ji) cho "Hội nghị toàn quyền Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU)".

Diễn xuất [tham khảo][sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Vai diễn Nhà đài
2012 Love Rain Kim Chang-mo (1970s)
Kim Jeon-seol (2012)
KBS2
Reply 1997 Yoon Yoon-jae tvN
The Rascal Sons Yoo Seung-gi MBC
2013 The Master's Sun Kang Woo SBS

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Vai diễn
2013 Police Family
No Breathing Won-il

Sân khấu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Vở kịch Vai diễn
2012 Gwanghwamun Love Song Hyun-woo

Đóng MV[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Bài hát Nghệ sĩ
2012 Please Don't K.Will
2013 Pick Up the Phone Phone
Would You? Swings feat. Seo In-guk

Âm nhạc [tham khảo][sửa | sửa mã nguồn]

Thông tin Album Danh sách bài hát
부른다 (Calling)
  • EP
  • October 27, 2009
  • Mnet Media
달려와 (Run to Me)
  • Digital single
  • October 30, 2009
  • Mnet Media
Just Beginning
  • EP
  • May 6, 2010
  • Mnet Media
애기야 (Aegiya) Repackaged Album
  • EP
  • August 10, 2010
  • Mnet Media
Take
  • Korean cover version:Take on Me by A-ha
  • Digital single
  • November 22, 2010
  • Label:
Jelly Christmas
  • Digital single
  • December 6, 2010
  • Jellyfish Entertainment
Broken
  • Digital single
  • March 31, 2011
  • Mnet Media
Shake It Up
  • Digital single
  • August 10, 2011
  • Universal Music Group
Jelly Christmas 2011
  • Digital single
  • December 2, 2011[39]
  • Jellyfish Entertainment
Fate (Like a Fool)
Perfect Fit
  • EP
  • April 12, 2012
  • CJ E&M
Love Story - Part 1
  • Digital single, Reply 1997
  • August 28, 2012
  • CJ E&M
Love Story - Part 2
  • Digital single, Reply 1997
  • September 4, 2012[41]
  • CJ E&M
Jelly Christmas 2012 Heart Project
  • Digital single
  • December 6, 2012
  • Jellyfish Entertainment
Y.BIRD from Jellyfish Island with Seo In-guk
  • Digital single
  • February 4, 2013[42]
  • Jellyfish Entertainment
With Laughter or with Tears
  • Digital single
  • April 11, 2013
  • CJ E&M
Fly Away
  • Japanese Single
  • April 24, 2013
  • Nippon Crown
We Can Dance Tonight
  • Japanese Single
  • October 31, 2013
  • Nippon Crown

Giải thưởng [tham khảo][sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Thể loại Đóng góp Kết quả
2009 Cyworld Digital Music Awards Male Newcomer of the Year
Calling
Đoạt giải
2012 5th Korea Drama Awards Best Couple Award with Jung Eun-ji
Reply 1997
Đoạt giải
Best New Actor Đoạt giải
5th Style Icon Awards Top 10 Style Icons with Jung Eun-ji Đoạt giải
1st K-Drama Star Awards Rising Star Award Đoạt giải
Best Couple Award with Jung Eun-ji Đoạt giải
Best OST
"All for You" (with Jung Eun-ji)
Đoạt giải
14th Mnet Asian Music Awards Best OST Đoạt giải
4th Melon Music Awards Best OST Đoạt giải
MBC Drama Awards Best New Actor Rascal Sons Đề cử
KBS Drama Awards Best New Actor Love Rain Đề cử
2013 2nd Gaon Chart K-Pop Awards Song of the Year (September)
"All for You" (with Jung Eun-ji)
Đoạt giải
49th Baeksang Arts Awards Best New TV Actor Reply 1997 Đề cử
2013 DramaFever Awards 2012 Best Kiss of the Year with Jung Eun-ji
Reply 1997
Đoạt giải
Best Couple Not Meant to Be with Hoya Đoạt giải

Sân khấu âm nhạc [tham khảo][sửa | sửa mã nguồn]

