Kế sữa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Silybum marianum)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cây kế sữa
Milk thistle flowerhead.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
Bộ (ordo) Asterales
Họ (familia) Asteraceae
Chi (genus) Silybum
Loài (species) S. marianum
Danh pháp hai phần
Silybum marianum
(L.) Gaertn., 1791
Danh pháp đồng nghĩa
  • Carduus marianus, L.

Cây kế sữa (tên khoa học: Silybum marianum), còn được gọi là ké sữa, kế thánh, kế đức mẹ, cúc gai, là một loài thực vật có hoa trong họ Cúc. Chúng này được (L.) Gaertn. miêu tả khoa học đầu tiên năm 1791.[1]

Hình minh họa

Kế sữa vốn mọc hoang dã ở vùng Ðịa Trung Hải. Kể từ khi y học phát hiện ra dược chất silymarin trong cây kế sữa có tác dụng chữa bệnh thì loại cây này đã được trồng khắp nơi trên thế giới. Nó là một loại thực phẩm chức năng phổ biến được sử dụng rộng rãi tại Hoa Kỳ và Châu Âu[2].

Lá mầm và lá đầu tiên
Toàn thân cây kế sữa

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Cây kế sữa có thể được trồng bằng cách gieo hạt trực tiếp xuống đất. Môi trường sinh trưởng của cây kế sữa là ở những vùng khô ráo, nhiều ánh nắng mặt trời. Cây kế sữa trưởng thành cao từ 1,2m đến 3m; lá lớn có chấm hoặc gân màu trắng; bông màu đỏ tím; trái nhỏ, có vỏ cứng màu nâu bóng với nhiều chấm. Toàn thân cây và lá đều có những gai nhỏ li ti đâm vào da rất nhức nên người ta phải mang bao tay dầy khi thu hoạch. Trà làm từ cây kế sữa đã được sử dụng cho việc điều trị các bệnh về gan trong thời cổ đại. Từ thời Hy Lạp cổ đại (Theophrastus, thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên) và La Mã (Pliny the Elder thế kỷ 1), hạt giống của cây kế sữa đã được sử dụng để bảo vệ gan[3]. Trong thế kỷ 1, Dioskurides sử dụng loài cây này như một loại thuốc gây nôn, cũng như một loại dược thảo cơ bản thời bấy giờ. Nó đã trở thành một loại thuốc được chuyên dùng để điều trị các bệnh gan mật vào thế kỷ 16 và vào năm 1960 ở trung tâm châu Âu[4][5]. Cây kế sữa có chiều cao lên đến 6 feet, đặc biệt phát triển tốt trên các sườn dốc nắng ở các nước Địa Trung Hải như Tây Ban Nha và Hy Lạp. Hoa cây kế sữa nở từ tháng 6 đến tháng 8, các hạt màu đen được thu hoạch vào cuối mùa hè để sử dụng cho các mục đích y học

Dược chất[sửa | sửa mã nguồn]

Trong vòng hơn 50 năm qua, các nhà khoa học đã thành công trong việc xác định các hoạt chất có trong cây kế sữa, đáng chú ý nhất là nhóm 3 chất liên quan có tên chung là silymarin. Chất này gồm một nhóm hỗn hợp gọi là flavonolignands (silibinin, silichristin và silidianin) mà tên gọi thông thường là silymarin. Silymarin chứa các loại flavonoid khác nhau như silibinin (silybin A và B), isosilibinin (isosilybin A và B) silichristin và silidianin. Silibinin là một hợp chất polyphenol flavonoid có hoạt tính sinh học chính của cây kế sữa[6][7], tồn tại dưới 2 dạng phổ biến là Silybin A và B. Silymarin có tác dụng ổn định màng tế bào và chất chống oxy hóa, nó thúc đẩy tế bào gan tái sinh, làm giảm khả năng viêm nhiễm và ức chế hiện tượng sinh tế bào sợi. Những kết quả này đã được kiểm nghiệm trong các nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng. Phần lớn những sản phẩm của cây kế sữa được bào chế đúng tiêu chuẩn và tinh chất của nó được trích ra từ hạt và trái chứa vào khoảng 70 đến 80 phần trăm chất flavonolignands.

