Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band
Album phòng thu của The Beatles
Phát hành 1 tháng 6 năm 1967[1]
Thu âm 6 tháng 12 năm 1966 – 21 tháng 4 năm 1967,
EMI và Regent Sound studios, Luân Đôn
Thể loại Rock, psychedelic rock
Thời lượng 39:42
Hãng đĩa Parlophone
Sản xuất George Martin
Thứ tự album của The Beatles
Revolver
(1966)
Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band
(1967)
The Beatles
(1968)
Thứ tự album của The Beatles tại Mỹ
Revolver
(1966)
Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band
(1967)
Magical Mystery Tour
(1967)

Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band (đôi ghi được gọi tắt là Sgt. Pepper) là album phòng thu thứ 8 của tứ quái huyền thoại The Beatles. Album được phát hành ngày 1 tháng 6 năm 1967 bởi nhà sản xuất George Martin. Sgt. Pepper được coi là một trong những kiệt tác của lịch sử âm nhạc thế giới, một trong những album vĩ đại nhất, bao gồm trong đó những tác phẩm nổi tiếng như ca khúc tiêu đề, "With a Little Help from My Friends", "Lucy in the Sky with Diamonds" và "A Day in the Life".

Quá trình thu âm album mất 129 ngày bắt đầu từ ngày 6 tháng 12 năm 1966. Album này của The Beatles phát triển hoàn thiện những kĩ xảo và ấn tượng từ album thành công trước đó của họ, Revolver. Martin có sử dụng thêm nhiều hiệu ứng từ việc sử dụng dàn nhạc dây cũng như thuê những nghệ sĩ chuyên biệt cho từng nhạc phẩm. Bìa album được thiết kế bởi Peter Blake đặt ban nhạc vào chính giữa những miếng hình cắt dán của những thần tượng của họ.

Sgt. Pepper đứng đầu UK Albums Chart trong vòng 27 tuần và đứng đầu Billboard trong 15 tuần[2]. Album được đề cử tới 7 giải Grammy năm 1968 và giành 4 trong số đó. Năm 2004, tạp chí Rolling Stone xếp Sgt. Pepper ở vị trí số 1 trong danh sách "500 album vĩ đại nhất mọi thời đại"[3]. Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band cũng là một trong những album bán chạy nhất lịch sử với khoảng 32 triệu đĩa đã bán[4].

Ý tưởng[sửa | sửa mã nguồn]

The Beatles thực sự mệt mỏi sau những tour diễn dài và họ quyết định dừng lại vào tháng 8 năm 1966[5]. Sau những căng thẳng ở tour diễn tại Mỹ, đặc biệt là buổi diễn bị hoãn tại Cincinnati[6], cả bốn thành viên – kể cả Paul McCartney, người tỏ ra hào hứng nhất với các chương trình tour – quyết định cần thời gian để nghỉ ngơi[7]. Họ tự cho phép 2 tuần nghỉ, để phục vụ cho những mối quan tâm riêng. George Harrison quay lại Ấn Độ theo lời mời của Ravi Shankar để tu luyện trình độ đàn sitar. Paul McCartney thì cùng với George Martin viết nhạc cho bộ phim The Family War[8]. John Lennon tham gia đóng bộ phim How I Won the War và được mời tới vài cuộc triển lãm, nơi mà anh sau này gặp người vợ tương lai, Yoko Ono[7]. Ringo Starr dành thời gian bên gia đình[7].

Tháng 11, sau chuyến bay cùng bạn gái Jane Asher và nhà quản lý Mal Evans từ Kenya, Paul McCartney đã manh nha những ý tưởng đầu tiên về khái niệm Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band cho The Beatles. Paul nói anh có ý tưởng này khi nhìn thấy chữ S và P (Salt – muối, và Pepper – hạt tiêu) trong một cửa hàng đồ ăn nhanh[5][7]. Tên của album, được tạm dịch là Ban nhạc Những trái tim cô đơn của Trung Sĩ Pepper.

Quá trình sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Sáng tác và thu âm[sửa | sửa mã nguồn]

Áp-phích của Benefit of Mr. Kite!

Cũng giống mọi album khác của The Beatles, Sgt. Pepper được sáng tác chủ yếu bởi Lennon-McCartney. Cả album chỉ có "Within You Without You" là sáng tác của George Harrison. Sgt. Pepper là một album nữa của The Beatles, kể từ Revolver, mà họ hoàn toàn làm việc trong phòng thu.

