Sim (thực vật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sim
Hoa sim ở Đại Lải.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Rosids
Bộ (ordo) Myrtales
Họ (familia) Myrtaceae
Chi (genus) Rhodomyrtus
Loài (species) R. tomentosa
Danh pháp hai phần
Rhodomyrtus tomentosa
(Aiton) Hassk.

Sim (tên khoa học: Rhodomyrtus tomentosa), còn gọi là hồng sim, đào kim nương, cương nhẫm, dương lê là một loài thực vật có hoa thuộc họ Myrtaceae, có nguồn gốc bản địa ở khu vực nam và đông nam Á, từ Ấn Độ về phía đông tới miền Nam Trung Quốc, Đài LoanPhilippines, và về phía nam tới MalaysiaSulawesi. Loài này thường mọc ở ven biển, trong rừng tự nhiên, ven sông suối, trong các rừng ngập nước, rừng ẩm ướt, và tại độ cao đến 2400 m so với mực nước biển[1].

Hoa[sửa | sửa mã nguồn]

Hoa thường nở rộ vào mùa hè với màu tím. Hoa sim là biểu tượng mà nhiều đôi trai gái miền quê dùng để bày tỏ tình cảm và cũng là biểu tượng của sự chung thủy.

Hoa sim trong nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Một bụi sim

Việt Nam, có một số nhà thơ, nhạc sĩ đã sáng tác những tác phẩm về hoa sim. Nhiều người Việt Nam biết tới bài thơ "Màu tím hoa sim" (thơ Hữu Loan). Chính nó đã tạo nguồn cảm hứng cho nhiều nhạc sĩ sáng tác nên nhiều ca khúc về sim, có thể kể đến:

và hoa sim cũng từ đấy trở thành một hình ảnh ưa chuộng trong sáng tác, ví dụ:

Rễ, lá và quả[sửa | sửa mã nguồn]

Rễ, lá và trái sim được dùng làm dược liệu trong y học cổ truyền Việt Nam và Trung Quốc, có tác dụng bổ huyết, an thai. Tại Trung Quốc: Sim được ghi chép trong Bản thảo cương mục thành 2 vị thuốc: trái là đào kim nương hay sơn niệm tử, còn rễ là sơn niệm căn. Sim được xem là có vị ngọt/chát, tính bình. Quả sim được cư dân các vùng miền núi hái ăn chơi, và trước đây có bày bán ở chợ. Ở Phú Quốc, quả sim còn được khai thác để làm các món đặc sản như Mật sim hay Rượu sim.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hosaka and Thistle, 1954 in Langeland and Burks, 1999