Shirakumo (tàu khu trục Nhật) (1927)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Shirakumo
Tàu khu trục Shirakumo vào ngày 5 tháng 9 năm 1931
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Hãng đóng tàu: Xưởng đóng tàu Fujinagata
Số hiệu xưởng đóng tàu: Tàu khu trục số 42
Đặt lườn: 27 tháng 10 năm 1926
Hạ thủy: 27 tháng 12 năm 1927
Hoạt động: 28 tháng 7 năm 1928
Xóa đăng bạ: 31 tháng 3 năm 1944
Số phận: Bị tàu ngầm Mỹ USS Tautog đánh chìm 16 tháng 3 năm 1944 phía Đông Muroran 42°25′B 144°55′Đ / 42,417°B 144,917°Đ / 42.417; 144.917
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Fubuki[1]
Trọng tải choán nước: 1.750 tấn (tiêu chuẩn)
2.050 tấn (tái tạo)
Độ dài: 115,3 m (378 ft) (mực nước)
118,4 m (388 ft 6 in) (chung)
Sườn ngang: 10,4 m (34 ft 1 in)
Mớn nước: 3,2 m (10 ft 6 in)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hộp số Kampon
4 × nồi hơi
2 × trục
công suất 50.000 mã lực (37,3 MW)
Tốc độ: 70 km/h (38 knot)
Tầm xa: 9.200 km ở tốc độ 26 km/h (5,000 hải lý ở tốc độ 14 knot)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
219
Vũ trang: 6 × hải pháo 127 mm (5 inch)/50 caliber Kiểu 3 (3×2)
2 × súng máy 13 mm Kiểu 93 (2×1)
9 × ống phóng ngư lôi 610 mm (24 in) (3×3)
18 × ngư lôi Kiểu 91
18 × mìn sâu
Một tấm ảnh khác về tàu khu trục Shirakumo.

Shirakumo (tiếng Nhật: 白雲) là một tàu khu trục hạng nhất của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, thuộc lớp Fubuki bao gồm hai mươi bốn chiếc, được chế tạo sau khi Chiến tranh Thế giới thứ nhất kết thúc. Khi được đưa vào hoạt động, những con tàu này là những tàu khu trục mạnh mẽ nhất thế giới.[2] Chúng phục vụ như những tàu khu trục hàng đầu trong những năm 1930, và tiếp tục là những vũ khí lợi hại trong cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương. Shirakumo là một cựu binh tham gia nhiều hoạt động trong những năm đầu tiên của chiến tranh, và đã bị tàu ngầm Mỹ USS Tautog đánh chìm ngày 16 tháng 3 năm 1944 phía Đông Muroran trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Việc chế tạo lớp tàu khu trục Fubuki tiên tiến được chấp thuận vào năm tài chính 1923 như một phần của chương trình có tham vọng cung cấp cho Hải quân Đế quốc Nhật Bản một ưu thế về chất lượng so với những tàu chiến hiện đại nhất của thế giới.[3] Khả năng thể hiện của lớp Fubuki là một bước nhảy vọt so với các thiết kế tàu khu trục trước đó, nên chúng được gọi là các “tàu khu trục đặc biệt” (tiếng Nhật: 特型 - Tokugata). Kích thước lớn, động cơ mạnh mẽ, tốc độ cao, bán kính hoạt động lớn và vũ khí trang bị mạnh chưa từng có khiến cho các tàu khu trục này có được hỏa lực tương đương nhiều tàu tuần dương hạng nhẹ của hải quân các nước khác.[4] Shirakumo được chế tạo tại Xưởng đóng tàu FujinagataOsaka, được đặt lườn vào ngày 27 tháng 10 năm 1926. Nó được hạ thủy vào ngày 27 tháng 12 năm 1927 và đưa ra hoạt động vào ngày 28 tháng 7 năm 1928.[5] Nguyên được dự định mang số hiệu đơn giản là "Tàu khu trục số 42", nó được hoàn tất dưới tên gọi Shirakumo.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Khi hoàn tất, Shirakumo được phân về Hải đội Khu trục 11 thuộc Hạm đội 2 Hải quân Đế quốc Nhật Bản. Trong cuộc Chiến tranh Trung-Nhật, Shirakumo được phân công tuần tra dọc theo bờ biển miền Nam Trung Quốc, và đã tham gia vào việc Chiếm đóng Đông Dương thuộc Pháp vào năm 1940.