Quá trình sáng tác và thu âm bắt đầu từ cuối năm 1966. Các thành viên có ý tưởng xây dựng album dựa nhiều về những hồi tưởng và kỉ niệm từ thời nhỏ[9]. "Penny Lane" và "Strawberry Fields Forever" là 2 đĩa đơn đầu tiên ra mắt vào tháng 2 năm 1967 sau khi EMI và Brian Epstein thúc giục George Martin việc phát hành[10][11][12]. Các bài hát này chỉ được phát hành dưới dạng đĩa đơn và LP, sau đó xuất hiện trong album Magical Mystery Tour. Ca khúc "Only a Northern Song" của Harrison cũng được sáng tác vào giai đoạn này song chỉ có trong bản soundtrack của bộ phim Yellow Submarine ra mắt năm 1969.

Ca khúc "Within You Without You" được thu âm ngày 15 tháng 3 năm 1967 với Harrison hát chính, sitar và acoustic guitar, các nhạc cụ còn lại được chơi bởi các nghệ sĩ được mời, còn các Beatle khác không tham gia trực tiếp vào việc thu âm[13].

Ngày 17 tháng 3, McCartney mời nghệ sĩ Mike Leander để phụ trách dàn dây cho bài "She's Leaving Home"[13]. Ca khúc "Being for the Benefit of Mr. Kite!" của Lennon dựa trên chủ yếu nội dung quảng cáo của buổi diễn cùng tên của gánh xiếc Pablo Fanque.

Album sử dụng khá nhiều loại dương cầm đặc biệt. Đó là grand piano trong "A Day in the Life", lowrey organ trong "Lucy in the Sky with Diamonds", harpsichord trong "Fixing the Hole", harmonium trong "Being for the Benefit of Mr. Kite!". Các loại đàn khác như piano điện tử, Hammond organ, glockenspiel và mellotron cũng xuất hiện trong các ca khúc.

Harrison còn sử dụng tambura trong một số bài, như "Lucy in the Sky with Diamonds" và "Getting Better".

Bản hợp âm hoành tráng ở cuối ca khúc "A Day in the Life" là do 3 chiếc grand piano chơi đồng thời giống nhau ở giọng Mi trưởng. Lennon, Starr, McCartney, và Mal Evans đã cùng nhau chỉnh dây đàn, làm bè và chơi đoạn nhạc đó.

Quan điểm âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Với Sgt. Pepper, The Beatles muốn tạo một dấu ấn mới, điều mà họ có được thông qua vài trải nghiệm làm phim và những chuyến lưu diễn, đặc biệt là trong chuyến đi tour tại Mỹ. Paul McCartney muốn tạo ra vài nhân vật tưởng tượng cho mỗi thành viên của ban nhạc và sẽ thu âm với sự kết hợp của các nhân vật tưởng tượng đó. Ban nhạc "tổng hợp" này hứa hẹn sẽ tạo ra sự sáng tạo và tự do trong các sáng tác[5].

Album được mở đầu bằng ca khúc chủ đề, "Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band". Đây là một ca khúc mang tính mở màn, để ban nhạc đi vào ca khúc chính thức đầu tiên ngay sau đó với sự thể hiện của Billy Shears (Ringo Starr) – "With a Little Help from My Friends". Bản kết thúc (reprise) của ca khúc mở màn này xuất hiện ở mặt sau và là ca khúc kết thúc album (trước "A Day in the Life" – ca khúc được coi là bản hùng ca tổng hợp cho toàn bộ ý tưởng album)[3].

Tuy nhiên, ban nhạc đã bỏ gần như ngay lập tức ý tưởng ban đầu sau khi thu 2 bài hát đầu tiên và bản kết thúc. Thủ lĩnh John Lennon nói rằng album cần được sáng tác như mọi album khác[14]. Sgt. Pepper được coi là hình mẫu cơ bản cho khác niệm "quan điểm âm nhạc" cũng như "cấu trúc" trong một album chủ đề.

Ca từ[sửa | sửa mã nguồn]

Theo đuổi psychedelic rock, ca từ của album mang nhiều ý nghĩ tới việc lạm dụng chất kích thích và các loại hình liên quan. Chính vì điều này mà nhiều bài hát bị cấm bởi BBC và bị chỉ trích trong rất nhiều phương tiện khác.