Seo In Guk từng lần lượt giành chiến thắng trong các sân khấu âm nhạc Hàn Quốc - M! Countdowm và Music Trangle - được phát sóng trên các kênh truyền hình cáp Mnet và KM. [nguồn tham khảo]

M! Countdown[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày tháng Bài hát
2010 May 20 사랑해 U ("Love U")

Music Triangle[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày tháng Bài hát
2012 September 19[43] "All For You" (with Jung Eun-ji)

Thông tin thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chiều cao: 180 cm (khoảng 5’9’’)
  • Cân nặng: khoảng 68 kg (150 lbs)
  • Nhóm máu: B
  • Cung hoàng đạo: Bọ Cạp (lai Thiên Bình nhiều)
  • Nghệ danh: Seo In-Guk
  • Hangul: 서인국
  • Ngày sinh: October 23, 1987
  • Nguyên quán: Ulsan, South Korea
  • Nghề nghiệp: ca sĩ, diễn viên, người mẫu
  • Trình độ học vấn: học ngành Applied Music tại Đại học Daebul
  • Hãng đĩa:
    ✩ Jellyfish Entertainment (South Korea)
    ✩ Irving Entertainment/Nippon Crown (Japan)
  • Miêu tả tính cách của mình: là người hay pha trò, luôn suy nghĩ lạc quan, là người một khi đã bắt đầu một việc gì thì sẽ quyết tâm làm nó đến cùng, hòa đồng, dễ tính và không thích bị ràng buộc
  • Những bộ phim đã tham gia:
    ✩ 2012: Love Rain, Reply 1997, Rascal Sons.
    ✩ 2013: The Master’s Sun, No Breathing, Police Family
  • Gia đình: bố, mẹ, 1 em trai và 1 em gái (đã lập gia đình).
  • Nickname: vịt Koduck (trong phim hoạt hình Pokemon)
  • Màu sắc yêu thích:
  • Thích: xem phim/shopping lúc rảnh rỗi, uống rượu/bia (mặc dù tửu lượng thấp), đeo phụ kiện (vòng tay, vòng cổ, nhẫn, đồng hồ,….), đi du lịch với bạn bè, soạn nhạc (nhạc buồn/ballad)
  • Ghét: tuyết (kỷ niệm thời niên thiếu)
  • Bộ phim yêu thích: Mật đắng (Bittersweet Life – phim điện ảnh).
  • Nét quyến rũ trên cơ thể: môi và nốt ruồi dưới mắt trái (tự nhận)
  • Nét lôi cuốn ở bản thân: hay cười đùa, tính cách vui vẻ, lạc quan
  • Phong cách âm nhạc: đa dạng, thích nhiều thể loại nhạc
  • Korean Official Website: http://www.seoinguk.co.kr/
  • Japanese Official Website: http://www.seoinguk.jp/
  • Đặc điểm nổi bật:
    ✩ Sở hữu chất giọng truyền cảm
    ✩ Có năng khiếu diễn xuất
    ✩ Được đánh giá là một good kisser (trong Reply 1997)
    ✩ Khuôn mặt góc cạnh đặc trưng với xương quai hàm nhọn và ánh mắt sắc đầy mê hoặc
  • Sở trường: giỏi tự vệ, từng học qua: Hapkido, Wrestling (đấu vật - tiểu học), boxing và Mixed Martial Arts (Võ Tổng hợp của Châu Âu - cấp 2)
  • Sở đoản: dọn dẹp, chơi các môn thể thao bằng bóng
  • Món ăn yêu thích: gà nướng (thích nhất), pizza, hamburger, Jokbal (món chân giò heo hầm kiểu Hàn Quốc, Tangsuyuk (thịt heo xào chua ngọt)
  • Món ăn giảm cân: cơm (gạo lức) chiên ức gà cà ri
  • Thần tượng: rocker Kim Jung–min, Stevie Wonder, Kelly Clarkson, Clay Aiken, Ruben Studdard, Usher, Michael Jackson
  • Bạn trong giới nghệ sĩ (tiêu biểu): (Huh Gak & John Park (cùng tham gia ‘Superstar K’), Baek Chung Kang(người chiến thắng 'Birth of a Great Star'), Park Kyung Lim, Girls' Generation's YoonA (bạn diễn trong 'Love Rain'), A Pink's Eunji & INFINITE's Hoya (bạn diễn trong 'Reply 1997'), VIXX (đàn em chung công ty)
  • Mong muốn:
    ♡ Trở thành 1 trong 10 ca sĩ hàng đầu tại Hàn Quốc
    ♡ Tổ chức một solo concert
    ♡ Ra mắt nhiều hit songs – được fan đón nhận nồng nhiệt
    ♡ Fan thuộc lời và cùng hát với mình trong mọi sân khấu âm nhạc
    ♡ Mang đến niềm vui cho mọi người qua giọng hát của mình
    ♡ Hợp tác với ca sĩ dòng nhạc hip-hop (Verbal Jint)
    ♡ Đóng một bộ phim Nhật Bản và hợp tác với ngôi sao Oguri Shun
    ♡ Đóng những nhân vật đa dạng về tính cách và "khác người": tâm thần, nghịch cảnh, tội phạm, cảnh sát