Vào lúc xảy ra cuộc tấn công Trân Châu Cảng, Shirakumo được phân về Hải đội Khu trục 12 của Đội khu trục 3 thuộc Hạm đội 1 Hải quân Đế quốc Nhật Bản và được bố trí từ Quân khu Hải quân Kure đến cảng Samah trên đảo Hải Nam. Từ ngày 4 tháng 12 đến hết năm 1941, Shirakumo hỗ trợ cho cuộc đổ bộ lực lượng Nhật Bản lên MalayaBorneo, và đã cứu vớt những người sống sót trên chiếc tàu khu trục Sagiri bị chìm do trúng ngư lôi vào ngày 23 tháng 12.[6]

Vào tháng 2 năm 1942, Shirakumo nằm trong thành phần hộ tống cho tàu tuần dương hạng nặng Chokai trong các chiến dịch chiếm đóng Banka-Palembangquần đảo Anambas, đã đánh chìm một tàu rải dây cáp Anh ngoài khơi Singapore vào ngày 14 tháng 2. Sau đó Shirakumo gia nhập lực lượng chiếm đóng Tây Java, và đã hiện diện trong trận chiến eo biển Sunda vào ngày 1 tháng 3, trợ giúp vào việc đánh chìm tàu tuần dương Australia HMAS Perth và tàu tuần dương Hoa Kỳ USS Houston.[7]

Vào ngày 10 tháng 3, Shirakumo được phân về Hải đội Khu trục 20 của Đội khu trục 3 thuộc Hạm đội 1, và sau đó đã tham gia vào lực lượng chiếm đóng phía Bắc Sumatra vào ngày 12 tháng 3 và chiếm đóng quần đảo Andaman vào ngày 23 tháng 3. Trong cuộc không kích Ấn Độ Dương, cùng với các tàu tuần dương KumanoSuzuya, Shirakumo được ghi công đánh chìm năm tàu buôn. Từ ngày 13 đến ngày 22 tháng 4, Shirakumo đi ngang qua Singapore và vịnh Cam Ranh quay trở về Xưởng hải quân Kure để bảo trì.[6]

Trong thời gian diễn ra trận Midway, Shirakumo nằm trong thành phần của lực lượng chiếm đóng quần đảo Aleut. Đến tháng 7 năm 1942, Shirakumo lên đường từ Amami-Oshima đến quân khu bảo vệ Mako, Singapore, SabangMergui nhằm chuẩn bị cho một cuộc không kích Ấn Độ Dương thứ hai. Kế hoạch này bị hủy bỏ do việc lực lượng Đồng Minh đổ bộ lên Guadalcanal, và Shirakumo được gửi đến Truk. Từ tháng 8 trở đi, Shirakumo được sử dụng cho các nhiệm vụ “Tốc hành Tokyo”, những chuyến đi vận chuyển tốc độ cao, trong khu vực quần đảo Solomon. Vào ngày 28 tháng 8, sau khi một nhiệm vụ vận chuyển binh lính đến Guadalcanal bị hủy bỏ, Shirakumo bị hư hại nặng ởi một cuộc không kích của máy bay ném bom bổ nhào Mỹ, khi một quả bom ném trúng phòng động cơ đã khiến nó chết đứng giữa biển, cho dù chỉ có hai thủy thủ bị thương. Nó được tàu khu trục Amagiri, rồi tiếp đó là tàu rải mìn Tsugaru kéo về đảo Shortland, và từ đây được tàu chở dầu Koa Maru kéo về Truk để được sửa chữa khẩn cấp, để nó có thể quay về Kure bằng chính động lực của mình vào ngày 8 tháng 10.[8]