Ca khúc "A Day in the Life", với câu hát nổi tiếng "I'd love to turn you on" ("Anh (phải/nên) yêu để làm em thức tỉnh"), bị BBC cấm phát sóng với lý do "ủng hộ một cách tích cực việc sử dụng chất kích thích (drug-talking)"[15]. Cả John Lennon lẫn Paul McCartney đều khẳng định không hề có chút ý gì liên quan tới ma túy, dù rằng sau này Paul có nói rằng việc viết lời nhắm tới thực tế cấm sử dụng chất kích thích. Một câu hát khác ""Found my way upstairs and had a smoke/And somebody spoke and I went into a dream" ("Thấy mình cần bước lên (cầu thang) và hút/Có ai đó nói và tôi đi vào cơn mơ") khiến nhiều người nghĩ tới dùng cần sa.

Câu hát "Doing the garden, digging the weeds/Who could ask for more?" ("Đi làm vườn, trồng cỏ[gc 1]/Liệu ai còn muốn hơn?") trong "When I'm Sixty-Four" cũng khiến tạo liên tưởng tương tự.

Ca khúc nổi tiếng "Lucy in the Sky with Diamonds" cũng bị cấm phát sóng do BBC lo ngại vì phần điệp khúc viết tắt tạo nên cụm từ LSD[gc 2][17] – một chất kích thích vốn đã bị cấm. John Lennon giải thích bài hát là lời anh gửi gắm tới con trai Julian Lennon[18].

Paul McCartney sau này có nói: ""Lucy in the Sky", hẳn vậy. Có nhiều người thích những liên tưởng về ma túy, nhưng, cũng không có gì khó để đoán ra những ảnh hưởng của chúng trong giai điệu của Beatles. Mọi người đều dùng chất kích thích, theo cách này hay cách khác, và chúng tôi cũng vậy. Nhưng viết nhạc là một công việc quan trọng tới mức không được phép quên nó ở bất kỳ lúc nào."[19]

Bìa đĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Phần bìa album được chỉ đạo nghệ thuật bởi Robert Fraser, thiết kế bởi Peter Blake và vợ anh Jann Haworth, và được chụp bởi Michael Cooper. Đó là hình ảnh của rất nhiều nhân vật nổi tiếng. The Beatles trong bộ trang phục của ban nhạc Sgt. Pepper đứng ở chính giữa bìa đĩa. Trang phục của họ được thiết kế bởi Manuel Cuevas[20].

Trang phục của họ có thể dễ dàng nhận thấy:

  • Huy hiệu MBE của hoàng gia Anh trên áo của Harrison và McCartney. 4 thành viên của The Beatles được trao tước hiệu này vào năm 1965.
  • Quốc huy Vương quốc Anh ở tay áo phải của Lennon.
  • Huy hiệu của cảnh sát tỉnh Ontario, Canada ở tay áo McCarney.

Chiếc trống ở trung tâm album được thiết kế bởi Joe Ephgrave[21].

Có khoảng 70 nhân vật xuất hiện trong bìa album, trong đó có vài nghệ sĩ guru theo đề nghị của Harrison. Có thể dễ dàng tìm thấy Marlene Dietrich, Carl Gustav Jung, W.C. Fields, Diana Dors, James Dean, Bob Dylan, Issy Bonn, Marilyn Monroe, Aldous Huxley, Karlheinz Stockhausen, Sigmund Freud, Aleister Crowley, Edgar Allan Poe, Karl Marx, Oscar Wilde, William S. Burroughs, Marlon Brando, Stan LaurelOliver Hardy, và nghệ sĩ hài Lenny Bruce. Cũng có trong khung hình cả ảnh của thành viên cũ của Beatles, Stuart Sutcliffe. Pete Best, một thành viên cũ khác của Beatles, nói rằng Lennon đã mượn vài chiếc huy hiệu của gia đình thông qua mẹ của anh để làm bìa album. Thậm chí Adolf HitlerChúa Jesus cũng được Lennon đề nghị đưa vào, song lập tức bị từ chối.

