Sunderland A.F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sunderland
Biểu tượng Sunderland
Tên đầy đủ Câu lạc bộ bóng đá Sunderland
Biệt danh Những con mèo đen (The Black Cats)
Thành lập 1879
Sân vận động Ánh sáng
  — Sức chứa 49.000
Chủ tịch Flag of Ireland.svg Niall Quinn
Huấn luyện viên [[Image:Bản mẫu:Cờ nước y|22x20px]] paolo di canio
Giải đấu Ngoại hạng Anh
Ngoại hạng Anh 2012-13 hạng 17
Sân nhà
Sân khách

Câu lạc bộ bóng đá Sunderland là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Anh đặt trụ sở tại thành phố Sunderlandmiền Đông Bắc nước Anh. Sân nhà của câu lạc bộ là sân vận động Ánh sáng từ khi chuyển từ sân Roker Park về sân này vào năm 1997 . Sân vận động Ánh Sáng có sức chứa khoảng 49.000 khán giả. Biệt danh của câu lạc bộ là The Black Cats (những con mèo đen). Các đối thủ truyền thống của Sunderland là hai câu lạc bộ Newcastle UnitedMiddlesbrough. Hiện nay, câu lạc bộ đang thi đấu tại giải bóng đá ngoại hạng Anh. Trong lịch sử của mình , Sunderland đã từng giành được chức vô địch quốc gia Anh tổng cộng 6 lần , vào các năm 1892 , 1893 , 1895 , 1902 , 1913 và 1936 . Họ cũng giành được hai chiếc cúp FA vào các năm 1937 và 1973 . Sunderland đã giành được chiếc cúp FA đầu tiên vào năm 1937 khi chiến thắng North Preston End 3-1 trong trận chung kết . Sunderland thi đấu liên tục 68 mùa giải ở giải đấu cao nhất nước Anh , cho đến khi bị xuống hạng hai lần đầu tiên vào năm 1958 . Danh hiệu duy nhất mà Sunderland giành được sau Chiến tranh thế giới thứ 2 là chiếc cúp FA vào năm 1973 khi thắng Leeds United 1-0 trong trận chung kết . Mặc dù bị xuống hạng nhưng ở giải đấu hạng nhì , họ vẫn giành được 5 chức vô địch vào các mùa 1975-76 , 1995-96 , 1998-99 , 2004-05 và 2006-07 . Sunderland cũng đã có thời kì xuống chơi ở giải hạng Ba nhưng đã giành được chức vô địch giải đấu này vào mùa 1987-88 và sau đó lên trở lại các giải đấu cấp cao hơn .

Mục lục

Lịch sử [sửa]

Những năm đầu thành lập [sửa]

Sunderland thành lập năm 1879 với tên gọi là " Sunderland and District Teachers Association Football Club " bởi James Allan . Sunderland bắt đầu thi đấu ở giải The Football League vào mùa 1890-91 và thay thế cho Stoke City - đội bóng đã bị mất suất thi đấu ở The Football League , trở thành đội bóng đầu tiên thi đấu ở giải này kể từ khi giải được thành lập vào năm 1888 ngoài các thành viên sáng lập . Những năm cuối thế kỉ 19 , Sunderland được gọi là " đội bóng của tất cả những tài năng " ( Team of all talents ) sau chiến thắng 7-1 trước Aston Villa . Họ giành chức vô địch ngay mùa 1891-92 , chỉ một mùa giải sau khi thi đấu ở The Football League . Sunderland tiếp tục giành được chức vô địch mùa giải sau đó . Họ đã trở thành đội bóng đầu tiên thiết lập kỉ lục 100 bàn thắng trong một mùa giải cho tới mùa bóng 1919-20 thì mới bị West Bromwich Albion phá vỡ . Mùa bóng 1893-94 , họ chỉ về nhì sau Aston Villa , nhưng sang mùa 1894-95 , họ lại giành được chức vô địch với vị trí dẫn đầu cách biệt 5 điểm so với đội xếp thứ nhì là Everton . Sunderland sau khi giành chức vô địch Anh đã so tài với đội vô địch Scotland là Heart of Midlothian và Sunderland giành chiến thắng 5-3 . Mùa 1897-98 , họ lại về nhì sau Sheffield United . Đó cũng là mùa giải cuối cùng họ chơi ở sân Newcastle Road khi dời về sân Roker Park mùa giải sau đó . Mùa 1900-01 , họ lại về nhì nhưng mùa 1901-02 , họ giành chức vô địch lần thứ tư trong lịch sử khi giành được ngôi đầu với cách biệt 3 điểm so với đội nhì bảng Everton .