Công dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Hạt cây kế sữa có chứa một hợp chất flavonoid gọi là Silymarin, được xem là hoạt chất chính. Ngoài ra, còn chiết xuất được một chất khác là Silibinin hoặc chất dẫn xuất, thường được dùng để chữa trị chứng ngộ độc nấm Amanita phalloides hoặc Amanita muscaria. Tác dụng của cây kế sữa:

  • Ổn định màng tế bào gan, ngăn cản sự xâm nhập của các chất độc vào bên trong gan.
  • Tăng tổng hợp protein ở tế bào gan do kích thích hoạt động của RNA polymerase, góp phần giải độc cho gan.
  • Thúc đẩy sự phục hồi các tế bào gan đã bị hủy hoại, kích thích sự phát triển của các tế bào gan mới thay thế các tế bào gan đã bị hủy hoại.
  • Ức chế sự biến đổi của gan thành các tổ chức xơ, giảm sự hình thành và lắng đọng của các sợi collagen dẫn đến xơ gan.
  • Chống peroxyd hóa lipid, tăng khả năng oxi hóa acid béo của gan, làm ổn định các tế bào gây viêm, ức chế phản ứng viêm, giảm các nồng độ enzym gan, làm cải thiện các triệu chứng của bệnh gan như gan nhiễm mỡ, viêm gan.
  • Ngăn cản quá trình oxi hóa LDL cholesterol thành các mảng bám vào thành động mạch là nguyên nhân gây xơ vữa động mạch.

Silymarin (chiết xuất của cây kế sữa) và các bệnh về gan[sửa | sửa mã nguồn]

Silymarin và những tổn thương về gan[sửa | sửa mã nguồn]

Hoạt động bảo vệ gan của silymarin đã được chứng minh bởi nhiều nhà nghiên cứu khác nhau trên toàn thế giới, thông qua mô hình cắt gan một phần và mô hình thí nghiệm độc tố trên động vật sử dụng acetaminophen[8], carbon tetrachloride[9][10], ethanol, D-galactosamine và chất độc Amanita phalloides (nấm tử thần)[11]. Silymarin có khả năng bảo vệ tế bào gan khỏi các tổn thương gây ra do thiếu máu cục bộ, bức xạ và viêm gan siêu vi(10). Trong những thí nghiệm này, các dấu hiệu sinh hóa (alanine aminotransferase (ALT), aspartate aminotransferase (AST), ɣ-glutamyl transpeptidase) của tế bào gan bị tổn thương gây ra bởi độc tính đã được hạn chế. Những biểu hiện của quá trình peroxi hóa chất béo (có chứa malondialdehyde) và các thông số đo lường khả năng chống oxy hóa (thể hiện qua hoạt động của superoxide dismutase, catalase, và glutathione peroxiđaza) thay đổi theo hướng có lợi sau khi điều trị bằng silymarin[12][13]. Các minh chứng thêm cho hiệu quả của silymarin thể hiện qua khả năng điều tiết mức độ tiếp nhận lipoprotein ở mức thấp và hoạt hóa thụ thể PPARα. Phát hiện mới đây cho thấy silymarin kết hợp với tỏi mang lại một liệu pháp bảo vệ gan hiệu quả đến không ngờ[14]

Silymarin và bệnh xơ gan có hạt nhỏ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong các nghiên cứu dược lâm sàng của chúng tôi trước đó[15][16][17], một thử nghiệm tiến hành áp dụng điều trị bằng silymarin (Legalon 140, Madaus, Cologne, Đức) trong 6 tháng trên 36 bệnh nhân mắc bệnh xơ gan có hạt. Việc điều trị mang lại những tác động có lợi đến khả năng miễn dịch của cơ thể và các thông số của cơ chế bảo vệ chống oxy hóa. Huyết thanh Procollagen III giảm đáng kể ở nhóm điều trị, cho thấy sự gây ức chế hiện tượng sinh tế bào sợi trong gan. Các nghiên cứu thu được kết quả tương tự với dữ liệu của Ferenci và các cộng sự, cho rằng việc uống silymarin lâu dài giúp bệnh nhân mắc bệnh xơ gan do cồn sống lâu hơn 5-10 năm[18]

Silymarin và bệnh gan nhiễm mỡ không do cồn[sửa | sửa mã nguồn]