Phần bìa album tiêu tốn khoảng 2.868 bảng Anh (tương đương với khoảng 38.823 bảng so với tỉ giá hiện tại), và hiển nhiên đó là kỉ lục vô tiền khoáng hậu tại thời điểm đó. Đây là một trong số những phần bìa album tốn kém nhất lịch sử âm nhạc thế giới[22].

Bìa album Sgt. Pepper giành giải Grammy 1968 cho phần thiết kế bìa xuất sắc nhất. Quá trình dựng hình được giải thích khá ngắn gọn trong đoạn video mở đầu của album, ca khúc "Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band", trích từ album sau này của The Beatles, The Beatles Anthology[23].

Đón nhận của công chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chuyên môn
Nguồn đánh giá
Nguồn Đánh giá
Allmusic 5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svg[24]
Robert Christgau A
Crawdaddy! 5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svg[25]
Pitchfork Media (10/10)[26]
The Telegraph 5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svg[27]
Sputnikmusic 5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svg[28]
Q 5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svg[29]
Rolling Stone 5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svg[30]

Khi ra mắt, Sgt. Pepper không những nổi tiếng mà còn được đánh giá khá tích cực[31]. Album trở thành hiện tượng với số lượng tiêu thụ vô cùng lớn tại châu Âu, Bắc và Nam Mỹ, vài nước châu Phi, Nhật Bản, Úc, thậm chí trong nhiều hàng đĩa "chợ đen" tại Liên Xô[32]. Hầu hết các đánh giá đều được đăng tải ngay tại tháng 6 năm 1967, thời điểm phát hành album và chúng đều rất tích cực. Tờ The Times miêu tả Sgt. Pepper như "một khoảnh khắc đặc biệt của nền văn minh phương Tây" (Kenneth Tynan[33]). Richard Poirier viết "nghe Sgt. Pepper mà nghĩ rằng đó không chỉ là lịch sử của thế kỷ này mà là của cả nền âm nhạc quần chúng"[34].

Richard Goldstein, một cây viết khá nổi tiếng của tờ The New York Times lại không đồng tình với quan điểm trên "Như một sản phẩm cho trẻ con chậm lớn, Sgt. Pepper quá tầm thường. Nó lẫn lộn kèn và đàn harp, harmonica, có cả tiếng động vật, và cả dàn nhạc giao hưởng nữa." rồi thêm "album tạo được nhiều hiệu ứng, mù quáng và nhiều lỗi."[35][36] Goldstein gọi "A Day in the Life" là "một sự nhầm lẫn tai hai đối với cảm xúc âm nhạc với một thảm họa về ca từ""đó sẽ là điểm nhấn quan trọng nhất của sự nghiệp Lennon-McCartney, thậm chí là của lịch sử nhạc Pop."[36] Tuy nhiên sau này, chính Goldstein cũng thay đổi quan điểm, rằng album "tốt hơn tới 80% thứ âm nhạc ngày nay."[35]

Tháng 4 năm 1967, Brian Wilson (vốn có vấn đề về tâm lý) đã thực sự bị xúc động bởi "A Day in the Life" khi Paul chơi tại Los Angeles. Sau đó, Brian bỏ album Smile cùng The Beach Boys và chỉ hoàn thành nó khi quay trở lại ban nhạc vào năm 2003. Van Dyke Parks nói: "Brian có chút vấn đề. Thứ đã làm tan nát trái tim anh ấy chính là Sgt. Pepper."[37]

Trong khoảng thời gian phát hành, Jimi Hendrix có biểu diễn ca khúc mở màn album, với sự tham gia của Harrison và McCartney[38].

Vị trí xếp hạng của Sgt. Pepper là một sự kiện có một không hai. Tại Anh, album xuất hiện ở vị trí số 8, sau đó là số 1 ở tuần tiếp theo và ngự trị tới 23 tuần liên tục. Thực tế, album còn giữ vị trí đó trong vài tuần khác, đó là trong thời gian Giáng sinh. Năm 1992, CD kỉ niệm 25 năm phát hành Sgt. Pepper đạt vị trí cao nhất là thứ 6. Năm 2007, Sgt. Pepper vẫn có được vị trí thứ 47 tại Anh. Tổng cộng, album có tới 201 tuần trong UK Albums Chart, trở thành album lớn thứ hai trong lịch sử âm nhạc Anh sau Greatest Hits của Queen[39][40]. Tại Mỹ, album bán được khoảng 11 triệu bản, đóng góp một phần lớn vào doanh thu 32 triệu bản của album.