Mùa bóng 2005-06, Sunderland trở thành đội bóng tệ hại nhất trong lịch sử giải bóng đá ngoại hạng Anh vì chỉ giành được 15 điểm sau 38 trận, xếp cuối bảng xếp hạng và phải xuống hạng nhất.

Đầu mùa bóng 2006-07, Sunderland thi đấu khá tệ và huấn luyện viên trưởng (đồng thời là Chủ tịch) Niall Quinn từ chức và trao quyền chỉ đạo cho cựu cầu thủ Manchester United Roy Keane (và là đồng đội của Quinn trong đội tuyển bóng đá quốc gia Ireland trước đây). Với sự dẫn dắt của Keane, chỉ một năm sau xuống hạng, câu lạc bộ đã đoạt chức vô địch giải hạng nhất và giành quyền trở lại giải ngoại hạng mùa bóng sau.

Danh sách cầu thủ [sửa]

 Số áo   Vị trí Tên cầu thủ
1 Cờ của Scotland TM Craig Gordon
2 Cờ của Scotland HV Phil Bardsley
3 Cờ của Anh TV Kieran Richardson
5 Cờ của Ghana HV John Mensah (cho mượn từ Olympique Lyonnais)
6 Cờ của Anh TV Lee Cattermole (c)
7 Flag of the Netherlands TV Boudewijn Zenden
8 Cờ của Pháp TV Steed Malbranque
9 Cờ của Anh Danny Graham
10 Cờ của Anh TV Jordan Henderson
11 Cờ của Ghana TV Sulley Muntari (cho mượn từ Inter Milan)
12 Cờ của Argentina HV Marcos Angeleri
15 Cờ của Anh HV Nedum Onuoha (cho mượn từ Manchester City)
16 Cờ của Paraguay TV Cristian Riveros
 Số áo   Vị trí Tên cầu thủ
18 Cờ của Ireland TV David Meyler
19 Cờ của Anh HV Titus Bramble
22 Cờ của Bỉ TM Simon Mignolet
25 Cờ của Anh TV Jack Colback
26 Cờ của Anh Jordan Cook
27 Cờ của Ai Cập TV Ahmed Al-Muhammadi
28 Cờ của Bénin TV Stéphane Sessègnon
29 Cờ của Anh HV Anton Ferdinand
30 Cờ của Anh TV Billy Knott
31 Cờ của Anh Ryan Noble
33 Cờ của Ghana Asamoah Gyan
34 Cờ của Anh HV Blair Adams
40 Cờ của Anh HV Adam Jonhson

Cho mượn [sửa]

 Số áo   Vị trí Tên cầu thủ
21 Cờ của Anh HV Nyron Nosworthy (đến Sheffield United cho tới cuối mùa giải 2010–11)
23 Cờ của Bắc Ireland HV George McCartney (đến Leeds United)
24 Cờ của Bắc Ireland TM Trevor Carson (đến Lincoln City cho tới ngày 20 tháng 2 năm 2011)
32 Cờ của Anh HV Matt Kilgallon (đến Doncaster Rovers cho tới cuối mùa giải 2010–11)
35 Cờ của Ireland HV Michael Liddle (đến Gateshead)
36 Cờ của Anh TV Liam Noble (đến Carlisle United cho tới cuối mùa giải 2010–11)
 Số áo   Vị trí Tên cầu thủ
37 Cờ của Pháp Oumare Tounkara (đến Oldham Athletic cho tới cuối mùa giải 2010–11)
38 Cờ của Anh HV Michael Kay (đến Tranmere Rovers)
39 Cờ của Bắc Ireland David Healy (đến Rangers cho tới cuối mùa giải 2010–11)
Cờ của Bắc Ireland TV Robbie Weir (đến Tranmere Rovers)
Cờ của Anh TV Adam Reed (đến Brentford)
Cờ của Pháp HV Jean-Yves M'voto (đến Oldham Athletic)

Thành tích [sửa]

Sân vận động Ánh sáng
(hạng nhì: 1894, 1898, 1901, 1923, 1935)
(chung kết: 1913, 1992 )

Tham khảo [sửa]

Liên kết ngoài [sửa]