Lá kế sữa

Bệnh gan nhiễm mỡ không do cồn (NAFLD) là một dạng tổn thương gan phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đồng thời là một nguy cơ đáng kể dẫn tới HCC (tế bào ung thư biểu mô ở gan). Bệnh biểu hiện dưới nhiều hình thức, đặc trưng bởi những thay đổi mô học có nguồn gốc từ cồn (như gan nhiễm mỡ không có biến chứng, viêm gan nhiễm mỡ, xơ hóa và xơ gan) ở những người không nghiện rượu (có mức tiêu thụ ethanol < 20g/ngày). Bệnh trở nên trầm trọng hơn do sự hình thành kháng insulin và mất cân bằng các tác nhân oxy hóa, tuy nhiên các cơ chế chuyển hóa và cơ chế tế bào vẫn chưa được hiểu rõ[19]

Một số nghiên cứu đã xác định được các yếu tố gây bệnh chủ yếu như: tình trạng mất cân bằng các tác nhân oxy hóa, sự gia tăng cytokine bất thường, rối loạn chuyển hóa axit béo và sự hình thành kháng insulin. Sự kết hợp của những yếu tố trên sẽ tấn công tế bào gan qua những tổn thương oxy hóa trực tiếp và hoại tử khối u yếu tố alpha (TNF-α), gây viêm hoặc chết tế bào. Bệnh NAFLD kéo dài qua 2 giai đoạn: giai đoạn đầu tiên là giai đoạn gan nhiễm mỡ, giai đoạn thứ hai được đặc trưng bởi bệnh viêm gan nhiễm mỡ (không do cồn, NASH) hoặc xơ gan nhiễm mỡ. Hiện nay, điều trị NAFLD tập trung vào việc đối phó với các nguy cơ gây bệnh như béo phì, tiểu đường, gia tăng lipid trong máu. 

Silymarin đã được chứng minh có tác dụng chống oxy hóa, kháng viêm và ức chế hiện tượng sinh tế bào sợi trong bệnh gan mãn tính. Trong một số mô hình thử nghiệm và những nghiên cứu lâm sàng, các nhà nghiên cứu khác nhau đã chứng minh được tác dụng có lợi của silymarin silibinin, phức hợp silybin-phospholipid và phức hợp silybin-vitamin E-phospholipid. Những thay đổi trong thành phần axit béo của lớp màng ty thể, gây ra bởi methionine và chế độ ăn uống thiếu choline, có thể được ngăn ngừa bằng cách sử dụng Silybin-phospholipid, giúp tăng khả năng kháng viêm và ức chế hiện tượng sinh tế bào sợi. Khả năng bị tổn thương của lớp màng lipid gia tăng do các tác động ôxy hoá, có thể bị hạn chế bởi Silybin-phospholipid thông qua chức năng bảo toàn các ty lạp thể . 

Silymarin và viêm gan siêu vi C[sửa | sửa mã nguồn]

Silymarin ức chế vi rút viêm gan C (HCV) qua khả năng chống oxy hóa, kháng viêm và điều hòa miễn dịch, góp phần làm tăng hiệu quả bảo vệ gan. Một số nghiên cứu lâm sàng trong đó sử dụng các chiết xuất thảo dược, đặc biệt là silymarin, để điều trị cho bệnh nhân viêm gan C mãn tính, với mục đích chứng minh rằng loại thuốc này thích ứng tốt với các chất kháng virus và giúp giảm thiểu các phản ứng phụ bất lợi. Các nghiên cứu gần đây cũng chỉ ra rằng silymarin có tác dụng làm giảm sự hình thành kháng insulin[20]. Điều này có ý nghĩa to lớn đối với những người mắc bệnh viêm gan C, thể hiện qua tỷ lệ đáp ứng virus bền vững (sustained virological response – SVR), cho thấy khi điều trị kết hợp silymarin với pegylated interferon và ribavirin thì lượng kháng insulin hình thành chỉ là một nửa (25-33%) so với những bệnh nhân không sử dụng silymarin – có lượng kháng insulin lên đến 60%. 