Sgt. Pepper giành 4 giải Grammy và là album Rock đầu tiên giành giải Grammy cho Album của năm.

Tôn vinh[sửa | sửa mã nguồn]

Sgt. Pepper được coi là một trong những album nhạc rock xuất sắc nhất[41], trong những bảng xếp hạng của Rolling Stone, Bill Shapiro, Alternative Melbourne, Rod UnderhillVH1. Năm 1987, Rolling Stone xếp hạng Sgt. Pepper là album xuất sắc nhất của 2 thập kỷ 1967-1987[30]. Sgt. Pepper là album xuất sắc nhất mọi thời đại trong chương trình "Music in a Millenium" – một chương trình cộng tác của HMV, Channel 4, The Guardian và Classic FM năm 1997. Năm 1998, độc giả tạp chí Q xếp album ở vị trí số 7, trong khi khán giả của kênh VH1 xếp album ở vị trí thứ 10 vào năm 2003[42]. Năm 2004, Rolling Stone xếp Sgt. Pepper vào vị trí số 1 trong danh sách 500 album của mọi thời đại và vị trí đó vẫn không đổi cho tới tận ngày nay[5].

Năm 2002, Q chỉ xếp album vào vị trí 13 trong danh sách 100 album xuất sắc nhất của nước Anh[43]. Năm 2006, tạp chí Time cũng đưa Sgt. Pepper vào trong danh sách những album xuất sắc nhất mọi thời đại.

Tháng 7 năm 2008, chiếc trống ở bìa album được bán đấu giá với kỉ lục 670.000 € (tương đương với khoảng 879.000 $) bởi nhà đấu giá nổi tiếng Christie's[44].

Các bài hát "With a Little Help from My Friends", "Lucy in the Sky with Diamonds", "Getting Better" và "Good Morning Good Morning" được download miễn phí trong game The Beatles: Rock Band, phát hành trên Xbox 360, WiiPlayStation 3.

Sgt. Pepper là tạo nên vô cùng lượng album hâm mộ. Đáng kể nhất là Sgt. Pepper Knew My Father (1988)[45] do rất nhiều nghệ sĩ cùng tham gia hát lại các ca khúc của album. Todd Rundgren, một người bạn và là đồng nghiệp của Starr, đã tổ chức Sgt. Pepper tour vào năm 2008 với sự tham gia của rất nhiều ngôi sao, như Denny Laine của ban nhạc Wings, á quân American Idol Bo Bice, Lou Gramm của ban nhạc The Foreigner và ca sĩ dành giải Grammy Christopher Cross[46]. Ban nhạc Cheap Trick thậm chí còn phát hành một album hát lại nguyên Sgt. Pepper trong liveshow tại New York với sự tham gia của Geoff Emerick – kĩ thuật viên chính của album năm 1967. Nhóm nhạc Easy Star All-Stars cũng cho ra mắt một album tri ân của Sgt. Pepper, Easy Star's Lonely Hearts Dub Band.

Năm 1978, bộ phim Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band ra mắt để ghi nhớ The Beatles và album huyền thoại, với diễn xuất của The Bee GeesPeter Frampton. Billy Preston vào vai "Trung sĩ Pepper"[47]. Bộ phim sử dụng nhiều tư liệu và các bài hát trong album. Tuy nhiên bộ phim được cho là tẻ nhạt và thiếu tính thẩm mỹ[48].

Danh sách ca khúc[sửa | sửa mã nguồn]

Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band là album đầu tiên của The Beatles mà bản phát hành tại Mỹ và Anh là như nhau.

Toàn bộ nhạc phẩm đều được soạn và sáng tác bởi Lennon-McCartney, sáng tác khác được ghi chú bên cạnh. 

Mặt A
STT Tên bài hát Hát chính Thời lượng
1. "Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band"   McCartney 2:02
2. "With a Little Help from My Friends"   Starr 2:44
3. "Lucy in the Sky with Diamonds"   Lennon 3:28
4. "Getting Better"   McCartney 2:48
5. "Fixing a Hole"   McCartney 2:36
6. "She's Leaving Home"   McCartney và Lennon 3:35
7. "Being for the Benefit of Mr. Kite!"   Lennon 2:37
Mặt B
STT Tên bài hát Hát chính Thời lượng
1. "Within You Without You" (George Harrison) Harrison 5:04
2. "When I'm Sixty-Four"   McCartney 2:37
3. "Lovely Rita"   McCartney 2:42
4. "Good Morning Good Morning"   Lennon 2:41
5. "Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band (Reprise)"   McCartney 1:19
6. "A Day in the Life"   Lennon và McCartney 5:39

Theo Graham Calkin, Mark LewisohnIan MacDonald[21][49][50].

