Shiokaze (tàu khu trục Nhật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
IJN DD Shiokaze and BC Kongo in 1924.jpg
Tàu khu trục Nhật Bản Shiokaze cùng với tàu chiến-tuần dương Kongō vào năm 1924
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Đặt hàng: 1918
Hãng đóng tàu: Xưởng hải quân Maizuru
Đặt lườn: 15 tháng 5 năm 1920
Hạ thủy: 22 tháng 10 năm 1920
Hoạt động: 29 tháng 7 năm 1921
Xóa đăng bạ: 5 tháng 10 năm 1945
Số phận: Bị đánh chìm làm đê chắn sóng tại cảng Onahama, tỉnh Fukushima năm 1948
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Minekaze
Trọng tải choán nước: 1.345 tấn (tiêu chuẩn);
1.650 tấn (đầy tải)
Độ dài: 97,5 m (319 ft 11 in) mực nước
102,6 m (336 ft 7 in) chung
Sườn ngang: 9 m (29 ft 6 in)
Mớn nước: 2,9 m (9 ft 6 in)
Động cơ đẩy: Turbine hơi nước Mitsubishi-Parsons
4 × nồi hơi đốt dầu
2 × trục
công suất 38.500 mã lực (28,7 MW)
Tốc độ: 72 km/h (39 knot)
Tầm xa: 6.700 km ở tốc độ 26 km/h
(3.600 hải lý ở tốc độ 14 knot)
Thủy thủ đoàn: 148
Vũ trang: 4 × hải pháo 120 mm (4,7 inch)/45 caliber Kiểu 3
6 × ống phóng ngư lôi 533 mm (21 inch)
2 × súng máy 7,7 mm
20 × mìn sâu

Shiokaze (tiếng Nhật: 汐風) là một tàu khu trục thuộc lớp Minekaze được chế tạo cho Hải quân Đế quốc Nhật Bản ngay sau khi kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Chúng là những tàu khu trục hàng đầu của Hải quân Nhật trong những năm 1930, nhưng đã bị xem là lạc hậu vào lúc nổ ra Chiến tranh Thái Bình Dương. Shiokaze tham gia một số trận đánh nhỏ trước khi quay về đảm trách vai trò tuần tra, vận tải và hộ tống cho đến khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc. Nó bị đánh chìm làm đê chắn sóng tại cảng Onahama, tỉnh Fukushima vào năm 1948

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Việc chế tạo lớp tàu khu trục kích thước lớn Minekaze được chấp thuận như một phần trong Chương trình Hạm đội 8-4 của Hải quân Đế quốc Nhật Bản trong giai đoạn năm tài chính 1917-1920, kèm theo lớp Momi cỡ trung vốn chia sẻ nhiều đặc tính thiết kế chung.[1] Được trang bị động cơ mạnh mẽ, những con tàu này có tốc độ cao và được dự định hoạt động như những tàu hộ tống cho những chiếc tàu chiến-tuần dương thuộc lớp Amagi mà cuối cùng đã không được chế tạo.[2]

Shiokaze, chiếc thứ tám của lớp tàu này, được chế tạo tại Xưởng hải quân Maizuru. Nó được đặt lườn vào ngày 15 tháng 5 năm 1920; được hạ thủy vào ngày 22 tháng 10 năm 1920; và được đưa ra hoạt động vào ngày 29 tháng 7 năm 1921.[3]

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hoàn tất, Shiokaze được điều về Quân khu Hải quân Yokosuka thuộc Hạm đội 2 Hải quân Đế quốc Nhật Bản.[3] Trong những năm 1938-1939, Shiokaze được phân công tuần tra tại khu vực phía Nam Trung Quốc nhằm hỗ trợ cho những nỗ lực của quân Nhật trong cuộc Chiến tranh Trung-Nhật.

Vào lúc xảy ra cuộc tấn công Trân Châu Cảng, Shiokaze đang trong thành phần Hải đội Khu trục 3 thuộc Không hạm đội 1 Hải quân Đế quốc Nhật Bản, đặt căn cứ tại Palau trong lực lượng hộ tống cho tàu sân bay Ryūjō tiến hành tấn công chiếm đóng Philippines.

Từ đầu tháng 1 năm 1942, Shiokaze đặt căn cứ tại vịnh Cam Ranh tại Đông Dương hỗ trợ cho các cuộc tấn công chiếm đóng Sarawak, PalembangJava. Vào ngày 2 tháng 3 năm 1942, nó hỗ trợ cho tàu khu trục Matsukaze trong việc đánh chìm tàu quét mìn Hà Lan Endeh; và đến cuối tháng 3 tham gia cùng với chiếc Ryūjō trong việc chiếm đóng quần đảo Andaman và cuộc không kích Ấn Độ Dương. Vào ngày 10 tháng 4 năm 1942, Shiokaze được phân về Hạm đội 5 Hải quân Đế quốc Nhật Bản và tham gia cuộc chiếm đóng quần đảo Aleut. Nó lại được điều quay trở về Hạm đội Khu vực Tây Nam vào tháng 8, hộ tống các đoàn tàu vận tải đi lại giữa Nhật Bản và Đài Loan.[4]

Sau khi được sửa chữa vào đầu năm 1943, Shiokaze làm nhiệm vụ hộ tống các đoàn tàu vận tải đi lại giữa Nhật Bản, Manila, SingaporePalau, tiếp tục vai trò này cho đến cuối tháng 1 năm 1945. Nó bị hư hại nhẹ vào ngày 31 tháng 1 năm 1945 khi bị tấn công ở phía Nam Đài Loan trong khi tìm cách triệt thoái các đội bay khỏi Aparri trên đảo Luzon, và quay về Xưởng hải quân Kure để sửa chữa. Tuy nhiên, việc sửa chữa không bao giờ hoàn tất và Shiokaze vẫn còn ở trong ụ tàu tại Kure vào lúc Nhật Bản đầu hàng.

Sau chiến tranh, nó được sử dụng để hồi hương binh lính Nhật còn trú đóng ở nước ngoài. Ngày 5 tháng 10 năm 1945 Shiokaze được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân.[3] Nó sau đó bị đánh chìm làm đê chắn sóng tại cảng Onahama, tỉnh Fukushima vào năm 1948.

Danh sách thuyền thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Howarth, The Fighting Ships of the Rising Sun
  2. ^ Globalsecurity.org, IJN Minekaze class destroyers
  3. ^ a ă â Nishidah, Hiroshi (2002). “Minekaze class 1st class destroyers”. Materials of the Imperial Japanese Navy. 
  4. ^ Nevitt, Allyn D. (1997). “IJN Shiokaze: Tabular Record of Movement”. Long Lancers. Combinedfleet.com. 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Howarth, Stephen (1983). The Fighting Ships of the Rising Sun: The Drama of the Imperial Japanese Navy, 1895-1945. Atheneum. ISBN 0689114028. 
  • Jentsura, Hansgeorg (1976). Warships of the Imperial Japanese Navy, 1869-1945. US Naval Institute Press. ISBN 087021893X. 
  • Watts, Anthony J (1967). Japanese Warships of World War II. Doubleday. ASIN B000KEV3J8. 
  • Whitley, M J (2000). Destroyers of World War Two: An International Encyclopedia. London: Arms and Armour Press. ISBN 1854095218. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]