Stephen Hawking
| Stephen Hawking | |
|---|---|
Stephen Hawking tại NASA trong những năm 1980
|
|
| Sinh | 8 tháng 1, 1942 Oxford, Anh |
| Nơi cư trú | Vương quốc Anh |
| Quốc tịch | |
| Ngành | Toán học ứng dụng và Vật lý |
| Nơi công tác | Đại học Cambridge |
| Học trường | Đại học Oxford Đại học Cambridge |
| Người hướng dẫn luận án tiến sĩ | Dennis Sciama |
| Các sinh viên nổi tiếng | Bruce Allen Fay Dowker Malcolm Perry Bernard J. Carr Gary Gibbons |
| Nổi tiếng vì | Hố đen Vật lý vũ trụ Hấp dẫn lượng tử |
| Giải thưởng | Giải Lilienfeld (1999) Huy chương Copley (2006) |
Stephen William Hawking là một nhà vật lý người Anh. Trong nhiều thập kỉ, ông được coi là ông hoàng vật lý lý thuyết của thế giới. Hawking hiện là giáo sư Lucasian, chức danh dành cho giáo sư toán học của Đại học Cambridge. Từng đảm nhiệm vị trí này là những nhà khoa học xuất chúng như Isaac Newton và Paul Dirac.
Mục lục |
Tiểu sử [sửa]
Hawking sinh ngày 8 tháng 1 năm 1942, tại Oxford, Anh quốc đúng 300 năm sau ngày mất của Galileo. Cha mẹ ông là Frank và Isobel Hawking, trước Đệ nhị thế chiến họ sống ở miền bắc Luân Đôn nhưng sau đó chuyển đến Oxford cho an toàn. Hai năm cuối ở trung học St Albans, Oxford, Hawking rất thích thú với môn toán vì có cảm hứng từ một người thầy ở trường này. Nhưng cha ông, một dược sỹ lại phản đối ý kiến của con trai mà muốn ông học ngành hóa học. Một phần bị thuyết phục bởi người cha, sau khi tốt nghiệp, Hawking theo học University College ở Oxford, đây chính là trường mà cha ông từng theo học trước đây. Nhưng trường này không có ngành toán, chính vì thế mà ông theo học ngành vật lý và tốt nghiệp loại xuất sắc. Sau đó ông chuyển đến Đại học Cambridge để tiếp tục theo đuổi luận án tiến sỹ về vũ trụ học.
Trong thời gian làm luận án, người ta phát hiện ra Hawking bị mắc một chứng bệnh về thần kinh có tên là bệnh Lou Gehrig làm ông gần như mất hết khả năng cử động, luôn phải gắn chặt vào xe lăn. Ngoài ra, sau lần phẫu thuật cắt khí quản, ông chỉ có thể nói được nhờ một thiết bị phát âm gắn với một máy tính được ông gõ chữ vào đó. Các bác sỹ cho rằng ông không sống lâu để có thể hoàn thành luận án tiến sỹ. Năm 1965, Hawking kết hôn với Jane Wilde, một sinh viên ngôn ngữ. Hawking cho rằng đây là một bước ngoặt trong cuộc đời ông. Kết quả là ông đã hoàn thành luận án vào năm 1966. Lúc bấy giờ, chưa có ai nghiên cứu về ngành khoa học này ở đại học Cambridge. Người hướng dẫn của ông là Denis Sciama chứ không phải là người mà ông trông đợi là Fred Hoyle. Bảo vệ luận án tiến sỹ xong, ông làm nghiên cứu một thời gian cho viện Thiên văn học rồi chuyển đến khoa Toán học ứng dụng và Vật lý lý thuyết của Cambridge (năm 1977) và làm việc từ đó cho đến ngày nay.
Năm 1990, ông đã nhận một cô bé người Việt sinh năm 1980 là Nguyễn Thị Thu Nhàn đang sống tại làng trẻ em SOS Hà Nội làm con nuôi, và ông đã sang Việt Nam năm 1997 để thăm cô.[1]
Tháng 4 năm 2010, ông đã phát biểu một bài diễn văn về người ngoài hành tinh. Ông cho rằng người ngoài hành tinh có thể có thật và giả sử như họ đến Trái Đất thì chúng ta nên tránh tiếp xúc với họ vì họ sẽ giống như người Châu Âu ngày xưa khám phá ra Châu Mĩ (là Trái Đất). Họ sẽ xâm lăng và đô hộ Trái Đất nhằm mục đích lấy tài nguyên đã cạn kiệt ở hành tinh họ.[2]
Hawking kết hôn hai lần, lần đầu năm 1965 với Jane Wilde. Hai người sống với nhau đến năm 1990 thì ly thân. Họ có ba người con là Robert, Lucy, và Timothy. Năm 1995, Hawking kết hôn với trợ lý chăm sóc cá nhân của mình là Elaine Mason. Đến tháng 10 năm 2006, họ ly dị. Năm 1999, Jane Hawking xuất bản cuốn hồi ký "Music to move the Stars", miêu tả chi tiết cuộc hôn nhân và các sự cố của nó. Năm 2010, Jane xuất bản một phiên bản sửa đổi là "Travelling to Infinity, My Life with Stephen".
