Supernatural (album của Santana)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Supernatural
Album phòng thu của Santana
Phát hành 15 tháng 6 năm 1999
Thu âm 1998–1999
Record Plant, Sausalito, California
Fantasy Studios, Berkeley, California, Mỹ
Thể loại Rock en Español, alternative rock, Latin rock, hard rock, blues rock, pop rock, R&B
Thời lượng 74:59
Hãng đĩa Arista
Sản xuất Clive Davis, Jerry 'Wonder' Duplessis, The Dust Brothers, Alex González, Charles Goodan, Lauryn Hill, Art Hodge, Wyclef Jean, Fher Olvera, K.C. Porter, Dante Ross, Matt Serletic
Thứ tự album của Santana
Live At The Fillmore 1968
(1997)
Supernatural
(1999)
The Essential Santana
(2002)
Đĩa đơn từ Supernatural
  1. "Smooth"
    Phát hành: 29 tháng 6 năm 1999
  2. "Maria Maria"
    Phát hành: 23 tháng 11 năm 1999
  3. "Put Your Lights On"
    Phát hành: 28 tháng 3 năm 2000
  4. "Love of My Life"
    Phát hành: 2000
  5. "Corazón Espinado"
    Phát hành: 13 tháng 6 năm 2000
  6. "Primavera"
    Phát hành: 2001

Supernatural là album phòng thu thứ 17 của ban nhạc Santana, được phát hành vào năm 1999. Album này nhận chứng chỉ 15x Bạch kim tại Mỹ. Supernatural lập kỷ lục 9 giải Grammy, trong đó có giải Album của năm, cùng với đó là 3 giải Latin Grammy trong đó có giải Thu âm của năm[1].

Album được sản xuất chính bởi Clive Davis và được phát hành và phân phối bởi Pete Ganbarg, trở thành một thành công toàn cầu với hơn 30 triệu đĩa được bán[2]. Đây trở thành sản phẩm thành công nhất của Santana, giành vị trí quán quân ở 10 quốc gia trong đó có cả Mỹ.

Supernatural bắt đầu với vị trí số 19 tại Billboard 200 vào ngày 3 tháng 6 năm 1999 rồi có được vị trí quán quân vào ngày 30 tháng 10, gặt hái được tổng cộng 12 tuần không liên tục ở vị trí này. Album bao gồm ca khúc nổi tiếng "Smooth" với sự tham gia của trưởng nhóm Matchbox Twenty, Rob Thomas, giành được vị trí quán quân tại Billboard Hot 100 trong 12 tuần. Đĩa đơn tiếp theo, "Maria Maria" (cùng The Product G&B) cũng có được vị trí số 1 tại đây suốt 10 tuần. Santana và Rob Thomas giành tới 3 giải Grammy với ca khúc "Smooth", trong khi Santana và Everlast cũng giành được 1 giải nữa với ca khúc "Put Your Lights On". Santana cũng giành được giải Grammy cho ca khúc "Maria Maria".

Danh sách nghệ sĩ khách mời cộng tác còn có Eric Clapton, Eagle-Eye Cherry, Lauryn Hill, Dave Matthews, ManáCee Lo Green.

Đón nhận của công chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chuyên môn[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chuyên môn
Nguồn đánh giá
Nguồn Đánh giá
Allmusic 4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[3]
Entertainment Weekly B+[4]
Robert Christgau (choice cut)[5]
Rolling Stone 3.5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar half.svgStar empty.svg[6]
Piero Scaruffi (5/10)[7]

Stephen Thomas Erlewine của Allmusic nhận xét: "Có vẻ việc không có bất kể bài hát nào mà không có sự có mặt của một ngôi sao khách mời lại là vấn đề đối với album này. [...] Nó không mang tới một thứ âm hưởng đồng nhất." Ông cũng cho rằng album "vô hướng" nhưng cuối cùng kết luận "những khoảnh khắc tuyệt đỉnh của Supernatural tới từ thứ âm nhạc xuất sắc của những năm 90 bởi Santana – một sự trở lại thành công."[3] David Wild của tờ Rolling Stone cũng ghi nhận sự xuất hiện của rất nhiều nghệ sĩ khách mời và nói "Không hẳn là mọi thứ đều rất hấp dẫn" đối với ca khúc "Do You Like The Way" (hát cùng Lauryn Hill và Cee Lo Green), cho rằng ca khúc "có vẻ hơi bị gò bó"[6].

