Vườn quốc gia Sundarbans

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Sundarbans)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Khu bảo tồn Sundarbans
Di sản thế giới UNESCO

Sun in Sunderbans.jpg
Quốc gia  Bangladesh
Dạng Thiên nhiên
Tiêu chuẩn ix, x
Tham khảo 798
Vùng Châu Á và châu Đại Dương
Lịch sử công nhận
Công nhận 1997  (Kỳ họp thứ 21)
* Dịch từ tên chính thức trên danh sách Di sản thế giới.
Vùng được UNESCO phân loại chính thức.
Vườn quốc gia Sundarbans, Tây Bengal, Ấn Độ
Di sản thế giới UNESCO

Sundarban mangrove.jpg
Quốc gia Flag of India.svg Ấn Độ
Dạng Thiên nhiên
Tiêu chuẩn ix, x
Tham khảo 452
Vùng Châu Á và châu Đại Dương
Lịch sử công nhận
Công nhận 1987  (Kỳ họp thứ 11)
* Dịch từ tên chính thức trên danh sách Di sản thế giới.
Vùng được UNESCO phân loại chính thức.

Sundarbans (tiếng Bengal: সুন্দরবন জাতীয় উদ্দ্যান) là một trong những khu rừng lớn nhất trên thế giới (140.000 ha), nằm trên vùng đồng bằng của sông Hằng, sông BrahmaputraMeghna đổ ra vịnh Bengal. Phần lớn của Sundarbans nằm ở Bangladesh (ở các phía Đông, Nam, Bắc) trong khi phần còn lại thuộc Tây Bengal, Ấn Độ) nằm ở phía Tây. Khu vực bao gồm một mạng lưới các kênh rạch, đảo nhỏ, bãi bùn với hệ thực vật rừng ngập mặn, là khu vực sinh thái điển hình có sự đa dạng sinh học cao. Đây là khu vực sinh sống của loài hổ Bengal, các loài bò sát (cá sấu nước mặn, trăn Ấn Độ) cùng 260 loài chim cùng số lượng lớn các loài động vật không xương sống.

Mục lục

Tên [sửa]

Sundarban được dịch nghĩa là "khu rừng đẹp" trong ngôn ngữ Bengali ( Shundor, "đẹp" và bon, "rừng"). Tên gọi này có thể được bắt nguồn từ Sundari, là một loại cây có số lượng rất lớn được tìm thấy ở Sundarbans.

Lịch sử [sửa]

Lịch sử của khu vực này cách đây khoảng 200-300 năm sau CN, một thành phố đã đổ nát được xây dựng bởi Chand Sadagar được tìm thấy rừng Baghmara thuộc Sundarbans. Trong giai đoạn Mughal, Sundarbans được cho dân thuê. Thế kỷ 17, nơi đây bị những tên cướp biển Bồ Đào Nha và những kẻ buôn lậu muối chi phối. Bằng chứng tìm thấy tại Netidhopani và nhiều nơi khác nằm rải rác ở Sundarbans. Hệ thống quản lý đường rừng bắt đầu vào những năm 1860 dưới thời thuộc địa Anh sau khi thành lập Cục Kiểm lâm trong tỉnh Bengal với những lao động là người địa phương.

Phân ban quản lý rừng đầu tiên có thẩm quyền quản lý Sundarbans được thành lập vào năm 1869. Năm 1875, một phần lớn của rừng ngập mặn được quản lý như là khu dự trữ, quy định trong văn bản luật (Đạo Luật VIII năm 1865). Các phần còn lại của các khu rừng đã được tuyên bố khu dự trữ vào các năm sau đó, được quản lý bởi chính quyền dân sự cấp huyện, nhưng vẫn được đặt dưới sự kiểm soát của Cục Kiểm lâm.

