Shiba Inu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Shiba Inu
Taka Shiba.jpg
Một con Shiba Inu đỏ 3 năm tuổi
Tên khác Shiba Inu Nhật
Chó Nhật cỡ nhỏ
Shiba Ken
Biệt hiệu Shiba
Nguồn gốc Nhật Bản
Traits
Nặng Đực 10 kg (22 lb)
Cái 8 kg (18 lb)
Cao Đực 35 đến 43 cm (14 đến 17 in)
Cái 33 đến 41 cm (13 đến 16 in)
Bộ lông 2 lớp
Màu Đỏ, màu vừng, đen và sạm, hoặc trắng
Kích thước nhỏ trung bình 3 con nhỏ
Tuổi thọ 12–15 năm

Shiba Inu (柴犬 ?) là loại chó nhỏ nhất trong sáu giống chó nguyên thủy và riêng biệt đến từ Nhật Bản.[1]

Là một giống chó nhỏ, nhanh nhẹn và thích hợp với địa hình miền núi, Shiba Inu ban đầu được nuôi để săn bắt.[1][2] Nó gần giống nhưng nhỏ hơn so với giống chó Akita Inu. Đây là một trong số ít giống chó cổ xưa vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.[3]

Từ nguyên học[sửa | sửa mã nguồn]

Inu trong tiếng Nhật có nghĩa là con chó, nhưng nguồn gốc của từ " Shiba " vẫn chưa rõ. Từ Shiba có nghĩa là cây bụi trong tiếng Nhật, đề cập đến một loại cây hoặc cây bụi có lá chuyển sang màu đỏ vào mùa thu.[4] Điều này khiến cho một số người tin rằng Shiba được đặt tên như thế là vì con chó được sử dụng để săn mồi trong các bụi cây, hoặc có thể là do màu sắc phổ biến nhất của Shiba Inu là màu đỏ tương tự như của các cây bụi. Tuy nhiên, trong một phương ngữ Nagano cổ, từ Shiba cũng có ý nghĩa là nhỏ, do đó cái tên có thể nói đến tầm vóc nhỏ bé của con chó.[4] Do đó, Shiba Inu đôi khi được dịch là "Little Brushwood Dog", tức "Chó bụi cây nhỏ".[1]

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Một con Shiba Inu trắng (hay còn được gọi là kem.
Một con Shiba Inu ở Kagawa, Nhật Bản.

Ngoại hình[sửa | sửa mã nguồn]

Khung của Shiba nhỏ gọn với cơ bắp phát triển tốt. Con đực có cao từ 35 đến 43 cm (14 đến 17 in). Đối với con cái là 33 đến 41 cm (13 đến 16 in). Trọng lượng trung bình ở kích thước ưa thích là khoảng 10 kg (22 lb) đối với con đực và 8 kg (18 lb) đối với con cái. Xương vừa phải.

Lớp lông: Có hai lớp lông với lớp ngoài cứng và thẳng cùng một lớp trong mềm mại và dày. Lông mao ngắn và thậm chí trên mặt, tai và chân giống cáo. Lông bảo vệ xù ra khỏi cơ thể khoảng 4 đến 5 cm (1 12 đến 2 in) chiều dài ở vai. Lông đuôi hơi dài và xù ra. Shiba có thể có màu đỏ, đennâu, hoặc màu vừng (màu đỏ với những sợi ngã sang đen), với một lớp lông lót màu kem, màu da bò, hoặc màu xám. Nó cũng có thể có màu trắng (kem), mặc dù màu này được xem là một "lỗi nghiêm trọng" bởi Hiệp hội chó giống Mỹ và không bao giờ được nuôi trong các chương trình. Ngược lại, một lớp lông màu trắng (kem) là hoàn toàn chấp nhận được theo tiêu chuẩn giống chó Anh.[5]

Urajiro (màu kem trắng) được yêu cầu ở các bộ phận sau trên tất cả các màu lông: ở hai bên mõm, trên , bên trong tai, trên hàm dưới và ở chỗ cổ họng bên trong chân, trên bụng, xung quanh các lỗ thông hơi và phía vùng bụng của đuôi. Màu đỏ: thường là ở trên cổ họng, chót ngực và ngực. Đen và màu vừng: thường là một dấu tam giác trên cả hai bên của chót ngực.[6]

Tính cách[sửa | sửa mã nguồn]

Shiba có xu hướng thể hiện tính tự lập và đôi khi còn hung hăng. Shiba Inu tốt nhất nên được nuôi trong một gia đình mà không có những con chó nhỏ khác hay trẻ em, nhưng huấn luyện vâng lời vẫn có thể được và xã hội sớm có thể làm cho tất cả trở nên ngoan ngoãn. Giống cũng tương tác khá tốt với mèo.[2]

Từ các tiêu chuẩn đối với giống của Nhật Bản:

Shiba Inu màu vừng.