Thành công thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Album bán được tổng cộng hơn 30 triệu đĩa trên toàn thế giới[2] và trở thành album thành công nhất của một nghệ sĩ gốc Tây Ban Nha[8]. Album cũng đạt vị trí quán quân tại nhiều quốc gia. Theo Sách Kỷ lục Guinness năm 2005, Supernatural lập nên kỷ lục khoảng cách lớn nhất giữa 2 album liên tiếp đạt vị trí quán quân Billboard 200 của cùng 1 nghệ sĩ : 28 năm, kể từ năm 1971[8].

Album bắt đầu với vị trí số 19 tại Billboard, song sau 3 tháng nó đã có được vị trí số 1 vào tháng 10 năm 1999 và tại vị suốt 12 tuần không liên tiếp. Tại Úc, album xuất hiện với vị trí số 48 và vươn lên vị trí quán quân vào ngày 6 tháng 3 năm 2000. Tại Anh, album giành vị trí số 1 chỉ sau 2 tuần vào ngày 1 tháng 4. Supernatural cũng nằm trong top 200 album của thập kỷ của tạp chí Billboard và được tạp chí trên xếp hạng thứ 9 trong danh sách các album bán chạy nhất thập niên 2000[9].

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn mở màn album là "Smooth" với Rob Thomas hát chính nhanh chóng chiếm được vị trí số 1 tại Billboard Hot 100, tại vị ở đó 12 tuần liên tiếp, trong khi đó nó cũng chiếm được vị trí số 3 tại Anh và 4 tại Úc. Đĩa đơn thứ 2, "Maria Maria" hợp tác cùng The Product G&B đạt vị trí số 1 tại Mỹ trong 10 tuần, số 6 tại Anh và 49 tại Úc. Đĩa đơn thứ 3, "Put Your Lights On", chỉ đứng thứ 18 tại Billboard Bubbling Under Hot 100, 97 tại Anh và 32 tại Úc. Đĩa đơn "Corazon Espinado" với sự tham gia của Maná là bản hit ở các nước nói tiếng Tây Ban Nha.

Giải Grammy[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 23 tháng 2 năm 2000, Supernatural được trao tổng cộng 9 giải Grammy tại Giải Grammy lần thứ 42, trở thành 1 trong 2 album giành được nhiều giải Grammy nhất lịch sử (chia sẻ cùng với How to Dismantle an Atomic Bomb của U2). Các giải thưởng được trao bao gồm: Album của năm, Thu âm của năm ("Smooth"), Bài hát của năm ("Smooth"), Hợp tác giọng Pop xuất sắc nhất ("Smooth"), Hòa tấu giọng Pop xuất sắc nhất ("El Farol"), Trình diễn song ca hoặc nhóm giọng Pop xuất sắc nhất ("Put Your Lights On"), Hòa tấu giọng Rock xuất sắc nhất ("The Calling"), Album nhạc Rock của năm và Trình diễn song ca hoặc nhóm giọng Rock xuất sắc nhất ("Maria Maria")[10].

Ngày 13 tháng 9 cùng năm, album cũng được trao 3 giải Latin Grammy bao gồm Thu âm của năm ("Corazon Espinado"), Hòa tấu giọng Rock xuất sắc nhất ("El Farol") và Trình diễn song ca hoặc nhóm giọng Rock xuất sắc nhất ("Corazon Espinado")[10].