Năm 1911, nơi đây đã được mô tả như là một tuyến đường sông bị ô nhiễm trải dài 266 km từ cửa sông Meghna tới các huyện Parganas , Khulna và Bakerganj. Tổng diện tích (kể cả mặt nước) đã được ước tính khoảng 16.902 km 2 với nhiều động vật bao gồm hổ và bò sát. Sau đó, nhờ những nỗ lực, Sundarbans đã trở thành tuyến giao thông cho tàu hơi nước và thuyền của dân bản đại qua lại, với các con kênh, lạch

Địa lý [sửa]

Sundarban nằm trong vùng đồng bằng rộng lớn ven vịnh Bengal, được hình thành bởi hợp lưu của sông Hằng, Brahmaputra và Meghna, miền Nam Bangladesh và Đông Ấn Độ. Đây là rừng ngập mặn cửa sông lớn nhất thế giới bao gồm khu vực ngập nước theo mùa bao gồm rừng và đầm lầy nước ngọt nằm trong nội địa, còn rừng ngập mặn ở rìa ven biển. Tổng diện tích bao gồm 10.000 km², trong đó khoảng 6.000 km² là ở Bangladesh.

Phần thuộc Ấn Độ được ghi vào danh sách di sản thế giới vào năm 1987 trong khi khu vực thuộc Bangladesh vào danh sách di sản thế giới vào năm 1997 và là một khu dự trữ sinh quyển thế giới. Sundarbans được ước tính là khoảng 4.110 km², trong đó khoảng 1.700 km² khu vực ngập nước bởi các con sông, kênh, mương lạch.

Sundarbans được giao nhau bởi một mạng lưới phức tạp của các bãi triều , bãi bùn và các hòn đảo nhỏ của rừng ngập mặn. Mạng kết nối với nhau đường thủy làm cho hầu như mọi ngóc ngách của khu vực có thể đi được bằng thuyền nhỏ. Đây là nơi sinh sống của loài hổ Bengal ( Panthera tigris tigris ), cũng như các loài động vật quý hiếm bao gồm: các loài chim , hươu , cá sấu và trăn .Ngoài ra, Sundarbans là một khu vực sinh thái quan trọng như là một hàng rào bảo vệ cho hàng triệu người dân ở Khulna và Mongla trước lũ lụt và các cơn bão nhiệt đới . Sundarbans cũng đã là một địa điểm lọt vào tới vòng chung kết 7 kỳ quan thiên nhiên.

Địa chất [sửa]

Đây là môi trường tự nhiên của rất nhiều các loài động thực vật với những bãi biển, khu vực cửa sông, đầm lầy, bãi triều, lạch thủy triều, cồn cát ven biển...được hỗ trợ bởi thảm thực vật bãi bồi, rừng ngập mặn giữ trầm tích.

Sinh thái [sửa]

Hai vùng sinh thái chủ yếu ở Sundarbans bao gồm rừng ngập mặnrừng đầm lầy

Rừng ngập mặn [sửa]

Vùng sinh thái rừng ngập mặn Sundarbans nằm tại vùng đồng bằng ven bờ biển và là hệ sinh thái rừng ngập mặn lớn nhất thế giới , với diện tích 20.400 km2 bao gồm số lượng lớn các loài: Heritiera fomes (cây Sundari, một loài thực vật bản địa điển hình). Bên cạnh đó là các loài khác tạo nên sự đa dạng bao gồm Avicennia spp, Xylocarpus mekongensis, Su ổi, Sonneratia apetala, Vẹt gymnorrhiza, Cereops decandra, , chi Đước (Rhizophora mucronata), và dừa nước.

Rừng đầm lầy [sửa]

Rừng đầm lầy nước ngọt Sundarbans là một vùng sinh thái rừng nhiệt đới ẩm, lá rộng của Bangladesh . Nó đại diện cho rừng đầm lầy nước lợ nằm phía trong, sau rừng ngập mặn Sundarbans, với độ mặn thấp hơn. Vùng sinh thái nước lợ này trở nên ngọt hơn trong mùa mưa, khi nước từ sông Hằng và sông Brahmaputra đổ ra biển, đẩy nước mặn xâm lấn và kéo theo lượng phù sa màu mỡ. Diện tích cùa vùng rừng này là 14.600 km² ở vùng đồng bằng sông Hằng-Brahmaputra, kéo dài từ phía bắc của huyện Khulna tới cửa Vịnh Bengal với một phần mở rộng ra bang Tây Bengal của Ấn Độ. Rừng đầm lầy nước ngọt Sundarbans nằm giữa vùng thấp nhưng cao hơn vùng rừng rụng lá ở đồng bằng.