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chun, In-sung (26 tháng 7 năm 2010). “Superstar K kicks off season two”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  2. ^ Han, Sang-hee (10 tháng 11 năm 2009). “Superstar Winner’s First Step to His Dream”. The Korea Times. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  3. ^ Ho, Stewart (19 tháng 4 năm 2012). “Seo In Guk Reveals His Battle With Bulimia For a Past JYP Audition”. enewsWorld. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  4. ^ Sunwoo, Carla (21 tháng 4 năm 2012). “Seo In-guk reveals eating disorder”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  5. ^ hoathachthao28 (28 tháng 10 năm 2012). “Seo In Guk trên YTN‘s ‘News and Issues – Issue and People‘”. http://killer-smile.com. 
  6. ^ “서인국 "음주운전 마약 안 했는데 지상파 무대 왜 못서?" 심경 고백” [Seo In Kook expresses disappointment on being rejected from SBS and MBC]. TV Report (bằng tiếng Triều Tiên). 31 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2012. 
  7. ^ Chang, Hae-won (6 tháng 4 năm 2011). “Cable stars get networks’ cold shoulder”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  8. ^ “allkpop Radar: Seo In Guk”. allkpop.com. 11 tháng 11 năm 2012. 
  9. ^ Lee, Hyo-won (28 tháng 10 năm 2009). “New Kid on the Block Sweeps Music Charts”. The Korea Times. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  10. ^ “Infinite's Sung Kyu, Woo Hyun, and Seo In Guk debut as musical actors”. Korea.com. 28 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2013. 
  11. ^ Ho, Stewart (13 tháng 3 năm 2012). “Still Cuts of Seo In Guk With Jang Keun Suk for Love Rain. enewsWorld. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  12. ^ Ho, Stewart (23 tháng 4 năm 2012). “Seo In Guk Returns to Love Rain as the Rocker Nephew”. enewsWorld. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  13. ^ Ho, Stewart (23 tháng 7 năm 2012). “Seo In Guk Joins Irving ENT to Prepare for Japan Debut”. enewsWorld. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  14. ^ Sunwoo, Carla (24 tháng 7 năm 2012). “Seo In-guk to make debut in Japan”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  15. ^ Lee, Hye-ji (24 tháng 7 năm 2012). “Seo In-guk signs with Kwone Sang-woo's Japanese agency”. 10Asia. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  16. ^ Park, Hyun-min (31 tháng 7 năm 2012). “Reply 1997: Seo In Guk Brings Romance to the Screen”. enewsWorld. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  17. ^ Hong, Grace Danbi (21 tháng 8 năm 2012). “Seo In Guk Talks about Acting and Scandals with A Pink's Jung Eun Ji”. enewsWorld. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  18. ^ Choi, Eun-hwa (11 tháng 9 năm 2012). “Interview: Seo In Guk Wants Everyone to Tune In to Reply 1997. enewsWorld. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  19. ^ Choi, Eun-hwa (11 tháng 9 năm 2012). “Interview: Seo In Guk Knew He Would Become the Bad Guy after Touching Jung Eun Ji's Breasts”. enewsWorld. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  20. ^ Ho, Stewart (18 tháng 9 năm 2012). “Twitter Roundup: Seo In Guk's Final Episode”. enewsWorld. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  21. ^ Hong, Grace Danbi (20 tháng 9 năm 2012). “Seo In Guk Sheds His Good Boy Image”. enewsWorld. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  22. ^ Ho, Stewart (13 tháng 8 năm 2012). “Seo In Guk Joins Cast of MBC's Upcoming Drama Sons. enewsWorld. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  23. ^ Lee, Tae-ho (14 tháng 8 năm 2012). “Seo In-guk cast in MBC weekend TV series”. 