Danh sách ca khúc[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên bài hát Sáng tác Sản xuất Thời lượng
1. "(Da Le) Yaleo"   Carlos Santana, Ra, Polloni Carlos Santana 5:53
2. "Love of My Life" (cùng Dave MatthewsCarter Beauford) Santana, Dave Matthews Stephen Harris, Carlos Santana 5:47
3. "Put Your Lights On" (cùng Everlast) Erik Schrody Dante Ross, John Gamble 4:45
4. "Africa Bamba"   Santana, Ismaïla Toure, Sixu Tidiane Touré, Karl Perazzo Carlos Santana 4:42
5. "Smooth" (cùng Rob Thomas) Itaal Shur, Rob Thomas Matt Serletic 4:58
6. "Do You Like the Way" (cùng Lauryn HillCee Lo Green) Lauryn Hill Lauryn Hill 5:54
7. "Maria Maria" (cùng The Product G&B) Santana, Perazzo, Raul Rekow, Wyclef Jean, Jerry Duplessis Jerry "Wonder" Duplessis, Wyclef Jean 4:22
8. "Migra"   Santana, Rachid Taha, Tony Lindsay K.C. Porter, Carlos Santana 5:28
9. "Corazón Espinado" (cùng Maná) Fher Olvera Fher Olvera, K.C. Porter, *Alex González 4:36
10. "Wishing It Was" (featuring Eagle-Eye Cherry) Eagle-Eye Cherry, Michael Simpson, John King, Nishita The Dust Brothers, *Charles Goodan, *Art Hodge 4:52
11. "El Farol"   Santana, Karl Porter K.C. Porter 4:51
12. "Primavera"   Porter, J. B. Eckl, Cheín García Alonso K.C. Porter 6:18
13. "The Calling" (cùng Eric Clapton) Santana, Chester Thompson, Freddie Stone, Linda Graham Carlos Santana 12:28
Ghi chú
  • "The Calling" bao gồm ca khúc ẩn "Day of Celebration" bắt đầu từ 8:00.
  • (*) ghi cho đồng sản xuất.

Ấn bản Deluxe[sửa | sửa mã nguồn]

Ấn bản "Legacy" của Supernatural được phát hành vào ngày 16 tháng 2 năm 2010 với phần chỉnh âm được thực hiện bởi Carlos Santana[11].

  1. "Bacalao Con Pan"
  2. "Angel Love (Come for Me)"
  3. "Rain Down on Me" (cùng Dave Matthews & Carter Beauford)
  4. "Corazon Espinado (Spanish Dance Remix)" (cùng Maná)
  5. "One Fine Morning" (hát lại sáng tác của Lighthouse)
  6. "Exodus/Get Up Stand Up" (hát lại sáng tác của Bob Marley)
  7. "Ya Yo Me Cure"
  8. "Maria Maria (Pumpin' Dolls Club Mix)" (cùng The Product G&B)
  9. "Smooth" (không lời)
  10. "The Calling Jam" (cùng Eric Clapton)
  11. "Olympic Festival"

Thành phần tham gia sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

  • "(Da Le) Yaleo"
    • Guitar – Carlos Santana
    • Keyboard – Chester Thompson
    • Bass – Benny Rietveld
    • Trống – Billy Johnson
    • Định âm – Karl Perazzo
    • Conga – Raul Rekow
    • Hát – Carlos Santana, Karl Perazzo, Tony Lindsay
    • Trombone – Jose Abel Figueroa, Mic Gillette
    • Trumpet – Marvin McFadden, Mic Gillette
  • "Love of My Life"

Ca khúc này có giai điệu giống với "Bản giao hưởng số 3", F Major Op 90 Movement #3 của Brahms

