Seto no Hanayome

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Seto no Hanayome
Seto no Hanayome volume 1 cover.jpg
Bìa manga tập 1 ấn bản tiếng Nhật.
瀬戸の花嫁
(Seto no Hanayome)
Thể loại Fantasy, Harem, Parody, Romantic, Comedy
Manga
Seto no Hanayome
Tác giả Kimura Tahiko
Nhà xuất bản Cờ của Nhật Bản Square Enix
Đối tượng độc giả Shōnen
Tạp chí
Phát hành Tháng 9 năm 2002Tháng 12 năm 2010
Số tập 16
TV anime
Đạo diễn Kishi Seiji
Hãng phim Cờ của Nhật Bản Gonzo, Anime International Company
Cấp phép
Kênh TV Tokyo
Phát sóng 1 tháng 4, 200730 tháng 9, 2007
Số tập 26
OVA
Đạo diễn Kishi Seiji
Hãng phim Cờ của Nhật Bản Gonzo, Anime International Company
Phát hành 28 tháng 11, 2008
Độ dài (mỗi tập) 30 phút
Số tập 2
Chủ đề Anime và Manga

Seto no Hanayome (Nhật: 瀬戸の花嫁? tạm dịch: Cô dâu của tôi là một nàng tiên cá) là tựa của loạt manga được viết bởi Kimura Tahiko. Loạt manga này được đăng lần đầu tiên vào năm 2002 trên tạp chí truyện tranh Monthly Gangan WING tại Nhật Bản, xuất bản bởi Square Enix. Nó cũng đã được chuyển thể sang các phương tiện truyền thông khác. Trong năm 2004 các đĩa drama CD của loạt này đã được phát hành bởi Frontier Works. Anime của Seto no Hanayome đã được thực hiện bởi Gonzo và đạo diễn bởi Kishi Seiji đã phát sóng tại Nhật Bản trên kênh TV Tokyo từ ngày 1 tháng 4 đến ngày 30 tháng 9 năm 2007 với 26 tập. Hai tập OVA cũng đã được phát hành sau đó. Nhà phân phối Odex tại Singapore đã tiến hành phân phối phiên bản tiếng Anh với tên Seto No Hana Yome. Nó đã được Funimation Entertainment đăng ký bản quyền tại Bắc Mỹ và bắt đầu phát hành tại thị trường này với tựa đề My Bride is a Mermaid!.

Sơ lược cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình Michishio[sửa | sửa mã nguồn]

Michishio Nagasumi (満潮 永澄, Mãn Triều Vĩnh Trừng)
Lồng tiếng bởi: Mizushima Takahiro (tiếng Nhật), Todd Haberkorn (tiếng Anh)
Nagasumi no Chichi (永澄の父, cha của Nagasumi)
Lồng tiếng bởi: Imaruoka Atsushi (tiếng Nhật), Andy Mullins (tiếng Anh)
Nagasumi no Haha (永澄の母, mẹ của Nagasumi)
Lồng tiếng bởi: Namiki Noriko (tiếng Nhật), Lydia Mackay (tiếng Anh)
Nagasumi no Sobo (永澄の祖母, bà của Nagasumi)
Lồng tiếng bởi: Matsushima Eriko (tiếng Nhật), Juli Erickson (tiếng Anh)

Gia đình Seto[sửa | sửa mã nguồn]

Seto San (瀬戸 燦, Lại Hộ Xán)
Lồng tiếng bởi: Momoi Haruko (tiếng Nhật), Alexis Tipton (tiếng Anh)
Seto Gōzaburō (瀬戸 豪三郎, Lại Hộ Hào Tam Lang)
Lồng tiếng bởi: Miyake Kenta (tiếng Nhật), John Swasey (tiếng Anh)
Seto Ren (瀬戸 蓮, Lại Hộ Liên)
Lồng tiếng bởi: Nabei Makiko (tiếng Nhật), Stephanie Young (tiếng Anh)

Những người trong băng Seto[sửa | sửa mã nguồn]

Masa (政, Chính)
Lồng tiếng bởi: Murase Katsuki (tiếng Nhật), Christopher Sabat (tiếng Anh)
Maki (巻, Quyển)
Lồng tiếng bởi: Kuwatani Natsuko (tiếng Nhật), Monica Rial (tiếng Anh)
Shāku Fujishiro (シャーク藤代)
Lồng tiếng bởi: Koyasu Takehito (tiếng Nhật), Bryan Massey (tiếng Anh)
Okutopasu Nakajima (オクトパス中島)
Lồng tiếng bởi: Yabe Masashi (tiếng Nhật), Chris Cason (tiếng Anh)

Gia đình Edomae[sửa | sửa mã nguồn]

Edomae Runa (江戸前 留奈, Giang Hộ Tiền Lưu Nại)
Lồng tiếng bởi: Sakura Nogawa (tiếng Nhật), Cherami Leigh (tiếng Anh)
Runa-Papa (ルナパパ)
Lồng tiếng bởi: Genda Tesshō (tiếng Nhật), J. Michael Tatum (tiếng Anh)
Sagami Amano (相模 天王, Tương Mô Thiên Vương)

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

Zenigata Mawar (銭形 巡, Tiền Hình Tuần)
Lồng tiếng bởi: Morinaga Rika (tiếng Nhật), Caitlin Glass (tiếng Anh)
Sarutobi Hideyoshi (猿飛 秀吉, Viên Phi Tú Cát)
Lồng tiếng bởi: Yabe Masashi (tiếng Nhật), Anthony Bowling (tiếng Anh)
Iinchō (委員長, uỷ viên trường)
Lồng tiếng bởi: Rikimaru Noriko (tiếng Nhật), Kate Bristol (tiếng Anh)
Mikawa Kai (三河 海, Tam Hà Hải)
Lồng tiếng bởi: Ono Daisuke (tiếng Nhật), Eric Vale (tiếng Anh)
Shiranui Akeno Myōjō (不知火 明乃 明星)
Lồng tiếng bởi: Kitamura Eri (tiếng Nhật), Trina Nishimura (tiếng Anh)
Sarutobi Satori (猿飛 悟, Viên Phi Ngộ)
Lồng tiếng bởi: Kaneda Tomoko
Sātan (サーたん)
Lồng tiếng bởi: Tsunematsu Ayumi
Suruga Yuhiteru (駿河 由比輝, Tuấn Hà Do Bỉ Huy)
Fuki (蕗)
Ohōtsuku Maruko (緒呆突 丸子, Tự Ngộc Đột Hoàn Tử)

Phương tiện truyền thông[sửa | sửa mã nguồn]

Manga[sửa | sửa mã nguồn]

Loạt manga Seto no Hanayome được đăng thường kỳ trên tạp chí truyện tranh Monthly Gangan WING từ năm 2002 do Square Enix phát hành. Vào tháng 5 năm 2009, Seto no Hanayome đã ngừng đăng trên Monthly Gangan WING và chuyển sang đăng trên Monthly Gangan Joker, một người anh em khác của nó. Các chương sau đó được tập hợp lại thành 16 tankōbon với tập cuối phát hành vào tháng 12 năm 2010.

Anime[sửa | sửa mã nguồn]

Áp phích quảng bá anime Seto no Hanayome

Bộ anime Seto no Hanayome do Kishi Seiji làm đạo diễn, sản xuất bởi GonzoAnime International Company, đã được chiếu trên kênh TV Tokyo tại Nhật Bản từ ngày 1 tháng 4 đến ngày 30 tháng 9 năm 2007 với tổng cộng 26 tập. Tập 17 của bô anime dự định phát sóng trên một mạng truyền hình cáp của Nhật Bản là Anime Theater X nhưng đã bị hủy vì lý do vi phạm bản quyền. Một số nhân vật xuất hiện trong tập đó được cho là rất giống với các nhân vật trong các bộ anime khác[1].

Anime này có ba bài hát chủ đề chính: một để mở đầu và hai để kết thúc. Ca khúc mở đầu mang tên Romantic Summer được trình bày bởi Sun (Momoi Haruko) và Lunar (Nogawa Sakura); nó được sáng tác, sửa chữa và phối nhạc bởi Momoi Haruko. Trong phần phim mở đầu, các nhân vật sẽ lần lượt xuất hiện theo từng tập mà họ bắt đầu có sự hiện diện. Ca khúc kết thúc mang tên Asu e no Hikari (Nhật: 明日への光?) do Hinoi Asuka thực hiện; nó được sáng tác, sửa chữa và phối nhạc bởi Sasakura Yugo, dùng từ tập 1 đến tập 13 và tập 26. Bài hát kết thúc thứ hai là Dan Dan Dan trình bày bởi Sun (Momoi Haruko) và Lunar (Nogawa Sakura), nó do Matsui Gorō sáng tác và sửa chữa bởi Naruse Shūhei. Trong đoạn phim kết thúc này, các nhân vật cũng lần lượt xuất hiện và được thể hiện theo từng tính cách khác nhau của mỗi người.

Bộ anime này đã được Funimation Entertainment đăng ký bản quyền tại thị trường Bắc Mỹ và phát hành với tên My Bride is a Mermaid!. Madman Entertainment đã đăng ký bản quyền phiên bản tiếng Anh để phát hành tại Úc và New Zealand.

OVA[sửa | sửa mã nguồn]

Hai tập OVA đã được phát hành. Tập đầu có tựa Jin (Nhật: ?) phát hành vào ngày 28 tháng 11, 2008 cùng với bài hát kết thúc là Mirai e Go (Nhật: 未来へGo?), bài hát mở đầu là Zettai Otome (Nhật: 絶対乙女?) đã ra mắt trước đó vào ngày 29 tháng 10, 2008. Tập thứ hai có tựa Gi (Nhật: ?) được phát hành vào ngày 30 tháng 1, 2009 cùng với bài hát kết thúc Kakehashi (Nhật: 梯 -かけはし-?), bài hát mở đầu là Tenshi Ranman Love Power (Nhật: 天使爛漫 Love Power?) cũng đã ra mắt trước đó vào ngày 24 tháng 12, 2008.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Seto no Hanayome 17th Episode Broadcast on AT-X Cancelled” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. 30 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2007. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]