Về căn bệnh của Hawking, các bác sĩ cho rằng bệnh của ông tiến triển khá chậm so với các trường hợp thông thường. Hawking nói đó là một sự may mắn. Quả thật, căn bệnh cũng không mấy cản trở sự nghiệp nghiên cứu khoa học miệt mài của Hawking. Hiện tại, nhà khoa học có thể sử dụng má của mình để nhập dữ liệu vào một máy tính kết nối đến não, qua đó xây dựng các câu nói hoàn chỉnh, thậm chí là những bài diễn văn.
Sự nghiệp nghiên cứu khoa học [sửa]
Lĩnh vực chính của Hawking là nghiên cứu lý thuyết vũ trụ học và hấp dẫn lượng tử. Năm 1971, ông đưa ra các công trình toán học ủng hộ cho lý thuyết Vụ nổ lớn về nguồn gốc vũ trụ: nếu lý thuyết tương đối rộng là đúng thì vũ trụ cần phải có một điểm kì dị, một điểm khởi đầu trong không thời gian. Ông còn cho rằng, sau Vụ nổ lớn, các hố đen nguyên thủy hoặc các hố đen siêu nhỏ được hình thành. Ông chứng minh rằng diện tích bề mặt của hố đen không bao giờ giảm, rằng tồn tại một giới hạn trong quá trình phát xạ khi các hố đen va vào nhau, và rằng một hố đen không thể bị tách thành hai hố đen riêng biệt. Năm 1974, các tính toán của ông cho thấy các hố đen có thể tạo và phát ra các hạt hạ nguyên tử cho đến khi chúng cạn kiệt năng lượng và bị nổ tung. Lần đầu tiên ông đưa ra bức xạ Hawking có liên quan đến sự hấp dẫn, cơ học lượng tử và nhiệt động lực học. Năm 1981, Hawking cho rằng vũ trụ không có biên nhưng lại hữu hạn trong không thời gian và năm 1983 ông đã chứng minh điều này bằng toán học.
Trong năm 2007, Hawking đã làm một chuyến bay không trọng lượng trong tàu "Vomit Comet". Ông trở thành người liệt tứ chi đầu tiên trải nghiệm sự trôi nổi trong môi trường không trọng lượng. Trước chuyến bay Hawking nói: "Nhiều người đã hỏi tôi tại sao tôi đang tham gia chuyến bay này, tôi làm nó vì nhiều lý do. Trước hết, tôi tin rằng cuộc sống trên Trái Đất có nguy cơ bị xóa sổ ngày càng tăng bởi một thảm họa như chiến tranh hạt nhân bất ngờ, một loại virus biến đổi gen, hoặc các nguy cơ khác. Tôi cho rằng loài người sẽ không có tương lai nếu không đi vào không gian. Vì vậy, tôi muốn khuyến khích sự quan tâm của công chúng với không gian".
Nghịch lý Hawking [sửa]
Đây là một hệ quả khó hiểu do chính Hawking rút ra từ các lý thuyết của ông xoay quanh việc giải thích hiện tựợng hố đen.
Để giải thích được hiện tượng này, đòi hỏi có một lý thuyết mới thống nhất được giữa Vật lý lượng tử và lý thuyết tương đối tổng quát. Stephen Hawking đã thành công trong việc đưa ra một lý thuyết mới giải thích được hiện tượng hố đen. Mặc dù lý thuyết này ban đầu đã được giới các nhà vật lý học chấp nhận rộng rãi trong các thập niên cuối thế kỉ 20 và còn được dùng để giải thích nguồn gốc lịch sử của vũ trụ, nó tiềm ẩn trong đó nhiều kết luận bất ngờ.
- Ban đầu, Hawking tin rằng hố đen có phát ra một dạng bức xạ năng lượng mang tên là bức xạ Hawking (Hawking radiation) và đây là nguyên do khiến cho một hố đen có thể bị "bốc hơi" (evaporate) và ngay cả biến mất.