    • Guitar – Carlos Santana
    • Hát chính – Dave Matthews
    • Keyboard – George Whitty
    • Bass – Benny Rietveld
    • Trống – Carter Beauford
    • Conga & định âm – Karl Perazzo
  • "Put Your Lights On"
    • Lead guitar – Carlos Santana
    • Guitar nền & hát chính – Everlast
    • Keyboard – Chester Thompson
    • Đồng bộ hóa– John Gamble
    • Conga & định âm – Carlos Santana
    • Bass – Benny Rietveld
  • "Africa Bamba"
    • Guitar – Carlos Santana
    • Keyboard – Chester Thompson
    • Bass – Benny Rietveld
    • Trống – Horacio Hernandez
    • Định âm – Karl Perazzo
    • Conga – Raul Rekow
    • Hát chính – Carlos Santana
    • Hát ứng tác – Karl Perazzo
    • Hát nền – Carlos Santana, Karl Perazzo, Tony Lindsay
  • "Smooth"
    • Lead guitar – Carlos Santana
    • Hát chính – Rob Thomas
    • Keyboard – Chester Thompson
    • Bass – Benny Rietveld
    • Trống – Rodney Holmes
    • Định âm – Karl Perazzo
    • Conga – Raul Rekow
    • Trombone – Jeff Cressman, Jose Abel Figueroa
    • Trumpet – Javier Melendez, William Ortiz
  • "Do You Like The Way"
    • Lead guitar – Carlos Santana
    • Hát chính – Lauryn Hill, Cee-Lo
    • Guitar nền – Francis Dunnery, Al Anderson
    • Keyboard – Loris Holland
    • Đồng bộ hóa – Kobie Brown, Che Pope
    • Bass – Tom Barney
    • Hát nền– Lenesha Randolph, Lauryn Hill
    • Saxophone & Flute – Danny Wilensky
    • Trombone – Steve Toure
    • Trumpet & Flugelhorn – Earl Gardner
    • Tuba – Joseph Daley
  • "Maria Maria"
    • Guitar – Carlos Santana
    • Hát chính – The Product G&B
    • Hát phụ – Carlos Santana
    • Cello – Joseph Herbert
    • Viola – Daniel Seidenberg, Hari Balakrisnan
    • Violin – Jeremy Cohen
  • "Migra"
    • Guitar & chuông – Carlos Santana
    • Keyboard – Chester Thompson
    • Đồng bộ hóa & accordion – K. C. Porter
    • Bass – Benny Rietveld
    • Trống – Rodney Holmes
    • Định âm – Karl Perazzo
    • Conga – Raul Rekow
    • Hát – Tony Lindsay, Karl Perazzo, K. C. Porter
    • Trombone – Ramon Flores, Mic Gillette
    • Trumpet – Jose Abel Figueroa, Marvin McFadden, Mic Gillette
  • "Corazón Espinado"
    • Lead guitar – Carlos Santana
    • Hát chính – Fher Olvera
    • Guitar nền– Sergio Vallín
    • Keyboard – Alberto Salas, Chester Thompson
    • Bass – Juan Calleros
    • Trống – Alex González
    • Timbales & định âm – Karl Perazzo
    • Conga – Raul Rekow
    • Hát nền – Gonzalo Chomat, Alex González
    • Chỉ huy hợp ca – Jose Quintana
  • "Wishing It Was"
    • Lead & guitar nền – Carlos Santana
    • Hát chính – Eagle-Eye Cherry
    • Hát nền – Chad & Earl
    • Keyboard – Chester Thompson
    • Bass – Benny Rietveld
    • Trống – Rodney Holmes
    • Timbales & định âm – Karl Perazzo
    • Congas & định âm – Raul Rekow
    • Định âm bổ sung – Humberto Hernandez
  • "El Farol"
    • Lead guitar – Carlos Santana
    • Guitar nền & định âm – Raul Pacheco
    • Keyboards & đồng bộ hóa – K. C. Porter, Chester Thompson
    • Bass – Benny Rietveld
    • Trống – Gregg Bissonette
    • Timbales – Karl Perazzo
    • Conga – Raul Rekow
  • "Primavera"
    • Lead guitar – Carlos Santana
    • Guitar nền– J. B. Eckl
    • Keyboard – K.C. Porter, Chester Thompson
    • Đồng bộ hóa – K. C. Porter
    • Bass – Mike Porcaro
    • Trống – Jimmy Keegan
    • Timbales & định âm – Karl Perazzo
    • Congas & định âm – Luis Conte
    • Hát chính – K. C. Porter
    • Hát nền – K. C. Porter, Fher, Tony Lindsay, Carlos Santana, Karl Perazzo
    • Dịch tiếng Tây Ban Nha – Chein Garcia Alonso
  • "The Calling"
    • Lead & guitar nền – Eric Clapton, Carlos Santana
    • Keyboard – Chester Thompson
    • Đồng bộ hóa – Mike Mani
    • Định âm – Carlos Santana
    • Hát – Tony Lindsay, Jeanie Tracy
    • Kỹ thuật viên – Andre của Screaming Lizard