Giải Grammy[sửa | sửa mã nguồn]

Album được đề cử 7 giải Grammy vào năm 1968 và đạt 4 trong số đó, trong đó có giải thưởng quan trọng Album của năm. Đây là album nhạc Rock đầu tiên có được vinh dự này.

Năm Đề cử cho Giải thưởng
1968 Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band Album của năm
1968 Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band Thu âm xuất sắc nhất
1968 Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band Bìa album xuất sắc nhất
1968 Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band Album Pop xuất sắc nhất
Các đề cử
Năm Đề cử cho Giải thưởng
1968 Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band Trình diễn xuất sắc nhất
1968 Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band Trình diễn Song ca hoặc Nhóm xuất sắc nhất
1968 A Day in the Life Nhạc đệm xuất sắc nhất

Có nhiều tranh cãi xung quanh giải thưởng cho Album Pop xuất sắc nhất. Về cơ bản, Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band là một album nhạc Rock. Thực tế, giải Grammy năm 1968 là một giải Grammy gây khá nhiều chỉ trích khi The Beatles không có được giải cho Trình diễn Song ca hoặc Nhóm xuất sắc nhất hay Trình diễn Song ca hoặc Nhóm nhạc Rock xuất sắc nhất. Sau Grammy 1968, giải Grammy cho Album giọng pop xuất sắc nhất, dù vừa mới được lập vào chính năm 1968, liền bị xóa bỏ. Tới tận năm 1995 người ta mới tái lập lại giải thưởng này sau sự bùng nổ của trào lưu Pop trên thế giới.

Lên màn ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 10 tháng 2 năm 1967, sau khi kết thúc "A Day in the Life", 6 chuyên viên quay phim của album dự định làm một bộ phim phát sóng lên truyền hình giới thiệu về quá trình thực hiện Sgt. Pepper, với kịch bản viết bởi Ian Dallas và đạo diễn bởi Keith Green. Tuy nhiên dự án này không hoàn thành[51].

Dự án trên bao gồm tất cả các bài hát, xen lẫn vào đó là các đoạn clip của quá trình làm việc. Vì dự án đã không thể được thực hiện, các clip trên chỉ được biết tới lần đầu tiên trong bộ phim tài liệu Imagine: John Lennon công chiếu năm 1988. Một bản đầy đủ hơn xuất hiện trong The Beatles Anthology sau đó.

Năm 1992, một đoạn phim tư liệu với tên The Making of Sgt. Pepper được chương trình London Weekend Television, với sự xuất hiện của George Martin, Neil Aspinall và 3 thành viên còn sống của The Beatles. Sau đó, đoạn phim này cũng xuất hiện trong chương trình tài liệu của kênh VH1.

Thành phần tham gia sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Mark Lewisohn[52]Alan W. Pollack[53]

The Beatles
  • John Lennon – sáng tác, hát chính, hát bè, lead guitar, acoustic guitar, harmonica, organ, piano, phách, bộ gõ, tay vỗ và hiệu ứng âm thanh.
  • Paul McCartney – sáng tác, hát chính, hát bè, bass, acoustic guitar, phách, bộ gõ, tay vỗ và hiệu ứng âm thanh.
  • George Harrison – sáng tác, lead guitar, hát bè, hát chính trong bài hát "Within You Without You", harmonica, phách, bộ gõ, tay vỗ và hiệu ứng âm thanh.
  • Ringo Starr – trống và bộ gõ, harmonica, hát chính trong "With a Little Help from My Friends".
Nghệ sĩ tham gia
  • Neil Aspinall – tambura và harmonica.
  • Geoff Emerick – thu âm và kĩ thuật âm thanh.
  • Mal Evans – đồng bộ thời gian và bè piano Mi trưởng trong chuỗi hợp âm cuối cùng.
  • George Martin – nhà sản xuất, kĩ thuật âm thanh. Martin là người chỉ huy dàn nhạc chính của album, chơi organ trong "Being for the Benefit of Mr. Kite!" và "With a Little Help from My Friends", harpsichord trong "Fixing a Hole", piano đệm trong "Getting Better" và chơi chính trong "Lovely Rita" và trong chuỗi hợp âm cuối cùng.
  • Các nghệ sĩ được Martin mời
Đó là bộ 4 chơi kèn cor trong "Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band" hướng dẫn và chỉ huy bởi Martin và McCartney: Neill Sanders, James W. Buck, John Burden, Tony Randall. Dàn dây và harp bởi Mike Leander trong "She's Leaving Home". Dàn tabla, sitar, dilruba, violin và cello trong "Within You Without You"; clarinet trong "When I'm Sixty Four"; dàn dây trong "A Day in the Life".

