Shintō
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Shintō (tiếng Nhật: 神道), hay Thần Đạo (Shin: thần, Tō: đạo) là tín ngưỡng và tôn giáo của dân tộc Nhật.
Mục lục |
[sửa] Tín ngưỡng
Shintō có rất nhiều các thần thánh, có đến 8 triệu thánh thần tất cả (八百万の神). Thần gọi là chung kami (神) và nữ thần là megami (女神). Tuy một số các vị thần này được nhân cách hóa, đa phần các kami liên quan đến thiên nhiên như linh hồn của đất, trời, mặt trăng, cây cỏ, hoa lá. Ngay cả đá, núi, hay động vật như cáo, gấu, và người quá cố đã trở thành linh hồn cũng được xem là kami. Những kami trú ngụ ở tầng cao nhất trên thiên đàng gọi là takama-ga-hara (高天原), và chỉ rời khỏi đó khi được mời xuống các đền thờ trong các nghi lễ.
Nghi lễ trong Shintō để cầu nguyện hay cảm tạ các kami, thường được tổ chức tại các đền Shintō (神社) hoặc những nơi linh thiêng đặc biệt. Những linh vật thường được dâng lên thần linh là vải, gương hay kiếm. Nghi lễ tẩy trần rất quan trọng, người làm lễ phải giữ cho mình được trong sáng để được tĩnh tâm và có được may mắn. Ngày nay, các hoạt động nghi lễ Shintō thường được gắn với lễ hội, lễ cưới truyền thống hay năm mới. Tuy nhiên người ta cũng thường hay đến đền để cầu nguyện và dâng lễ (thường là chỉ bỏ vài yen vào thùng rồi cầu xin kami), hay mua bùa may mắn. Và ở nhà cũng thường có kamidana (神棚) để thờ các linh hồn.
Tư tưởng của Shintō khác với những tôn giáo khác ở chỗ không cấm hay buộc con người làm gì, mà chỉ khuyên nên hướng tới sự trong sáng và tránh điều ác. Giết chóc đối với Shintō là điều ác và không nên giết sinh vật trừ khi vì sự sống còn của bạn, nên trước khi ăn thường phải nói câu Itadakimasu! (戴きます) để cảm ơn những sinh linh đã chết để trở thành thức ăn, ngày nay điều này đã trở thành một phong tục. Những người hay sinh vật bị giết một cách dã man, và không được thờ cúng sẽ trở thành ác thần aragami (荒神様). Ngoài ra, còn có rất nhiều loại ma quỉ như quỉ dữ oni (鬼), yêu quái youkai (妖怪), thủy quái kappa (河童)...
[sửa] Kami và Megami
Mỗi ngôi đền đều được xây dựng để dành riêng cho một kami, thường phải gọi một cách cung kính là kami-sama hay megami-sama. Sau đây là những kami chính trong truyền thuyết:
- Izanagi-no-Mikoto (伊邪那岐命) là vị thần đầu tiên. Ông cùng vợ là Izanami là người tạo ra nước Nhật. Ông từ trên cầu Ame-no-ukihashi dùng ngọn giáo thần Ame-no-nuboko nhúng vào đại dương và khuấy. Khi ngọn giáo được rút lên nước biển nhỏ xuống tạo thành một hòn đảo. Izanagi và Izanami xây dựng một lâu đài và sinh ra 8 hòn đảo mới, gộp thành phần lớn nước Nhật ngày nay. Izanagi là cha của Amaterasu, Tsukiyomi và Susa-no-O.
- Izanami-no-Mikoto (伊邪那美命) là nữ thần đầu tiên, và là vợ của Izanagi. Khi Izanami sinh ra thần lửa Hinokagu-tsuchi (迦具土神), lửa bốc cháy khiến bà bị thương và chết. Inazagi nổi giận và dùng kiếm chém vào đầu của Kagu-tsuchi và chặt thành 8 khúc. Các phần của Kagu-tsuchi trở thành những núi lửa bao bọc nước Nhật. Khi Izanagi xuống địa ngục Yomi (黄泉) để đón Izanami về, bà đã biến thành thần chết. Izanagi bị vợ đuổi và trở về một mình.