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Album[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (1999) Vị trí
cao nhất
UK Albums Chart[12] 1
US Billboard 200[13] 1
US Billboard Top Latin Albums[14] 1
Bảng xếp hạng (2000) Vị trí
cao nhất
Australian Albums Chart[15] 1
Austrian Albums Chart[16] 1
Belgian (Flanders) Albums Chart[17] 2
Belgian (Wallonia) Albums Chart[18] 2
Canadian Albums Chart[19] 1
Finnish Albums Chart[20] 2
French Albums Chart[21] 1
Italian Albums Chart[22] 1
New Zealand Albums Chart[23] 1
Norwegian Albums Chart[24] 1
Swedish Albums Chart[25] 1
Swiss Albums Chart[26] 1

Chứng chỉ[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Argentina (CAPIF)[27] 2× Bạch kim 120.000x
Úc (ARIA)[28] 4× Bạch kim 280.000^
Áo (IFPI Austria)[29] 2× Bạch kim 100.000x
Bỉ (BEA)[30] 2× Bạch kim 100.000*
Brazil (ABPD)[31] Bạch kim 250.000*
Canada (Music Canada)[32] Kim cương 1.000.000^
Phần Lan (Musiikkituottajat)[33] Bạch kim 50,291[33]
Pháp (SNEP)[34] 2× Bạch kim 1,010,000[35]*
Đức (BVMI)[36] 2× Bạch kim 1.000.000^
Mexico (AMPROFON)[37] 2× Bạch kim 300.000^
Hà Lan (NVPI)[38] 2× Bạch kim 200.000^
New Zealand (RMNZ)[39] 4× Bạch kim 60.000^
Ba Lan (ZPAV)[40] Bạch kim 100.000*
Tây Ban Nha (PROMUSICAE)[41] 3× Bạch kim 300.000^
Thụy Điển (GLF)[42] Bạch kim 80.000^
Thụy Sĩ (IFPI Switzerland)[43] 4× Bạch kim 200.000x
Anh (BPI)[44] 2× Bạch kim 600.000^
Hoa Kỳ (RIAA)[45] 15× Bạch kim 15.000.000^
Tóm lược
Châu Âu (IFPI)[46] 6× Bạch kim 6.000.000*

*Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ
^Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng
xChưa rõ ràng

Phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Ngày phát hành Nhãn đĩa Ấn bản
Mỹ 15 tháng 6 năm 1999[47] Arista Phổ thông
Canada[48] Sony Music Canada
Pháp 21 tháng 6 năm 1999 Arista International
Anh 12 tháng 7 năm 1999[49] Arista
United States 16 tháng 2 năm 2010[50] Sony Legacy Deluxe

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Past Winners Search | GRAMMY.com”. grammy.com. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2013. 
  2. ^ a ă “Viva Santana!”. Deccan Herald. 18 tháng 11 năm 2012. 
  3. ^ a ă Stephen Thomas Erlewine, "Santana – Supernatural Review". Allmusic.com. Rovi Corporation. Retrieved December 30, 2010.
  4. ^ (Posted: June 18, 1999) Tom Sinclair, Supernatural Review. Entertainment Weekly. Retrieved December 30, 2010.
  5. ^ Robert Christgau, CG: Santana. RobertChristgau.com. Retrieved April 15, 2012.
  6. ^ a ă (Posted: July 9, 2003) David Wild, Supernatural by Santana | Rolling Stone Music|Music Review. Rolling Stone. Retrieved December 30, 2010.
  7. ^ Scaruffi, Piero (1999). “Carlos Santana”. pieroscaruffi.com. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2013. 
  8. ^ a ă “Santana received his World Records”. Guinness World Records. 2000. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2010. 
  9. ^ Billboard unleashes Decade-End Charts for the 2000s: How did Rock fare? theo examiner.com
  10. ^ a ă “A Supernatural Year in Review”. 1 tháng 5 năm 2000. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013. 
  11. ^ “Santana Official Store”. Santana.shop.musictoday.com. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2012. 
  12. ^ "Santana Album Chart History". The Official Charts Company. Retrieved December 30, 2010.
  13. ^ "Santana Album & Songs Chart History". Billboard 200 for Santana. Prometheus Global Media. