Shō Shin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Shō Shin
尚真王
King Sho Shin.jpg
Chân dung nghi thức hoàng gia của Vua Shō Shin.
Quốc vương của vương quốc Lưu Cầu
Tại vị 1477 - 1526
Tiền nhiệm Shō Sen'i
Kế nhiệm Shō Sei
Thông tin chung
Phối ngẫu Kyoni
Hậu duệ Shō Ikō, Vương tử Urasoe Chōman
Shō Chōei, Vương tử Ozato
Shō Shōi, Vương tử Nakijin Chōten
Shō Ryūtoku, Vương tử Goeku Chōtoku
Shō Sei, Thái tử Nakagusuku
Shō Kyōjin, Vương tử Kin
Shō Gendō, Vương tử Tomigusuku
Princess Sashisaka Ajiganashi
Hoàng tộc House of Shō
Thân phụ Shō En
Thân mẫu Ukiyaka
An táng Tamaudun, Shuri

Shō Shin (Nhật: 尚真 Thượng Chân?)(1465–1526; trị vì 1477-1526) là một vị vua của vương quốc Lưu Cầu, là vua đời thứ ba của triều đại Shō II. Thời gian trị vì Shō Shin kéo dài và được mô tả là "Những ngày vĩ đại của Trung Sơn", một thời kỳ thái bình và tương đối hưng thịnh. Ông là con trai của Shō En, người sáng lập nên vương triều và Yosoidon, người vợ thứ hai của Shō En. Ông kế vị người chú là Shō Sen'i, người đã bị buộc phải thoái vị.

Phần lớn các tổ chức nền tảng của việc quản lý vương quốc và kinh tế đã được phát triển trong suốt thời gian trị vì của Shō Shin. Triều đình trở nên thể chế hóa hơn, án ti (lãnh chúa địa phương) dần dần mất đi quyền lực, tính độc lập và trở nên ràng buộc hơn với triều đình trung ương tại Shuri. Để tăng quyền kiểm soát của triều đình lên toàn vương quốc và ngăn ngừa một phần các cuộc nổi dậy của án ti, Shō Shin thu gom vũ khí từ tất cả "án ti" và sử dụng vào việc phòng thủ đất nước, ông cũng ra lệnh cho các án ti phải đặt tư gia tại Shuri; các án ti bị tách biệt với lãnh địa và người dân của họ và ít có khả năng hành động độc lập hay tổ chức nổi loạn, và theo thời gian, gắn bó tình cảm của họ với Shuri. Các tư gia của "án ti" tại Shuri được chia thành 3 khu vực - mỗi một khu dành cho những người đến từ các khu vực bắc, trung và nam của đảo Okinawa, phân tương ứng theo lãnh thổ Bắc Sơn, Trung SơnNam Sơn trước đây. Các vùng này khi đó mang tên Kunigami, Nakagami, và Shimajiri theo thứ tự tương ứng, các địa danh này vẫn được sử dụng cho đến ngày nay. Thông qua hôn phối, cư trú tại Shuri, và các nhân tố khác, các án ti hòa nhập thành một tầng lớp và có quan hệ gần gũi hơn với đời sống và phong tục cũng như chính trị tại Shuri, cũng như ít gắn bó hơn với lãnh thổ của tổ tiên.

Các án ti phó tả, được gọi làaji okite, thay mặt các án ti quản lý đất đai, và vài năm sau đó hình thành một hệ thống jito dai, gồm những người do triều đình cử để giám sát các vùng lãnh thổ hẻo lánh, đã được thành lập. Một số án ti ở các vùng phía bắc được cho phép ở lại và không cần di chuyển tới Shuri, việc này là do họ quá mạnh và khiến vua phải khuất phục trước họ trong vấn đề này; vị vương tử thứ ba của nhà vua được cử làm Giám sát Phương bắc, tuy nhiên thực chất là để duy trì hòa bình và trật tự trong khu vực.[1]

Phương ngữ Shuri của tiếng Okinawa được sử dụng bởi các quan lại trở thành ngôn ngữ tiêu chuẩn vào thời điểm này, và một thời đại hoàng kim của thơ và văn chương đã nở rộ. Quyển tập đầu tiên của Omoro Sōshi, một bộ sưu tập các bài thơ, bài hát và và cầu kinh phản ánh văn hóa truyền khẩu từ hàng thế kỷ cũng như các sự kiện đương thời, được hoàn thành vào năm 1532.[2] Cùng với các quyển tập sau đó, Omoro Sōshi cũng trở thành một nguồn chính yếu cho các sử gia hiện đại khi nghiên cứu về lịch sử vương quốc.