Silymarin và viêm gan siêu vi B[sửa | sửa mã nguồn]

Virus viêm gan B (HBV) là một trong những yếu tố nghiêm trọng nhất dẫn đến HCC. Các nghiên cứu trước đây cho thấy việc nhiễm HBV sẽ dẫn đến số lượng ROS (gốc oxy hóa tự do phổ biến) trong gan tăng lên và gây kích hoạt các gen liên quan đến mất cân bằng các tác nhân oxy hóa. Theo nghiên cứu của Wu và các cộng sự[21] cho thấy rằng cơ chế phân tử có tác dụng chống oxy hóa thông qua silymarin, bao gồm các gen liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến glutathione (GSH) trong quá trình trao đổi chất. Sự nhân lên của Idh2 tạo điều kiện cho việc hình thành NADPH và chuyển đổi GSH từ dạng bị oxy thành dạng rút gọn. Quá trình gia tăng GSH rút gọn tiếp tục tạo điều kiện cho việc loại bỏ các H2O2 trong tế bào. Ngoài ra, số lượng enzyme glutathione S-transferases gia tăng (Gstt2, Gsto1, Gstk1, và Mgst3) có chức năng tham gia vào các phản ứng liên hợp của GSH tới những chất eletrophin khác nhau, giúp GSH đạt đến nồng độ cao hơn. Hơn nữa, tăng cường điều chỉnh gen bởi silymarin và tham gia vào sự trao đổi chất glutamate, chu kỳ urê, và chu kỳ citrate có thể tất cả gián tiếp góp phần vào sự gia tăng của mức độ GSH và sự đảo sinh lý bệnh gan. 

Silymarin và ghép gan[sửa | sửa mã nguồn]

Các thử nghiệm của Ligeret và các cộng sự[22] với silibinin đã nghiên cứu ảnh hưởng của silibinin trên vết thương tái đẩy máu được bảo quản lạnh ở gan trên loài chuột. Họ nhận thấy rằng silibinin giảm những dấu hiệu của tình trạng mất cân bằng các tác nhân oxy hóa trong các tế bào gan và nó làm tăng giá trị ATP ti thể so với gan kiểm soát. Dựa trên những điều này, họ cho rằng có thể xem xét sử dụng silibinin trong những phương pháp hiện đại như ghép gan. Trong một mô hình thử nghiệm thiếu máu cục bộ / tái đẩy máu trên chuột Wistar, silymarin giảm các tổn thương do thiếu máu cục bộ ở thận. Các nhà nghiên cứu cho rằng silymarin rất thích hợp để đóng vai trò quan trọng cho các chiến lược điều trị mới để ngăn chặn tổn thương do thiếu máu cục bộ / tái đẩy máu. 

Silymarin và ung thư gan[sửa | sửa mã nguồn]

HCC là loại ung thư thứ ba phổ biến nhất gây tử vong trên toàn thế giới. Nó có thể được tìm thấy thường xuyên nhất (80-90%) ở bệnh nhân xơ gan. Các nguyên nhân thường gặp nhất của xơ gan là do viêm gan B mãn tính, nhiễm virut HCV và do tiêu thụ rượu mãn tính. Sự xuất hiện của HCC là khoảng 3-15% ở những bệnh nhân bị bệnh gan do rượu. Nguyên nhân khác của HCC có thể là: NASH, béo phì, tiểu đường, viêm gan tự miễn, viêm đường mật trong gan (xơ gan mật nguyên phát và xơ viêm đường mật nguyên phát), các bệnh chuyển hóa sắt và đồng (bệnh Wilson, haemochromatosis) và bẩm sinh thiếu men alpha-1-antitripsin. 

Silymarin đã được nghiên cứu rộng rãi để ngăn ngừa HCC[23]. Các flavonoid sinh học tích cực nhất, silibinin, ức chế cytochrome P4502E1 cảm ứng, chuyển hóa ethanol và thế hệ ROS trong các tế bào HCC trong ống nghiệm. Những hiệu ứng silibinin qua trung gian cũng ức chế tăng ethanol phụ thuộc vào tăng sinh tế bào HCC trong việc cấy. Ramakrishnan và các cộng sự đã chứng minh rằng việc điều trị silymarin ức chế sự tăng sinh và gây ra sự chết rụng tế bào trong HepG2 dòng tế bào HCC ở người. Silymarin có thể được sử dụng như một liệu pháp đầy hứa hẹn trong điều trị ung thư gan[24]

