Shinkai Makoto

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Shinkai Makoto
Shinkai Makoto tại Otakon năm 2011
Sinh Nītsu Makoto
9 tháng 3, 1973 (41 tuổi)
thị trấn Kōmi, quận Minamisaku, Nagano, Nhật Bản
Công việc Đạo diễn, Nhà sản xuất, Kịch bản, Nhà làm phim, Diễn viên lồng tiếng, Hoạ sĩ
Nổi tiếng vì Hoshi no Koe,
Kumo no Mukō, Yakusoku no Basho,
Byōsoku 5 Centimeter,
Hoshi wo Ou Kodomo
Vợ (hoặc chồng) Shinohara Miko

Shinkai Makoto (新海誠 Tân Hải Thành?), tên khai sinh là Nītsu Makoto (新津誠 Tân Tân Thành?) là một nhà làm phim, đạo diễn, trước kia là nhà thiết kế đồ hoạ xuất thân từ quận Minamisaku, Nagano, Nhật Bản. Shinkai Makoto tốt nghiệp đại học Chūō ngành văn học Nhật Bản. Tại đó, ông là thành viên câu lạc bộ văn học trẻ với nhiệm vụ chính là vẽ sách. Ông nói cảm hứng sáng tạo của mình bắt nguồn từ manga, animetiểu thuyết được đọc thời cấp 2. Anime yêu thích của ông là Laputa của đạo diễn Miyazaki Hayao. Nhiều trang như Anime Advocates hay ActiveAnime đã so sánh ông như là "Miyazaki mới" ("New Miyazaki"), nhưng ông gọi đó là "đánh giá quá cao".[1]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi tốt nghiệp Chūō năm 1994, Shinkai Makoto thiết kế đồ hoạ và làm clip game tại công ty trò chơi Falcom trong 5 năm. Thời gian này, ông đã gặp nhạc sĩ Tenmon và cộng tác với Tenmon trong tất cả các phim của mình.

Năm 1999, Shinkai Makoto phát hành Kanojo to Kanojo no Neko, một phim hoạt hình ngắn trắng đen dài khoảng 5 phút. Bộ phim dành nhiều giải thưởng, trong đó có giải thưởng lớn tại "CG Animation Contest" của PROJECT TEAM DOGA.

Sau khi chiến thắng giải thưởng ấy, ông bắt đầu tìm ý tưởng cho dự án tiếp theo khi làm việc tại Falcom. Vào tháng 6 năm 2000, ông bắt đầu có ý tưởng về phim Hoshi no Koe sau khi vẽ bức tranh một cô gái trong buồng lái đang cầm điện thoại di động. Mangazoo sau đó đã đến gặp và đề nghị làm việc với ông trên một dự án anime có thể thu lợi nhuận. Tháng 5 năm 2001, ông nghỉ việc tại Falcom và bắt đầu bắt tay làm Hoshi no Koe.

Hoshi mở đầu cho hàng loạt anime thành công tiếp theo của Shinkai Makoto bao gồm Kumo no Mukō, Yakusoku no Basho (phát hành ngày 20 tháng 11 năm 2004), Byōsoku 5 Centimeter (phát hành ngày 3 tháng 3 năm 2007) và Hoshi wo Ou Kodomo (phát hành ngày 7 tháng 5 năm 2011). Ngoài ra, ông còn viết tiểu thuyết đầu tay, Byōsoku 5 Centimeter.

Ông hiện đang thực hiện dự án tiếp theo của mình mang tên Kotonoha no Niwa dự kiến phát hành năm 2013.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Anime[sửa | sửa mã nguồn]

CM[sửa | sửa mã nguồn]

  • Egao (みんなのうた「笑顔」 Minna no Uta "Egao"?) (2003) - video ca nhạc của Iwasaki Hiromi.
  • BITTERSWEET FOOLS (minori)(2001) - TrailerOP
  • Wind: A Breath of Heart (minori)(2002-2004) - Trailer và OP
  • Haru no Ashioto (minori)(2004) - Trailer & OP
  • Ef: A Fairy Tale of the Two. (minori)(2006) - Trailer & OP
  • Neko no Shūkai (猫の集会?) (2007)(hoạt hình ngắn trên Ani*Kuri15 của đài NHK)
  • Shinano Mainichi Shimbun CM
  • Tập đoàn Taisei, Kênh đào Bosporus CM
  • Dareka no Manazashi (だれかのまなざし?), trong "Proud Box Lễ Tạ ơn" của công ty bất động sản Nomura và được công chiếu cùng phim Kotonoha no Niwa.

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

  • Slug, 1994 (sách tranh)
  • Byōsoku 5 Centimeter, 2007 (tiểu thuyết)
  • Shinkai Makoto Bijutsu Sakuhinshū ('新海誠美術作品集 空の記憶~The sky of thet longing for memories?)

Manga[sửa | sửa mã nguồn]

Những manga được vẽ dựa trên ý tưởng hay anime của Shinkai Makoto.

  • Tō no Mukō (塔のむこう?) (2002)
  • Hoshi no Koe (2004) - manga: Sahara Mizu
  • Kumo no Mukō, Yakusoku no Basho (2006) - manga: Sahara Mizu
  • 5 Centimeters per Second (2010-2011) - manga: Seike Yukiko
  • Hoshi wo Ou Kodomo (星を追う子供?) (2011) - manga: Mitani Tomoko
  • Hoshi wo Ou Kodomo: Agartha no Shōnen (星を追う子ども アガルタの少年?) (2011) - manga: Hidaka Asahi
  • Kotonoha no Niwa (2013) - manga: Motohashi Midori

CD[sửa | sửa mã nguồn]

  • Promise - album hình

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]