Quá trình chuyển các án ti tới Shuri cũng mang đến các thay đổi lớn cho thành phố, bao gồm việc xây dựng nhiều đại môn, đình, hồ, cầu, đài kỉ niệm và hoa viên. Kéo theo đó là một nhu cầu lớn đối với các thợ xây, thợ mộc và các ngành nghề khác, cũng như một sự đa dạng về chủng loại hàng hóa và vật liệu, được các án ti nhập từ lãnh địa của mình. Đảo Okinawa nhanh chóng trở thành một nơi tích tụ kinh tế, với các hàng hóa và lao động du hành đến và từ Shuri cũng thành phố cảng Naha lân cận.[3] Hội nhập kinh tế cho phép các lãnh địa trở nên chuyên môn hóa hơn, và việc sản xuất các mặt hàng xa xỉ được mở rộng đáng kể. Các loại kẹp tóc và các đồ trang sức khác đã trở thành mẫu mực trong việc ăn vận của các triều thần và quan lại, các kỹ thuật mới trong việc dệt lụa được đem về, và việc sử dụng vàng, bạc, đò sơn mài, và tơ lụa trở nên phổ biến trong cộng đồng sân cư đô thị.[3] Đô thị hóa đã làm cho nhiều người trở nên phát đạt, như các thương nhân, triều thần, mặc dù vậy sử gia George H. Kerr chỉ ra rằng nông dân và ngư dân, những người chiếm phần lớn dân số của vương quốc vẫn còn khá nghèo.[4]

Nhiều di tích, đền chùa, và các cấu trúc khác cũng được xây dựng trong thời kỳ trị vì hưng thịnh của Shō Shin. Một tòa cung điện mới được xây dựng theo kiến trúc Trung Hoa, các nghi lễ triều đình được thay đổi và mở rộng, học theo phương thức của Trung Quốc. Một cặp đá cao "Cột Rồng" được đặt tại lối vào của cung điện, song lại được trang trí theo phong cách Thái Lan và Campuchia thay vì Trung Hoa, Triều Tiên hay Nhật Bản, theo Kerr thì điều này chỉ ra rằng, phạm vi và quy mô của thương mại Lưu Cầu và tính quốc tế của kinh đô vào bấy giờ.[5] Ngôi chùa Enkaku-ji được xây dựng vào năm 1492, Sōgen-ji được mở rộng vào năm 1496, và năm 1501, Tamaudun, khu phức hợp lăng mộ của vương tộc, được hoàn thành. Shō Shin đã thành công trong việc thỉnh cầu triều đình Triều Tiên trong một số lần và được gửi cho kinh Phật;[6]

Giai đoạn trị vì của Shō Shin cũng chứng kiến việc vương quốc mở rộng lãnh thổ lên một số hòn đảo xa của quần đảo Ryukyu. Các tàu Lưu Cầu bắt đầu lui tới Miyakojimaquần đảo Yaeyama vào cuối thế kỷ 15; sau một loạt các tranh chấp giữa các lãnh chúa địa phương tại quần đảo Yaeyama nổ ra vào năm 1486, Shō Shin vào năm 1500 đã gửi lực lượng quân sự đến để dập tắt các cuộc tranh chấp và thiết lập quyền kiểm soát các hòn đảo. Kumejima nằm dưới sự kiểm soát của triều đình Shuri, và các cơ quan liên lạc cũng được thành lập ở Miyako và Yaeyama, tương ứng vào năm 1500 và 1524.[7]

Shō Shin cũng thực hiện những thay đổi đáng kể trong việc tổ chức các hệ thống thờ cúng noro (cô thầy cúng) và quan hệ của nó với triều đình. Ông lên ngôi nhờ người chú thoái vị, và đã phong cho chị mình, noro của gia đình vương tộc, một vị trí đặc biệt được gọi là kikoe-ōgimi. Ông cho lập một nơi cư trú mới cho kikoe-ōgimi ở ngay ngoài cửa thành, và dựng lên một bức tường thành cao vào năm 1519 quanh Sonohyan-utaki, một không gian thiêng liêng và một lò sưởi thiêng mà bà canh giữ. Nhà vua và kikoe-ōgimi bổ nhiệm các noro địa phương trên khắp vương quốc, yếu tố này của tôn giáo bản địa Lưu Cầu được gắn vào hệ thống quyền lực chính thức của triều đình.[2]

Sau 50 năm trị vì, Shō Shin qua đời năm 1526, người kế ngôi là vương tử Shō Sei. Người ta nói rằng sau một thời gian trị vì dài như vậy, các quần thần gặp khó khăn trong việc xác định nghi thức thích hợp để tiến hành tang lễ hoàng gia, nghi lễ kế vị, và các nghi lễ liên quan quan trọng khác.[7] Sử gia George Kerr viết rằng "Okinawa sẽ không bao giờ biết đến những ngày thanh bình một lần nữa như dưới thời trị vì của Sho Shin.[8]"

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kerr. pp105-8.
  2. ^ a ă Kerr. p111.
  3. ^ a ă Kerr. p108.
  4. ^ Kerr. p105.
  5. ^ Kerr. p109.
  6. ^ Kerr. p112.
  7. ^ a ă Kerr. p115.
  8. ^ Kerr. p116.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kerr, George H. (1965). Okinawa, the History of an Island People. Rutland, Vermont: C.E. Tuttle Co. OCLC 39242121
  • "Shō Shin." Okinawa rekishi jinmei jiten (沖縄歴史人名事典, "Encyclopedia of People of Okinawan History"). Naha: Okinawa Bunka-sha, 1996. p41.