- Đến năm 1976, trong bài báo đăng trên Physical Review, Hawking lập luận xa hơn một bước có thể dẫn đến sụp đổ nền móng tin tưởng của các nhà vật lý hiện đại, đó là việc ông dựa trên lý thuyết của mình để kết luận rằng: "The breakdown of predictability in gravitational collapse" (tức là việc thất bại của các khả năng tiên đoán trong sự sụp đổ của lực hấp dẫn). Theo Hawking, không chỉ vật chất bị biến mất mà cả thông tin về mọi sự việc bên trong hố đen cũng bị biến mất. Và nếu như thế, thì khoa học sẽ không thể biết được quá khứ hay dự đoán tương lai. Một cách nôm na là khái niệm thời gian không thể có trong hố đen.
Đây chính là nội dung của nghịch lý đã tạo nhiều bàn cãi và tìm kiếm trong hơn hai thập niên, cho đến khi nhà toán học trẻ tuổi người Agentine Juan Maldacena chứng minh được rằng thông tin không bị mất trong lỗ đen.
Vào tháng 7 năm 2004, Hawking cuối cùng đã đưa ra một kết luận đi ngược với tin tưởng của ông trong suốt nhiều thập niên trước, và, với các tính toán mới, ông cho rằng trên chân trời sự kiện, tức là bề mặt của hố đen, các lượng tử dao động trong đó[cần dẫn nguồn]. Những dao động này sẽ lần lượt cho phép tất cả thông tin bên trong lỗ đen bị rỉ ra ngoài; do đó, cho phép chúng ta có được một bức tranh xác lập. Điều này giải quyết dứt điểm nghịch lý Hawking.
Quan điểm tôn giáo và triết học [sửa]
Hawking tuyên bố rằng vũ trụ xuất phát từ một vụ nổ lớn (thuyết Big Bang), chứ không phải do một bàn tay quyền năng của Chúa Trời tạo nên. [1]
Trong tác phẩm đầu tay của mình, "A brief history of time" (Lược sử thời gian), Hawking cho rằng sự tồn tại của Thiên Chúa là không cần thiết để giải thích nguồn gốc của vũ trụ. Jane Wilde trong các cuốn sách của mình cũng mô tả ông là một người vô thần. Hawking đã tuyên bố rằng ông "không tôn giáo theo nghĩa thông thường" và ông tin rằng "vũ trụ bị chi phối bởi các định luật khoa học. Các luật này có thể được ấn định bởi Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa không thể can thiệp để phá vỡ các quy luật ". Trong một cuộc phỏng vấn trên tờ The Guardian, Hawking coi các khái niệm về thiên đàng như một huyền thoại, ông tin rằng có "không có thiên đường hay thế giới bên kia" và một quan niệm như vậy là một "câu chuyện cổ tích cho những người sợ bóng tối".
Tại Hội nghị Zeitgeist của Google trong năm 2011, Hawking nói rằng "triết học là chết." Ông tin rằng triết học "đã không theo kịp với sự phát triển hiện đại của khoa học", và các nhà khoa học đã trở thành những người mang ngọn đuốc dẫn đầu cho nhiệm vụ khám phá tri thức. Hawking tin vấn đề triết học có thể được trả lời bằng khoa học, đặc biệt là những lý thuyết khoa học mới sẽ dẫn chúng ta đến một hình ảnh mới rất khác về vũ trụ và vị trí của chúng ta trong vũ trụ đó. [2]
Các giải thưởng [sửa]
- 1975 Huy chương Eddington
- 1976 Huy chương Hughes của Hội hoàng gia Luân Đôn
- 1979 Huy chương Albert Einstein
- 1981 Franklin Medal
- 1982 Order of the British Empire (Commander)
- 1985 Huy chương vàng của Hội Thiên văn học Hoàng gia
- 1986 Viện sĩ Viện hàn lâm giáo hoàng về Khoa học
- 1988 Giải Wolf trong vật lý
- 1989 Giải thưởng Hoàng tử xứ Asturias về Concord
- 1989 Companion of Honour
- 1999 Giải Lilienfeld của Hội Vật lý Hoa Kỳ[3]
- 2002 BBC sau một cuộc khảo sát lớn ở Anh đã chọn ông là một trong 100 người vĩ đại nhất nước Anh
- 2003 Michelson Morley Award of Case Western Reserve University
- 2006 Copley Medal of the Royal Society[4]
- 2008 Fonseca Price of the University of Santiago de Compostela[5]
- 2009 Huân chương Tự do Tổng thống, giải thưởng danh giá nhất dành cho công dân Hoa Kỳ[6]
Tác phẩm [sửa]
Chuyên ngành [sửa]
- Singularities in Collapsing Stars and Expanding Universes với Dennis William Sciama, 1969 Thảo luận về Vật lý thiên văn và Không gian Vol 1 #1
- Cấu trúc vĩ mô của không-thời gian, với George Ellis 1973 ISBN 0-521-09906-4
- The Nature of Space and Time with Roger Penrose, foreword by Michael Atiyah, New Jersey: Princeton University Press, 1996, ISBN 0-691-05084-8
- The Large, the Small, and the Human Mind, (with Abner Shimony, Nancy Cartwright, and Roger Penrose), Cambridge University Press, 1997, ISBN 0-521-56330-5 (hardback), ISBN 0-521-65538-2 (paperback), Canto edition: ISBN 0-521-78572-3
- Information Loss in Black Holes, Cambridge University Press, 2005
- God Created the Integers: The Mathematical Breakthroughs That Changed History, Running Press, 2005 ISBN 0-7624-1922-9
Phổ thông [sửa]
- Stephen Hawking, A Brief History of Time, Bantam, 1988.