Silymarin và ung thư ngoài gan[sửa | sửa mã nguồn]

Những tác dụng chống ung thư của silymarin trong các khối u không ở trong gan đã được xác định trong một số nghiên cứu sinh học thực nghiệm và nghiên cứu lâm sàng; nó có tác dụng có lợi đối với sự ổn định tế bào sống và tế bào chết rụng cùng với việc kiểm soát sự can thiệp của cytokines vào chu kỳ tế bào và protein ảnh hưởng gây chết rụng tế bào. Thêm vào đó, hoạt động kháng viêm và tác dụng ức chế của silymarin trên sự phát triển của khối u ác tính cũng đã được phát hiện ra. Gần đây, silibinin cũng đã được chứng minh là có tác dụng chống ung thư đáng kể trong một loạt các mẫu vật thí nghiệm, bao gồm da, vú, phổi, dạ dày, ruột kết, bàng quang, tuyến tiền liệt và ung thư biểu mô thận. Silibinin hạn chế sự phát triển ung thư ruột kết và trực tràng bằng cách ức chế sự phát triển khối u trong tế bào, sự hình thành mạch và sự xâm chiếm của các tế bào ung thư phổi ở người thông qua việc giảm sản xuất chất hoạt hóa Urokinase-plasminogen và MMP-2. 

Công dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Cây kế sữa (Milk Thistle) đã được sử dụng rộng rãi như một phương thuốc dân gian điều trị các bệnh về gan. Nó được xem là một loại thảo dược an toàn và có khả năng dung nạp tốt vào cơ thể, giúp bảo vệ gan tránh khỏi các tổn thương do rượu hoặc thuốc gây ra. Trong các bệnh gan mãn tính gây ra bởi tình trạng mất cân bằng các tác nhân oxy hóa (bệnh gan nhiễm mỡ do cồn và không do cồn, nhiễm độc gan do hóa chất hoặc ma túy), các loại thuốc chống oxy hóa như silymarin (chiết xuất từ cây kế sữa) có thể mang lại nhiều lợi ích cho người bệnh. Xơ gan, gan nhiễm mỡ không do cồn và viêm gan nhiễm mỡ là các nguy cơ tiềm tàng gây ra bệnh ung thư biểu mô tế bào gan (HCC). Kháng insulin và tình trạng mất cân bằng các tác nhân oxy hóa là những cơ chế phát sinh bệnh chủ yếu dẫn đến tổn thương tế bào gan ở những bệnh nhân này. Silymarin có tác dụng ổn định màng tế bào, chống oxy hóa và thúc đẩy tái sinh tế bào gan. Ngoài ra, nó còn làm giảm khả năng viêm nhiễm ở gan, gây ức chế hiện tượng sinh tế bào sợi xảy ra trong gan. Theo các nghiên cứu gần đây, việc sử dụng silymarin trong thời gian dài giúp các bệnh nhân bị xơ gan do cồn sống lâu hơn. Silymarin cũng có thể làm giảm đáng kể sự phát triển tế bào ung thư, sự tạo mạch cũng như sự hình thành kháng insulin. Hơn nữa, silymarin có tác dụng chống xơ vữa động mạch, và ngăn chặn khối u hoại tử alpha ảnh hưởng đến sự sản sinh protein và mARN nhờ vào khả năng kết dính của các phân tử. Khả năng ngăn ngừa ung thư của silymarin trên HCC đã được chứng minh trong một số thí nghiệm nghiên cứu sinh học thực nghiệm và nghiên cứu lâm sàng; nó giúp điều hòa, kiểm soát số lượng tế bào sống và chết bằng cách can thiệp vào quá trình phân bào. Bên cạnh đó, khả năng kháng viêm và tác dụng ức chế của silymarin đối với sự phát triển của các di căn ung thư cũng đã được xác nhận. Một số nghiên cứu cũng đã chứng minh tác dụng của silibinin (thành phần hoạt tính sinh học chính của cây kế sữa) trong việc ức chế nhiều dòng tế bào ung thư, bao gồm ung thư tuyến tiền liệt, ruột kết, da, bàng quang và ung thư phổi.