- Amaterasu-Ōmikami (天照大御神) là nữ thần Mặt Trời. Amaterasu được sinh ra từ mắt trái của Izanagi khi ông rửa mặt sau khi trở về từ Yomi. Amaterasu mang lại ánh sáng và hơi ấm cho vạn vật, nhưng một hôm em trai của Amaterasu là Susa-no-O cãi nhau với bà và ném vật được dâng tế cho Amaterasu, một con lừa chết, vào phòng thêu làm chết một cô hầu gái. Amaterasu tức giận và tự nhốt mình trong hang đá, khiến thế giới chìm vào bóng tối. Ame-no-Uzume và các vị thần khác đã tìm cách lừa Amaterasu ra bằng một lễ hội ầm ĩ và một chiếc gương đồng. Amaterasu được xem là tổ tiên của người Nhật, và bà đã tặng chiếc gương đồng Yata No Kagami (八咫鏡), ngọc bội Yasakani no Magatama (八坂瓊曲玉) và thanh gươm Kusanagi-no-Tsurugi (草薙の剣) cho cháu mình là Ninigi-no-Mikoto khi cho ông xuống mặt đất. Ngày nay thanh gươm được giữ tại đền Atsuta Jingū (熱田神宮).
- Tsukiyomi (月読の命) là thần Mặt Trăng, em trai của Amaterasu. Tsukiyomi được sinh ra từ mắt phải của Izanagi khi ông rửa mặt sau khi trở về từ Yomi. Một hôm Amaterasu sai Tsukiyomi đi thay mình đến dự tiệc của nữ thần lương thực Uke Mochi (保食神). Uke Mochi lần lượt nhìn vào biển, rừng và đồng lúa rồi ói ra cá, thịt và một chén cơm, mời Tsukiyomi ăn. Kết quả là Uke Mochi bị Tsukiyomi cảm thấy kinh tởm quá đập chết. Từ đó Amaterasu không thèm nhìn mặt em trai, và khi nào có Mặt Trăng thì Mặt Trời đi chỗ khác.
- Susa-no-O (須佐之男命) là thần biển và gió bão. Susa-no-O được sinh ra từ mũi của Izanagi khi ông rửa mặt sau khi trở về từ Yomi. Susa-no-O làm Amaterasu tức giận và bị đuổi đi. Khi đến tỉnh Izumo, Susa-no-O gặp hai thần đất. Họ đã bị một con rắn 8 đầu là Yamata-no-Orochi (八岐の大蛇) bắt mất 7 người con gái. Susa-no-O hỏi cưới cô thứ 8 nhỏ nhất chưa bị bắt là Kushi-inada-hime (奇稲田姫) rồi biến cô thành một chiếc lược để dấu trên đầu. Susa-no-O dùng 8 bình rượu sake để làm con rắn bị say rồi chặt khúc. Từ đuôi của Orochi, Susa-no-O tìm được kiếm thần Kusanagi-no-Tsurugi và gửi tặng Amaterasu để làm hòa.
- Ame-no-Uzume (天宇受売命) là nữ thần của lễ hội và hạnh phúc. Khi Amaterasu nhốt mình trong hang, Ame-no-Uzume treo một chiếc gương bằng đồng lên cây, khoác hoa lá lên mình rồi nhảy múa trước cửa hang. Các vị thần kéo tới xem, Ame-no-Uzume vất bỏ chiếc áo bằng hoa và đám đông nam thần hét lên thích thú. Amaterasu tò mò lẻn ra khỏi hang xem, ánh sáng của bà phản chiếu trong gương tạo ra bình minh xóa tan bóng tối. Các vị thần lấp của hang, mọi người vui vẻ trở lại và cùng nhau lập lễ hội.