- Bản tiếng Việt: Lược sử thời gian, Cao Chi và Phạm Văn Thiều dịch, Hà Nội: Nxb Khoa học và Kỹ thuật, 1995; xem online
- Stephen Hawking, Black Holes and Baby Universes and Other Essays, Bantam Books, 1993
- Stephen Hawking, The Universe in a Nutshell, Bantam, 2001.
- Bản tiếng Việt: Vũ trụ trong vỏ hạt dẻ, Nguyễn Tiến Dũng và Vũ Hồng Nam dịch, Đặng Vĩnh Thiên và Chu Hảo hiệu đính, Tp.HCM: Nxb Trẻ & Tạp chí Tia Sáng, 2004
- Bản dịch khác: Vũ trụ trong một vỏ hạt, Dạ Trạch dịch
- On The Shoulders of Giants. The Great Works of Physics and Astronomy, (Running Press 2002) ISBN 0-7624-1698-X
- A Briefer History of Time, cùng viết với nhà vật lý người Mỹ sinh năm 1954 Leonard Mlodinow, (Bantam Books 2005) ISBN 0-553-80436-7
- The Grand Design, cùng viết với Leonard Mlodinow, (Bantam Press 2010) ISBN 0-553-80537-1
Ghi chú: Trên trang web của mình, Hawking phản đối việc xuất bản lậu cuốn The Theory of Everything và kêu gọi mọi người tẩy chay cuốn sách đó.
Xem thêm [sửa]
Ghi chú [sửa]
- ^ Hawking và cô con gái nuôi từ Việt Nam, bản sao chép
- ^ “Aliens may exist but contact would hurt humans: Hawking” (bằng Tiếng Anh). 25 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2010.
- ^ “Julius Edgar Lilienfeld Prize”. American Physical Society. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2008.
- ^ “Oldest, space-travelled, science prize awarded to Hawking”. The Royal Society. 24 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2008.
- ^ “Fonseca Prize 2008”. University of Santiago de Compostela. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2009.
- ^ “Hawking receives honour from Obama”. Luân Đôn: Guardian. 13 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2009.
Liên kết ngoài [sửa]
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về: Stephen Hawking. |
| Tìm thêm về Stephen Hawking tại những đồng dự án của Wikipedia: | |
| Từ điển ở Wiktionary |
|
| Sách ở Wikibooks |
|
| Cẩm nang du lịch ở Wikivoyage |
|
| Hồ sơ ở Wikiquote |
|
| Văn kiện ở Wikisource |
|
| Hình ảnh và phương tiện ở Commons |
|
| Tin tức ở Wikinews |
|
| Tài liệu giáo dục ở Wikiversity |
|
- magento tutorials
- Black holes and the Hawking paradox
- Information News
- Media of Science Discovery chanel: "The Hawking Paradox". Boardcast in Oct 28, 2006
- Stephen Hawking's site
- Emma Ross, Stephen Hawking's Birthday Celebrated, 7 January 2002, LA Times
- Hawking celebrates own brief history, 7 January 2002, BBC
- Black holes turned "inside out", 22 July 2004, BBC
- Colonies in space may be only hope, says Hawking 16 October 2001, The Daily Telegraph
Tiếng Việt [sửa]
- Gặp Stephen Hawking, nhà vật lý thiên văn số 1 thế giới thế kỷ 20-21
- Đứa trẻ hiếu kỳ
- Vật lộn với bệnh tật
- Đòi lại công lý cho Galile
- Tiểu sử Stephen William Hawking