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp hạng năm 1967 Vị trí cao nhất
Australian Albums Chart 1
Norwegian Albums Chart[54] 1
UK Albums Chart[55] 1
US Billboard 200[56] 1
Xếp hạng năm 2009 Vị trí cao nhất
Australian Albums Chart[57] 16
Brazilian Albums Chart[58] 20
Finnish Albums Chart[59] 9
Italian Albums Chart[60] 9
Mexican Albums Chart[61] 13
Norwegian Albums Chart[62] 31
Portuguese Albums Chart[63] 4
Spanish Albums Chart[64] 22
New Zealand Albums Chart[65] 12
UK Albums Chart[66] 5
US Billboard 200[67] 114
Rolling Stone[3] 1

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lewisohn 1988, tr. 114
  2. ^ Danh sách đĩa đơn quán quân Hot 100 năm 1967 (Mỹ)
  3. ^ a ă â (tiếng Anh) “500 Greatest Albums of All Time: Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band - The Beatles”. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2010.  Đã bỏ qua tham số không rõ |site= (trợ giúp)
  4. ^ Where's Adolf? The mystery of Sgt Pepper is solved, "The record, bought by around 32 million people since it was released in 'the summer of love'"
  5. ^ a ă â b Rolling Stone 2010
  6. ^ Barry Miles. The Beatles: a diary: an intimate day by day history. Omnibus Press, 1998. tr. 224. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2011. 
  7. ^ a ă â b Olivier Julien. Sgt. Pepper and the Beatles: it was forty years ago today. Ashgate Publishing, Ltd., 2008. tr. 1. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2011. 
  8. ^ Billboard, Vol. 80, No. 14. Nielsen Business Media, Inc. tr. 38 6 tháng 4 năm 1968. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2011. 
  9. ^ Everett 1999, tr. 99
  10. ^ Everett 1999, tr. 87
  11. ^ Miles 1997
  12. ^ Miles 1998, tr. 231
  13. ^ a ă Barry Miles, Keith Badman. The Beatles Diary: The Beatles years. Omnibus Press, 2001. tr. 259. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2011. 
  14. ^ Sheff 2000, tr. 197
  15. ^ Associated Press 1967
  16. ^ Trú quán qua đêm
  17. ^ Sheff 2000, tr. 182
  18. ^ BBC News 2007
  19. ^ MSNBC 2004
  20. ^ Transcripts.com
  21. ^ a ă Calkin 2001
  22. ^ icons.org.uk 2008
  23. ^ “Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band - Rare Video!”. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |site= (trợ giúp)
  24. ^ Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band trên AllMusic
  25. ^ Gendelman, David. “Blogs:: Crawdaddy:: Paste”. Crawdaddy.wolfgangsvault.com. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2011. 
  26. ^ Plagenhoef, Scott (9 tháng 9 năm 2009). “Album Reviews: The Beatles: Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band”. Pitchfork. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2011. 
  27. ^ The Beatles. “The Beatles - Sgt Pepper’s Lonely Hearts Club Band, review”. Telegraph. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2011. 
  28. ^ “The Beatles - Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band (staff review)”. Sputnikmusic. 8 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2011. 
  29. ^ “The Beatles: Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band. By Charles Shaar Murray: Articles, reviews and interviews from Rock's Backpages”. Rocksbackpages.com. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2011. 
  30. ^ a ă Rolling Stone 1987
  31. ^ Gilliland 1969, show 45, track 2
  32. ^ “Billboard - Google Books”. Books.google.com. 12 tháng 4 năm 1986. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2011. 
  33. ^ MacDonald 2005, tr. 249
  34. ^ Poirier, Richard (1992). The Performing Self: Compositions and Decompositions in the Languages of Contemporary Life. Rutgers University Press. tr. 137. 
  35. ^ a ă Goldstein rethinks about Sgt. Pepper