- Saruta-Hiko Ōkami (猿田毘古大神) là thần đất và sức mạnh. Ông là chồng của Ame-no-Uzume. Khi Ninigi được phái xuống đất, ông ta bị Saruta-Hiko chặn đường. Khi Ame-no-Uzume đến hỏi, Saruta-Hiko chào đón Ninigi và cả 3 cùng đi chung với nhau. Saruta-Hiko thường được mô tả là một người rất to lớn và cầm giáo dài, đặc biệt có mũi rất to và dài.
- Inari (稲荷) là thần gạo, đôi lúc xuất hiện dưới dạng một ông già, hoặc một thiếu nữ, thường được đi kèm bởi một Kitsune (狐) màu trắng. Đền của Inari thường có rất nhiều cổng nối tiếp nhau và có tượng cáo trắng đeo khăn đỏ ở hai bên. Cả Inari và Kitsune đều rất thích ăn đậu khuôn chiên Aburaage (油揚げ) nên món này thường được dâng cho Inari cùng với rượu sake và bánh gạo.
- Enma-Daiō (閻魔大王) là vua của địa ngục Yomi. Tuy nhiên Enma có xuất xứ từ Phật giáo chứ không phải Shintō.
- Ninigi-no-Mikoto (瓊瓊杵尊) là cháu của Amaterasu. Nữ thần Mặt Trời phái ông xuống mặt đất để thành lập nước Nhật. Ninigi đem theo 3 bảo vật của Amaterasu. Khi Ninigi gặp Konohana-sakuya-hime (木花之開耶姫) liền đem lòng yêu cô và đến gặp cha của Ko-no-hana để hỏi cưới. Công chúa hoa anh đào Ko-no-hana và Ninigi, cháu của nữ thần Mặt Trời, là tổ tiên của người Nhật.
[sửa] Đền thờ
Đền thờ Shintō gọi là jinja (神社). Phía ngoài đền thờ có cổng torii (鳥居) bằng gỗ, thường được sơn màu đỏ. Khu vực linh thiêng nhất là sảnh điện bên trong honden (本殿), chỉ có các tu sĩ kannushi (神主) mới được phép vào làm lễ. Còn khu vực sân bên ngoài cho phép người ngoài đến viếng đền, uống nước, mua sắm hay đi tham quan. Thường các đền thờ có bán đủ loại bùa đem lại may mắn (như khi mang thai, sức khỏe, tình yêu, hay để khỏi bị xe đụng). Đền thờ thường có giếng nước hay nơi đựng nước để người đến rửa mặt và tay để tẩy trần trước khi vào sâu hơn.
Các đền thờ Shintō thường được xây trên đồi núi, từ dưới leo lên đến nơi rất mỏi chân và mệt, nhưng đó là cách để tỏ lòng thành kính. Đặc biệt có đền Itsukushima (厳島) nổi tiếng nằm trên nước. Đền Itsukushima được xem là di sản văn hóa quốc gia và được công nhận là di sản văn hóa thế giới. Đền Fushimi Inari-Taisha (伏見稲荷大) có đến hàng ngàn cổng torii nối tiếp dẫn từ ngoài vào đến tận đền.
Các miko (巫女, có nghĩa là "nữ pháp sư") có nhiệm vụ chăm sóc các ngôi đền. Miko thường mặc kimono trắng với quần hakama đỏ, và bít tất tabi. Ngày xưa các miko bắt buộc phải là trinh nữ. Họ giúp đỡ kannushi trong các buổi lễ, biểu diễn các điệu múa (舞) nghi lễ gọi là Miko Kagura (巫女神楽), quét dọn sân đền, thắp đèn lồng toro (燈籠), làm thẻ xăm bói toán, hoặc bán các loại bùa may mắn. Kagura là điệu múa mà Ame-no-Uzume biểu diễn trong thần thoại. Điệu múa này thường rất chậm, miko sẽ cầm quạt hay chuông, và các động tác đều có ý nghĩa.
Ở các cổng torii của đền thường treo những dây thừng làm bằng rơm gọi là shimenawa (注連縄). Những sợi dây này thường được treo ở những nơi thiêng liêng để đuổi tà, trên đó thường quấn thêm shide (紙垂), là những chuỗi thường được làm bằng giấy hay vải trắng có hình dạng như tia sét. Shide cũng thường được quấn vào que đũa gỗ thành cái gọi là gậy trừ tà tamagushi (祓串) hay gậy sét haraigushi (はらいぐし). Các miko thường dùng tamagushi gồm có shide gắn vào nhánh cây chè sakaki (榊) trong các buổi lễ thanh tẩy.
Ema (絵馬) thường được treo trước đền, là những thẻ gỗ dùng để viết điều ước của mình lên đó. Những thẻ này được để bên ngoài để kami có thể đọc và hoàn thành điều ước. Ema nghĩa là "ngựa vẽ", vì ngày xưa người giàu thường dâng ngựa cho đền, nhưng ngày nay chỉ dùng "ngựa vẽ trên thẻ gỗ". Ngày nay những người trẻ tuổi thường ước chuyện tình yêu hay không học bài mà vẫn thi đậu. Tuy các ema được trang trí bằng họa tiết theo lối Ukiyo-e (浮世絵), thường các bảng treo ema vẫn trông rất xấu, vì nhiều người chữ xấu mà vẫn ước đủ thứ.
Người ta thường viếng đền vào những dịp như lễ cưới, năm mới, lễ hội, hay chỉ đơn giản là đi cầu may trước khi đi thi. Đa phần các lễ hội địa phương phải được tổ chức gần một đền Shintō và người ta thường kéo tới đền trong những dịp này. Đường dẫn đến đền sẽ được bày bán nhiều loại thức ăn đặc trưng được làm trong lễ hội như yakisoba (焼きそば).
[sửa] Lịch sử
Shintō xuất hiện từ trước Công nguyên, nhưng hệ thống tín ngưỡng tôn giáo phát triễn khá chậm, các nghi lễ được thực hiện trong hang đá hoặc những địa điểm linh thiêng, và hầu như không có tên gọi. Những truyền thuyết bắt đầu được ghi chép lại trong cuốn "Cổ Sự Ký" Furukotofumi (古事記) và sau đó là "Nhật Bản Sử ký" Nihon Shoki (日本書紀). Cuốn Nihon Shoki tương tự như Heimskringla của Bắc Âu, trong đó các vị vua chúa đều cho rằng mình là con cháu của các vị thần, ở đây là nữ thần Mặt Trời Amaterasu. Do đó cờ nước Nhật có hình Mặt Trời
.
Đến thế kỷ thứ 6, Phật giáo và Nho giáo xâm nhập vào Nhật Bản, tên gọi Shintō được đặt ra để phân biệt. Trong thời kỳ Asuka (飛鳥時代) (538 - 710), những đền Shintō đầu tiên được xây dựng, nhưng Shintō nhanh chóng bị áp đảo bởi Phật giáo. Đầu thế kỷ thứ 9, Kōbō-Daishi (弘法大師, Không Hải đại sư) hợp nhất những tư tưởng Phật giáo và tín ngưỡng xưa để tạo ra Ryobu Shinto hay Shingon (真言). Tuy cùng tồn tại với Phật giáo, Shintō gần như bị loại bỏ.
Đến tận thế kỷ 18, thời kỳ Edo (江戸時代) (1603 - 1868), Shintō được tách ra khỏi Phật giáo nhờ một số người như Motoori Norinaga (本居宣長) hay Hirata Atsutane (平田篤胤), những người này đề cao tư tưởng tự hào dân tộc và rất ghét những phong tục du nhập từ nước ngoài vào. Tuy nhiên do tầm ảnh hưởng của Phật giáo rất lớn, những nổ lực để đưa Shintō thành quốc giáo không thành công và phải chờ đến cả thế kỷ sau.
Năm 1867, chế độ Shōgun (将軍) bị lật đổ, và Thiên Hoàng Meiji (明治天皇) lên nắm quyền. Là dòng dõi của nữ thần Mặt Trời Amaterasu, Hoàng đế Meiji đặt Shintō chính thức trở thành quốc giáo. Do hoàng đế được cho là con cháu thần linh, chính phủ lợi dụng Shintō để nói rằng Hoàng đế xứng đáng cai trị cả thế giới, và buộc Đài Loan và Hàn Quốc là các thuộc địa phải theo đạo Shintō. Đền thờ được xây dựng cả ở Hàn Quốc.
Năm 1872, Bộ Tôn giáo được thành lập; chính trị, chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc và tôn giáo được hợp nhất. Hệ thống các đền Shintō đa phần được nhà nước thiết lập. Như đền Yasukuni (靖国神) được dành riêng để thờ linh hồn những người hi sinh cho tổ quốc, do đó có cả những sĩ quan được cho là tội phạm chiến tranh. Việc các Thủ tướng Nhật Bản như Koizumi Junichirō thường xuyên đi thăm đền này đã tạo ra nhiều phản đối từ các nước như Hàn Quốc, vì Nhật chiếm đóng Hàn Quốc hơn 50 năm. Sau Thế chiến thứ hai, Shintō tách ra khỏi nhà nước để trở lại là một tôn giáo bình thường và số người theo đạo giảm mạnh. Ngày nay trong nước có hơn 80 ngàn đền thờ và khoản 100 triệu người theo các tín ngưỡng hay phong tục Shintō. Tuy nhiên, số người thật sự coi Shintō là tôn giáo chính và sống vì Shintō (như các miko) thì chỉ khoảng hơn 4 triệu. Như một người Nhật bình thường hàng năm vẫn đi thăm các đền Shintō vài lần, nhưng như vậy không tính là theo đạo Shintō.
[sửa] Hình ảnh
[sửa] Văn hóa hiện đại
- Tháng 10 (theo lịch âm) là Kannazuki (神無月), tháng mà tất cả các vị thần đều rời nơi ở của mình để đến họp tại Đại Đền Izumo (出雲大社).
- Núi Fuji (富士) được xem là nơi linh thiêng, phụ nữ bị cấm tới gần cho đến thời kỳ Meiji (1868).
- Trà đạo (茶道 Sadō) có ảnh hưởng từ Shintō.
- Nghệ thuật cắm hoa Ikebana (いけばな) có ảnh hưởng từ Shintō.
- Đấu vật Sumō (相撲) được bắt nguồn từ Shintō.
- Ngày nay lễ cưới và lễ hội người ta đi đến các đền Shintō, nhưng đám tang thì lại kéo tới chùa Phật giáo.
- Trong game Ōkami, nhân vật chính Amaterasu, một con sói, được gọi thân mật là Ammy.
- Trong anime Mai-HiME, Kagu-tsuchi là phượng hoàng lửa, child của HiME Mai.
- Trong anime Kannazuki no Miko, Orochi là một ác quỉ muốn tiêu diệt loài người.
- Trong anime Inuyasha có nhiều việc được vay mượn từ truyền thuyết.
- Trong game The King of Fighters, Orochi là boss của phiên bản '97.
- Bộ phim Ju-on: The Grudge (呪怨) và hai phiên bản Mỹ The Grudge và The Grudge 2 mượn thuyết về Urami (怨み) và Aragami (荒神様).
[sửa] Tham khảo
- Chikafusa Kitabatake - Dòng dõi Thiên Hoàng (Thế kỷ 14)
- Tsunetsugu Muraoka - Tư tưởng của Shintō
- Genichi Kato - Lịch sử phát triễn của Shintō
[sửa] Xem thêm
[sửa] Liên kết ngoài
- Trang Shintō quốc tế
- Đền Shintō
- Từ điển về Thần đạo của Đại học Kokugakuin
- Trang của Đại học Kogakukan
- Liên kết đến các trang Shintō
- Cách cắt giấy để làm Shide