Một tinh thần mạnh dạn, một bản chất tốt đẹp và sự thẳng thắn không bị tác động cùng nhau mang lại phẩm giá và vẻ đẹp tự nhiên. Shiba có tính chất tự lập và có thể dè dặt đối với người lạ nhưng lại trung thành và tình cảm với những người có được sự tôn trọng của nó. Nó có thể hung dữ với những con chó khác.

Các từ ngữ "tinh thần mạnh dạn" (悍威 kan'i?), "bản chất tốt đẹp" (良性 ryōsei?), và "thẳng thắn" (素朴 soboku?) có giải thích cụ thể đã là chủ đề của nhiều bài bình luận.[7]

Các Shiba là một giống tương đối khó tính và cảm thấy sự cần thiết phải giữ chính nó trong một nhà nước sạch. Nó thường liếm bàn chân và chân giống như một con mèo. Nó thường di chuyển theo cách riêng của mình để giữ bộ lông sạch sẽ, nhưng lại hoàn toàn thích bơi lội và chơi đùa trong các vũng nước. Vì bản chất khó tính và đầy kiêu hãnh của vốn có, Shiba con rất dễ dạy dỗ và trong nhiều trường hợp sẽ tự dạy dỗ chính mình. Nó chỉ nhờ chủ đơn giản là đặt chúng ra ngoài sau giờ ăn và ngủ nói chung là đã đủ để dạy Shiba phương pháp thích hợp để đi vệ sinh.[8]

Một đặc điểm giúp phân biệt giống chó này là được gọi với cái tên "Shiba scream". Khi đủ kích động hay không vụi, nó sẽ phát ra một tiếng thét lớn và cao. Điều này có thể xảy ra khi nó cố gắng để xử lý con chó theo một cách mà nó cho là không thể chấp nhận được.[1][9][10] Các động vật khác cũng có thể phát ra âm thanh tương tự như trong những lúc vui, chẳng hạn như sự trở lại của chủ sở sau khi vắng mặt lâu ngày hay sự xuất hiện của một khách người yêu thích,...

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thí nghiệm phân tích DNA gần đây đã khẳng định rằng loài chó mỏ nhọn châu Á này là một trong những giống chó lâu đời nhất, đã sống từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên.[3][11][[]][liên kết hỏng]

Shiba Inu đen và sạm cùng với "urajiro"

Ban đầu, Shiba Inu được nuôi để săn và bắt các con vật nhỏ, chẳng hạn như các loài chimthỏ. Mặc dù những nỗ lực để bảo tồn giống, Shiba gần bị tuyệt chủng trong Chiến tranh thế giới thứ hai do tình trạng thiếu thực phẩm cộng thêm dịch bệnh chó sau chiến tranh.[1] Tất cả những con chó sau này được tạo ra chỉ từ ba dòng máu còn sống sót.[12] Những dòng máu đó là Shinshu Shiba từ Nagano, Mino Shiba từ Gifu, và San'in Shiba từ TottoriShimane.[4] Shinshu Shiba sở hữu một lớp lông tơ rắn, với một lớp lông dày bảo vệ, nhỏ và có màu đỏ. Mino Shiba thường cò đôi tai dày, chích và sở hữu một cái đuôi hình lưỡi liềm, chứ không phải là đuôi cuộn tròn thường được tìm thấy trên Shiba hiện nay. San'in Shiba thì lớn hơn so với hầu hết các giống Shiba hiện nay, và thường có màu đen, không có dấu sẫm và trắng thường được tìm thấy trên Shiba đen - sẫm hiện nay.[4] Khi nghiên cứu về chó Nhật được chính thức hóa trong đầu và giữa thế kỷ 20, ba chủng này đã được kết hợp thành một giống tổng thể, Shiba Inu.[4] Các tiêu chuẩn giống Nhật Bản đầu tiên cho Shiba, tiêu chuẩn Nippo, được xuất bản vào năm 1934. Vào tháng 12 năm 1936, các Shiba Inu được công nhận là Di tích tự nhiên của Nhật Bản thông qua Đạo luật văn hóa, phần lớn là do những nỗ lực của Nippo (Nihon Ken Hozonkai), Hiệp hội Bảo tồn Chó Nhật Bản.[4][13]

Năm 1954, một gia đình phục vụ vũ trang mang con Shiba Inu đầu tiên đến Hoa Kỳ.[12] Vào năm 1979, lứa đầu tiên được ghi được sinh ra tại Hoa Kỳ.[12] Shiba đã được công nhận bởi Hiệp hội chó giống Mỹ vào năm 1992 và được bổ sung vào nhóm AKC (nhóm không thể thao) vào năm 1993.[1] Giống bây giờ chủ yếu được nuôi như thú cưng ở Nhật Bản và các nước khác.[14]

Sức khỏe[sửa | sửa mã nguồn]

Một con Shina Inu đang chơi đùa ở bãi cỏ.