  36. ^ a ă Goldstein 1967
  37. ^ “Reactions to Sgt Pepper”. http://www.icons.org.uk. 
  38. ^ The Beatles Anthology: Episode 6
  39. ^ Queen head all-time sales chart BBC Retrieved 17 January 2011
  40. ^ “BPI Highest Retail Sales”. British Phonographic Industry. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2011. 
  41. ^ Acclaimed Music 2007
  42. ^ VH1 2007
  43. ^ Rocklist.net - Q Magazine
  44. ^ Anon (11 tháng 7 năm 2008). “Fab four times price for Beatles drumskin”. RTE news (Dublin: RTÉ Commercial Enterprises Limited). Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2010. 
  45. ^ Amazon.com/Sgt. Pepper Knew My Father
  46. ^ Dave Haber (9 tháng 7 năm 2008). “Todd Rundgren to pay tribute to Sgt. Pepper in concert”. Beatlesnews.com. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2011. 
  47. ^ Imdb.com - Sergeant Pepper (Character)
  48. ^ Imdb.com - Sergeant. Pepper's Lonely Hearts Club Band
  49. ^ Lewisohn 2009, tr. 8
  50. ^ MacDonald 2005, tr. 232, 248
  51. ^ Lewisohn 1996
  52. ^ Lewisohn 1988
  53. ^ Pollack 2008
  54. ^ “VG Lista - Album Top 40”. Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2010. 
  55. ^ “UK Albums Chart”. The Official Charts Company. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2010. 
  56. ^ “Billboard 200”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2010. 
  57. ^ “Album Top 50”. Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2010. 
  58. ^ “De 14 a 20 de Setembro 2009”. Associação Brasileira dos Produtores de Discos. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2010. 
  59. ^ “Album Top 50”. Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2010. 
  60. ^ “Album Top 20”. Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2010. 
  61. ^ “Mexican Charts: AlbumsS - 37/2009”. Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2010. 
  62. ^ “VG Lista - Album Top 40”. Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2010. 
  63. ^ “Portuguese Charts: Albums - 38/2009”. Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2010. 
  64. ^ “Album Top 100”. Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2010. 
  65. ^ “Album Top 40”. Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2010. 
  66. ^ “UK Albums Chart”. The Official Charts Company. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2010. 
  67. ^ “Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band - The Beatles”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2010. 
Ghi chú
  1. ^ Weed là cách gọi tiếng Anh cho một loại cỏ hút kiểu thuốc lá.
  2. ^ Lysergic acid diethylamide (C20H25N30) gọi tắt là LSD là một loại thuốc thuộc nhóm gây ảo giác. LSD được khám phá vào năm 1938 và là một trong những loại hóa chất làm thay đổi tâm thần. Nó được chế tạo từ acid lysergic tìm thấy trong ergot, một thứ nấm mọc trên lúa mạch và nhiều loại gạo nếp khác.[16]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Headquarters của The Monkees
Billboard 200
1 tháng 7 – 13 tháng 10 năm 1967
Kế nhiệm:
Ode to Billie Joe của Bobbie Gentry
Tiền nhiệm:
Going Places của Herb Alpert & the Tijuana Brass
Australian Kent Music Report
5 tháng 8 năm 1967 – 1 tháng 3 năm 1968
Kế nhiệm:
Their Satanic Majesties Request của The Rolling Stones
Tiền nhiệm:
The Sound of Music (soundtrack)
The Sound of Music (soundtrack)
The Sound of Music (soundtrack)
The Sound of Music (soundtrack)
UK Albums Chart
10 tháng 6 – 18 tháng 11 năm 1967
25 tháng 11 – 2 tháng 12 năm 1967
23 tháng 12 năm 1967 - 6 tháng 1 năm 1968
3–10 tháng 2 năm 1968
Kế nhiệm:
The Sound of Music (soundtrack)
The Sound of Music (soundtrack)
Val Doonican Rocks, But Gently của Val Doonican
The Four Tops Greatest Hits
của The Four Tops