Ngoài ra, cây kế sữa còn có thế có một số công dụng khác như ngăn cản quá trình oxy hóa LDL cholesterol thành các mảng bám vào thành động mạch, là nguyên nhân gây xơ vữa động mạch; giúp tăng cường nhu động ruột và ngăn cản sự nhiễm độc, làm sạch thận, hỗ trợ bài tiết; làm tan sỏi thận và sỏi mật; giúp làm dịu các cơn đau hành kinh và là một loại thảo dược tổng hợp hỗ trợ tiền kinh nguyệt rất có giá trị.

Khuyến cáo và chống chỉ định[sửa | sửa mã nguồn]

Các sản phẩm từ cây kế sữa thường được chuẩn hóa để chứa 70% đến 80% silymarin. Chiết xuất từ cây kế sữa thường được chuẩn hóa lên đến 70% silymarin, một liều thông thường sẽ là 200 mg 3 lần/ngày được cung cấp 420 mg silymarin.

Khi điều trị bệnh gan mãn tính, thời gian sử dụng ngắn nhất là 2 tháng cho đến vài năm và trong suốt tuổi thọ của bệnh nhân trong các trường hợp viêm gan mãn tính, xơ gan hoặc xơ hóa. Liều uống nên được cá nhân hóa cho từng bệnh nhân tùy theo tình trạng bệnh: 

  • Xơ gan: Silymarin, 280–450 mg/ngày chia làm 2-3 liều. 
  • Viêm gan mãn tính: Silipide, 160–480 mg/ngày hoặc silymarin 420 mg/ngày chia làm ba lần.
  • Viêm gan siêu vi cấp tính: Silymarin, 420 mg/ngày chia làm 3 lần. 
  • Nhiễm độc gan do dược/độc tố: Silymarin 280–420 mg/ngày chia làm 3 lần; có thể lên đến 800 mg /ngày.

Sử dụng cây kế sữa cũng có thể xảy ra những phản ứng phụ, tuy rất hiếm, bao gồm: nôn mữa, đau bụng, tiêu chảy, nhức đầu, rôm sảy, đau nhức khớp xương, bất lực (sinh lý), hơi thở ngắn và dồn dập, bất tỉnh,...

Chiết xuất silymarin từ cây kế sữa có thể tương tác với một số thuốc chữa bệnh khác như thuốc chữa bệnh tâm thần phân liệt (schizophrenia); thuốc trị bệnh tai biến mạch máu não; thuốc gây tê hay làm mất cảm giác (anesthesia).

Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú không nên sử dụng cây kế sữa.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ The Plant List (2010). Silybum marianum. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2013. 
  2. ^ Kroll DJ, Shaw HS, Oberlies NH. Milk Thistle nomenclature: why it matters in cancer research and pharmacokinetic studies. Integr Cancer Ther 2007; 6: 110-119
  3. ^ Saller, R.; Melzer, J.; Reichling, J.; Brignoli, R.; Meier, R. An updated systematic review of the pharmacology of silymarin. Forsch Komplementarmed, 2007, 14, 70-80.
  4. ^ Luper, S. A review of plants used in the treatment of liver diseases: Part 1. Altern. Med. Rev., 1998, 3, 410-421.
  5. ^ Schuppan, D.; Jia, J.; Brinkhaus, B.; Hahn, E.G. Herbal products for liver diseases: A therapeutic challenge for the new millennium. Hepatology, 1999, 30, 1099-104.
  6. ^ Gazak R, Walterova D, Kren V. Silybin and silymarin--new and emerging applications in medicine. Curr Med Chem 2007; 14: 315-338
  7. ^ Singh RP, Agarwal R. A cancer chemopreventive agent silibinin, targets mitogenic and survival signaling in prostate cancer. Mutat Res 2004; 555: 21-32
  8. ^ Muriel, P.; Garciapina, T.; Perez-Alvarez, V.; Mourella, M. Sily- marin protects against paracetamol-induced lipid peroxidation and liver damage. J. Appl. Toxicol, 2006, 12, 439-442.
  9. ^ Mourelle, M.; Muriel, P.; Favari, L.; Franco, T. Prevention of CCL4-induced liver cirrhosis by silymarin. Fund. Clin. Pharm., 2009, 3, 183-191.
  10. ^ Muriel, P.; Mourelle, M. Prevention by silymarin of membrane alterations in acute CCL4 liver damage. J. Appl. Tox., 2006, 10, 275-279.
  11. ^ Pradhan, S.C.; Girish, C. Hepatoprotective herbal drug, silymarin from experimental pharmacology to clinical medicine. Indian J. Med. Res., 2006, 124, 491-504.
  12. ^ Fehér, J.; Lengyel, G. Silymarin in the treatment of chronic liver diseases: past and future. (Hungarian) Orv. Hetil., 2008, 149, 2413- 2418.
  13. ^ Huang, C.H.; Chang, Y.Y.; Liu, C.W.; Kang, W.Y.; Lin, Y.; Chang, H.C.; Chen, Y.C. Fruiting body of Niuchangchih (Antrodia camphorata) protects livers against chronic alcohol consumption damage. J. Agric. Food Chem., 2010, 58, 3859-3866.
  14. ^ Shaarawy, S.M.; Tohamy, A.A.; Elgendy, S.M.; Elmageed, Z.Y.; Bahnasy, A.; Mohamed, M.S.; Kandil, E.; Matrougui, K. Protective effects of garlic and silymarin on NDEA-induced rats hepatotoxic- ity. Int. J. Biol. Sci., 2009, 5, 549-557.
  15. ^ Fehér, J.; Deák, Gy; Müzes, Gy.; Láng, I.; Niederland, V; Nékám, K.; Kárteszi, M Liver-protective action of silymarin therapy in chronic alcoholic liver diseases.(Hungarian) Orv. Hetil, 1989, 130, 2723-2727.
  16. ^ Müzes, Gy.; Deák, Gy.; Láng, I.; Nékám, K.; Niederland, V.; Fehér . Effect of silimarin (Legalon) therapy on the antioxidant defense mechanism and lipid peroxidation in alcoholic liver disease (dou- ble-blind protocol). (Hung.) Orv. Hetil., 1990, 131, 863-866.
  17. ^ [12] Fehér, J.; Nékám, K.; Müzes, Gy.; Deák, Gy. Effect of free radical scavengers on superoxide dismutase (SOD) enzyme in patients with alcoholic cirrhosis. Acta Med. Hung., 1988, 45, 265-276.
  18. ^ Blázovics, A.; Fehér, J. Oxidative Stress and Liver. In: Hepatolo- gia; Fehér, J.; Lengyel, G, Eds.; Medicina: Budapest, 2001; pp. 50- 88.
  19. ^ Fehér, J.; Váli, L.; Blázovics, A.; Lengyel, G. The beneficial effect of metadoxine (pyridoxine- pyrrolidone-carboxylate) in the treatment of fatty liver diseases.Clin.Exp.Med. J., 2009, 3,65-79.
  20. ^ Lirussi, F.; Beccarello, A.; Zanette, G.; De Monte, A.; Donadon, V .; Velussi, M.; Crepaldi, G. Silybin-beta-cyclodextrin in the treatment of patients with diabetes mellitus and alcoholic liver disease. Efficacy study of a new preparation of an anti-oxidant agent. Diabetes Nutr. Metab., 2002, 15, 222-231.
  21. ^ Wu, Y.F.; Fu, S.L.; Kao, C.H.; Yang, C.W.; Lin, C.H.; Hsu, M.T.; Tsai, T.F. Chemopreventive effect of silymarin on liver pathology in HBV X protein transgenic mice. Cancer Res., 2008, 68.
  22. ^ Ligeret, H.; Brault, A.;Vallerand, D.; Haddad, Y.; Haddad, P.S. Antioxidant and mitochondrial protective effects of silibinin in cold preservation-warm reperfusion liver injury. J. Ethnopharm., 2008, 115, 507-514.
  23. ^ Feher, J.; Lengyel, G. Silymarin in the Treatment of Chronic Liver Diseases: Past and Future. Clin. Exp. Med. J., 2009, 3, 403-413.
  24. ^ Ramakrishnan, G.;Augustine, TA.; Jagan, S.;Vinondhkumar, R: Devaki, T. Effect of silymarin on N-nitrosodiethylamine induced hepatocarcinogenesis in rats. Exp Oncol., 2007, 29, 39-44.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]