Tình trạng sức khỏe được biết ảnh hưởng đến giống chó này là dị ứng, thanh quang nhãn, cườm thủy tinh thể mắt, loạn sản xương hông, quặm, và trật xương bánh chè.[15] Nhìn chung, dù gì đi nữa, chúng có tính di truyền cao và vài Shiba được chẩn đoán khuyết tật do di truyền so với các giống chó khác.[cần dẫn nguồn]

Kiểm tra chung định kỳ được khuyến cáo nên được thực hiện trong suốt cuộc đời của con chó nhưng vấn đề thường được phát hiện sớm trong cuộc đời của của nó. Kiểm tra mắt nên được thực hiện hàng năm vì vấn đề về mắt có thể phát triển theo thời gian. Năm hai tuổi, Shiba Inu có thể được coi là hoàn toàn tự do khỏi các vấn đề chung nếu không được phát hiện bởi thời điểm này, vì ở độ tuổi này bộ xương đã được phát triển đầy đủ.

Như đối với bất kỳ những con chó khác, Shiba nên được đi hoặc nếu không thì nên vận động hàng ngày.

Shiba Inu con.

Tuổi thọ[sửa | sửa mã nguồn]

Tuổi thọ trung bình của chúng là từ 12 đến 15 năm. Tập thể dục, đặc biệt là đi mỗi ngày, sẽ giúp cho giống chó này sống lâu và khỏe mạnh [12] Shiba lâu đời nhất được biết đến là "Pusuke", đã qua đời ở tuổi 26 vào đầu tháng 12 năm 2011 và là chú chó già nhất còn sống vào thời điểm đó.

Chăm sóc[sửa | sửa mã nguồn]

Những con chó này rất sạch sẽ, vì vậy nhu cầu chải chuốt nên được thực hiện tối thiểu. Một lớp lông Shiba Inu thô, ngắn có chiều dài trung bình với lớp lông bên ngoài dài 2,5 đến 3,2 cm (1 đến 1 14 in); và không thấm nước tự nhiên nên ít cần tắm thường xuyên. Nó cũng có một lớp lông dày có thể bảo vệ chúng khỏi nhiệt độ đông đá. Tuy nhiên, rụng lông, có thể là một mối phiền toái. Rụng lông nặng nhất có sự thay đổi theo mùa và đặc biệt là trong mùa hè, nhưng việc chải lông hàng ngày có thể làm giảm vấn đề này. Các chủ không bao giờ nên cạo hoặc cắt lông của Shiba Inu, vì nó cần thiết để bảo vệ chúng khỏi nhiệt độ cả nóng lẫn lạnh.[16]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d “Dog Owners Guide: Shiba Inu”. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2007. 
  2. ^ a ă “Shiba Inu Breed Standard”. American Kennel Club. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2007. 
  3. ^ a ă Parker, Heidi G.; Kim, Lisa V.; Sutter, Nathan B.; Carlson, Scott; Lorentzen, Travis D.; Malek, Tiffany B.; Johnson, Gary S.; DeFrance, Hawkins B.; Ostrander, Elaine A.; Kruglyak, Leonid (21 tháng 5 năm 2004). “Genetic Structure of the Purebred Domestic Dog”. Science 304 (5674): 1160. doi:10.1126/science.1097406. PMID 15155949. 
  4. ^ a ă â b c d Haskett, Gretchen; Houser, Susan (1997). The Total Shiba. Loveland, CO: Alpine Publications. ISBN 1-57779-049-9. 
  5. ^ “Japanese Shiba Inu Breed Standard”. The Kennel Club Limited. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2012. 
  6. ^ “NSCA: Urajiro”. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2007. 
  7. ^ Miriam Clews (Ed.). The Japanese Shiba Inu: A detailed study of the Shiba.
  8. ^ “An Introduction to the Shiba Inu (part 2)”. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2007. 
  9. ^ “Shiba Inu Traits”. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2007. 
  10. ^ “The Misanthropic Shiba”. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2007. 
  11. ^ Derr, Mark (21 tháng 5 năm 2004). “Collie or Pug? Study Finds the Genetic Code”. The New York Times. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2007. 
  12. ^ a ă â b “Shiba Inu Dog Breeds”. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2007. 
  13. ^ Atkinson, Maureen (1998). The Complete Shiba Inu. Howell Book House. tr. 11. ISBN 0-87605-177-8. 
  14. ^ Holden, Jacey. “Shiba Inus”. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2007. 
  15. ^ Holden, Jacey. “An Overview of Health Problems in the Shiba Inu”. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2007. 
  16. ^ “Shiba Inu Training - Grooming”. Truy cập tháng 3 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]