Siêu lục địa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trong địa chất học, một siêu lục địa hay một siêu đại lục là một vùng đất rộng lớn chứa nhiều hơn một lõi châu lục hay nền cổ (craton). Hiện nay, tổ hợp của các nền cổ và các địa thể bồi tích tạo ra đại lục Á-Âu, cũng như ở mức độ nhỏ hơn là châu Mỹ khi gộp tổng thể, được coi là các siêu lục địa.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Phổ biến nhất, các nhà cổ địa lý học sử dụng thuật ngữ siêu lục địa để chỉ một vùng đất rộng lớn duy nhất, bao gồm tất cả các châu lục ngày nay. Siêu lục địa sớm nhất đã biết có lẽ là Vaalbara. Nó hình thành từ các tiền-lục địa và là một siêu lục địa vào khoảng 3,1 tỷ năm trước (3,1 Ga). Vaalbara đã vỡ ra khoảng 2,8 Ga. Siêu lục địa Kenorland hình thành khoảng 2,7 Ga và sau đó vỡ ra vào khoảng sau 2,5 Ga thành các nền cổ tiền-châu lục, gọi là Laurentia, Baltica, AustraliaKalahari. Siêu lục địa Columbia hình thành và vỡ ra trong giai đoạn từ 1,8 tới 1,5 Ga.

Siêu lục địa Rodinia vỡ ra khoảng 750 triệu năm trước (750 Ma). Một trong các mảnh của nó bao gồm phần lớn của các châu lục hiện nay nằm ở Nam bán cầu. Các mảng kiến tạo đã đem các mảnh của Rodinia lại cùng nhau theo các cấu hình khác biệt trong Hậu Cổ sinh, tạo thành siêu lục địa được biết đến dưới tên gọi Pangaea. Pangaea sau đó vỡ ra thành các siêu lục địa phía bắc và phía nam, với tên gọi tương ứng là LaurasiaGondwana.

Các nghiên cứu ngày nay đã gợi ý rằng các siêu lục địa hình thành theo các chu kỳ, hợp lại và tách ra bởi chuyển động của các mảng kiến tạo, với chu kỳ xấp xỉ 250 triệu năm.

Địa chất học[sửa | sửa mã nguồn]

Các siêu lục địa ngăn chặn luồng nhiệt từ trong lòng Trái Đất thoát ra, và vì thế làm cho quyển astheno bị quá nóng. Cuối cùng, thạch quyển sẽ bắt đầu tạo vòm về phía trên và rạn nứt, macma khi đó sẽ trào lên và các mảng lục địa bị đẩy ra xa nhau. Hiện tại người ta vẫn còn đang tranh luận xem các siêu lục địa được tái hình thành như thế nào, bao gồm có hay không việc các mảng kiến tạo làm cho chúng tái hợp sau khi đã chu du vòng quanh hành tinh, hoặc chúng di chuyển ra xa nhau và sau đó ngược trở lại cùng nhau như thế nào.

Trong các lĩnh vực nghiên cứu khác, như lịch sửđịa lý, các vùng đất rộng lớn nối với nhau bằng các eo đất cũng được coi là các siêu lục địa hay chỉ là các châu lục, chẳng hạn như châu Mỹ. Một số sử gia gọi vùng đất tổ hợp gồm châu Phiđại lục Á-Âu là siêu lục địa Phi-Á-Âu.

Danh sách không đầy đủ[sửa | sửa mã nguồn]

Theo trật tự thời gian lùi ngược trở lại về quá khứ, các siêu lục địa là:

  • Pangaea Ultima hay Amasia (~250 – ~400 triệu năm tới (siêu lục địa của tương lai))
  • Australia-Nam Cực-Phi-Á-Âu (~130 triệu năm tới (siêu lục địa của tương lai))
  • Australia-Phi-Á-Âu (~60 triệu năm tới (siêu lục địa của tương lai))
  • Phi-Á-Âu (~5 Ma tới nay)
  • Châu Mỹ (~ 15 Ma tới nay)
  • Á-Âu (~ 60 Ma tới nay)
  • Gondwana (~600 – ~30 Ma)
  • Laurasia (~ 300 – ~60 Ma)
  • Pangaea (~300 – ~180 Ma)
  • Euramerica (~ – ~300 Ma)
  • Pannotia (~600 – ~540 Ma)
  • Rodinia (~1,1 Ga – ~750 Ma)
  • Columbia, còn gọi là Nuna, (~1,8–1,5 Ga)
  • Kenorland (~2,7 Ga. Sự bồi tích của các nền cổ sanukitoit Tân Thái cổ và sự hình thành lớp vỏ lục địa mới đã tạo ra Kenorland. Các vùng đứt sâu kéo dài diễn ra khoảng 2,48 tới 2,45 Ga và nó góp phần vào các sự kiện sông băng Cổ Nguyên sinh trong giai đoạn 2,45 tới 2,22 Ga. Sự tách vỡ chung cuộc diễn ra vào khoảng 2,1 Ga.)
  • Ur (~3 Ga, mặc dù có lẽ không phải là một siêu lục địa; nhưng dù thế nào đi chăng nữa thì nó vẫn là lục địa đã biết sớm nhất. Tuy nhiên, Ur có lẽ là lục địa lớn nhất (và có thể là duy nhất) vào khoảng 3 tỷ năm trước, vì thế người ta có thể coi Ur là một siêu lục địa trong thời kỳ đó, ngay cả khi nó nhỏ hơn cả Australia ngày nay). Còn tồn tại thành hệ đá cổ hiện nay ở Greenland có niên đại xa tới tận thời kỳ Thái Viễn Cổ
  • Thành hệ Komatii (~3,475 Ga)
  • Vaalbara (~3,6 Ga. Chứng cứ là nền cổ Yilgarn, Tây Australia và các dải đá lục Thái cổ khắp thế giới mà sau đó đã loang rộng ra khắp Gondwana và Laurasia)
  • Yilgarn (Các tinh thể ziricon từ vùng Jack Hills của địa thể gơnai Narryer, nền cổ Yilgarn, Tây Australia chỉ ra sự hình thành lớp vỏ lục địa trong khoảng 4,4-4,3 Ga[1][2]. Chứng cứ là tỷ lệ cao (8,5) của ôxy-18 và các vi thể vùi của SiO2 trong các tinh thể ziricon này phù hợp với sự phát triển từ nguồn granit của vật liệu siêu lớp vỏ, các tương tác nhiệt độ thấp và đại dương lỏng.)

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ www.physorg.com: Ancient mineral shows early Earth climate tough on continents
  2. ^ Takayuki Ushikuboa, Noriko T. Kitaa, Aaron J. Cavosieb, Simon A. Wildec, Roberta L. Rudnickd và John W. Valley Lithium in Jack Hills zircons: Evidence for extensive weathering of Earth's earliest crust, Earth and Planetary Science Letters, Quyển 272, số 3-4, 15-8-2008, trang 666-676, doi:10.1016/j.epsl.2008.05.032

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]