10Asia. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  24. ^ Sunwoo, Carla (15 tháng 8 năm 2012). “Seo In-guk lands another acting role”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  25. ^ Ko, Hong-ju (30 tháng 8 năm 2012). “Seo In Guk is a Married Man?”. enewsWorld. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  26. ^ Ko, Hong-ju (19 tháng 1 năm 2013). “Seo In Guk is Looking for Love”. enewsWorld. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2013. 
  27. ^ Ho, Stewart (29 tháng 1 năm 2013). “Seo In Guk Joins New MBC Variety Pilot Program”. enewsWorld. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2013. 
  28. ^ Ho, Stewart (18 tháng 1 năm 2013). “Seo In Guk to Make His Movie Debut Through Police Family. enewsWorld. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2013. 
  29. ^ An, So-hyoun (18 tháng 4 năm 2013). “Seo In Guk and Lee Jong Seok Cast for Film No Breathing. enewsWorld. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2013. 
  30. ^ Lee, Sun-min (5 tháng 4 năm 2013). “After acting, Seo In-guk sings again”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2013. 
  31. ^ Hong, Grace Danbi (4 tháng 4 năm 2013). “Seo In Guk Slides on Over to Music Again with New Album Release”. enewsWorld. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2013. 
  32. ^ Lee, Eun-ah (9 tháng 4 năm 2013). “Singer Seo In Guk Returns with a New Single Album, With Laughter or with Tears. 10Asia. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2013. 
  33. ^ Jeon, Su-mi (11 tháng 4 năm 2013). “Ku Hye Sun Presents Seo In Guk with a Self-Written Song”. enewsWorld. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2013. 
  34. ^ Hong, Grace Danbi (9 tháng 4 năm 2013). “Seo In Guk Burns Breakfast and Cries in New Teaser”. enewsWorld. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2013. 
  35. ^ Park, Hani (18 tháng 2 năm 2013). “Seo In Guk to Debut in Japan Coming April”. enewsWorld. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2013. 
  36. ^ Park, Hani (23 tháng 2 năm 2013). “Seo In Guk's Japanese Album Jacket Photo Released”. enewsWorld. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2013. 
  37. ^ Jeon, Su-mi (4 tháng 6 năm 2013). “Seo In Guk Cast in Hong Sisters' The Sun of the Lord. enewsWorld. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2013. 
  38. ^ Lee, Eun-ah (4 tháng 6 năm 2013). “Seo In-guk Cast in Kong Hyo-jin, So Ji-sub Drama”. 10Asia. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2013. 
  39. ^ Lee, Nancy (2 tháng 12 năm 2011). “Jellyfish Entertainment Spreads Christmas Cheer in New Music Video”. enewsWorld. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  40. ^ Ho, Stewart (26 tháng 5 năm 2012). Love Rain OST to Include Seo In Guk's First Self-Composed Track”. enewsWorld. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  41. ^ Jeon, Su-mi (4 tháng 9 năm 2012). Reply 1997 Releases Second Duet Between Jung Eun Ji and Seo In Guk”. enewsWorld. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012. 
  42. ^ Hong, Grace Danbi (4 tháng 2 năm 2013). “Seo In Guk Only Wants You in New MV with VerbalJint”. enewsWorld. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2013. 
  43. ^ Lee, Nancy (21 tháng 9 năm 2012). Reply 1997 Song Ranks First on Mnet’s New Music Ranking Program Music Triangle. enewsWorld. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2012. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]