Hàng trăm năm, nơi đây là nơi cư trú và khai thác tài nguyên của con người, con người đã phải gánh những thiệt hại nặng nề về thiên tai bởi tình trạng khai thác quá mức khiến môi trường sống bị thay đổi. Có hai khu vực được bảo vệ - Narendrapur (110 km 2 ) và Ata Danga Baor (20 km 2 ) bao gồm chỉ 130 km 2 vùng sinh thái. Mất môi trường sống trong vùng sinh thái, môi trường sống còn lại sẽ bị phân tán và rất khó để xác định các thành phần của thảm thực vật ban đầu. Theo Champion và Seth (1968), rừng đầm lầy nước ngọt được đặc trưng bởi Heritiera, Xylocarpus molluccensis , Vẹt conjugata , Sonneratia apetala , Mắm đen , Pandanus tectorius , Hibiscus tiliaceus , và Nipa fruticans.

Khí hậu [sửa]

Nhiệt độ ở đây khoảng từ 20°C - 48°C, lượng mưa lớn, độ ẩm cao tới 80% do có vị trí gần vịnh Bengal . Gió mùa kéo dài từ giữa tháng 6 đến giữa tháng 9. Gió mùa đông bắc từ tháng 10 đến giữa tháng 3 còn gió mùa Tây nam chiếm ưu thế từ giữa tháng 3 đến tháng 9. Bão thường xuất hiện trong tháng 5 và tháng 10.

Động thực vật [sửa]

Thực vật [sửa]

Thảm thực vật ngập mặn Sundarbans bao gồm 64 loài thực vật có khả năng sống được trong môi trường nước ở cửa sông và ngập mặn. Tháng 4, 5, khu rừng ngập màu sắc với màu lá đỏ ( Excoecaria agallocha), những bông hoa đỏ của cây Kankra (Vẹt gymnorrhiza) màu vàng của Khalsi (Aegiceras corniculatum)...và một số loài cây khác như Dhundal (Xylocarpus granatum), Passur (Xylocarpus mekongensis), Garjan (Rhizophora spp.), Sundari ( Heritiera fomes) và Goran (Ceriops decandra).

Động vật [sửa]

Sundarbans là nơi sinh sống của hơn 400 con hổ Belgan. Chúng sinh sống và phát triển, thích ứng với việc bơi lội, di chuyển trong vùng ngập nước. Ngoài ra là rất nhiều các loài quý hiếm bao gồm: mèo cá, mèo Leopard, mèo rừng, khỉ, heo rừng, cầy xám Ấn Độ, cáo, cáo bay, tê tê, nai trục...cũng được tìm thấy trong sự phong phú trong Sundarbans.

Vườn quốc gia phong phú với các loài chim : cò openbill, chim ibis đầu đen, gà nước, chim cút, diều đen, diều lửa , diều mướp đầm lầy, gà gô đầm lầy, diệc, gà rừng lông đỏ, cu gáy, sáo nâu, quạ đen, khướu Jungle, le khoang cổ, , nhàn Caspia, diệc xám, dẽ giun thường, choắt bụng xám, cu xanh, vẹt cổ hồng, Terpsiphone, chim cốc, diều cá đầu xám, đại bàng bụng trắng, mòng biển, bồng chanh, cắt lớn, gõ kiến, Choắt mỏ cong bé, chim Godwit đuôi đen, dẽ nhỏ, dẽ lớn ngực đốm, vịt mốc, choi choi vàng, vịt nâu đỏ, le nâu.

Bò sát và lưỡng cư phong phú đa dạng bao gồm cá sấu nước mặn, trăn, rắn, ếch cây...cùng rất nhiều các loài có nguy cơ tuyệt chủng như : cá heo sông Hằng, rùa đất, rùa biển...

Liên kết ngoài [sửa]