Khi công việc sửa chữa hoàn tất vào ngày 1 tháng 4 năm 1943, Shirakumo được điều về Hải đội Khu trục 9 của Đội khu trục 1 thuộc Hạm đội 5 Hải quân Đế quốc Nhật Bản, và được phân công tuần tra và hộ tống tại vùng biển ngoài khơi Hokkaidōquần đảo Kurile. Vào ngày 6 tháng 6 năm 1943, nó va chạm với tàu khu trục Numakaze trong sương mù dày đặc ngoài khơi Paramushiro, và bị buộc phải quay về Hakodate để sửa chữa. Công việc này chỉ hoàn tất vào cuối tháng 9, khi nó tiếp tục các cuộc tuần tra và hộ tống tại vùng biển phía Bắc.

Ngày 16 tháng 3 năm 1944, sau khi rời Kushiro, Hokkaido cùng một đoàn tàu vận tải chuyển binh lính hướng đến đảo Uruppu, Shirakumo trúng phải ngư lôi phóng từ tàu ngầm Mỹ USS Tautog ở cách 315 km (170 hải lý) về phía Đông Muroran, tọa độ 42°25′B 144°55′Đ / 42,417°B 144,917°Đ / 42.417; 144.917Tọa độ: 42°25′B 144°55′Đ / 42,417°B 144,917°Đ / 42.417; 144.917. Shirakumo chìm hầu như ngay lập tức và không có người nào sống sót.[9]

Vào ngày 31 tháng 3 năm 1944, Shirakumo được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân.[5]

Danh sách thuyền trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Các đặc tính lấy từ: Fitzsimons, Bernard, ed. Illustrated Encyclopedia of 20th Century Weapons and Warfare (London: Phoebus, 1978), Volume 10, trang 1040-1041, "Fubuki".
  2. ^ Globalsecurity.org. “IJN Fubuki class destroyers”. 
  3. ^ Fitzsimons, Illustrated Encyclopedia of 20th Century Weapons and Warfare, trang 1040
  4. ^ Peattie & Evans, Kaigun, trang 221-222.
  5. ^ a ă Nishidah, Hiroshi (2002). “Fubuki class 1st class destroyers”. Materials of the Imperial Japanese Navy. 
  6. ^ a ă Nevitt, Allyn D. (1997). “IJN Shirakumo: Tabular Record of Movement”. Long Lancers. Combinedfleet.com. 
  7. ^ Muir, Dan Order of Battle - The Battle of the Sunda Strait 1942
  8. ^ D’Albas. Death of a Navy: Japanese Naval Action in World War II.
  9. ^ Brown. Warship Losses of World War II

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • D'Albas, Andrieu (1965). Death of a Navy: Japanese Naval Action in World War II. Devin-Adair Pub. ISBN 0-8159-5302-X. 
  • Brown, David (1990). Warship Losses of World War Two. Naval Institute Press. ISBN 1-55750-914-X. 
  • Howarth, Stephen (1983). The Fighting Ships of the Rising Sun: The Drama of the Imperial Japanese Navy, 1895–1945. Atheneum. ISBN 0-689-11402-8. 
  • Jentsura, Hansgeorg (1976). Warships of the Imperial Japanese Navy, 1869–1945. US Naval Institute Press. ISBN 0-87021-893-X. 
  • Watts, Anthony J (1967). Japanese Warships of World War II. Doubleday. ASIN B000KEV3J8. 
  • Whitley, M J (2000). Destroyers of World War Two: An International Encyclopedia. London: Arms and Armour Press. ISBN 1-85409-521-8. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]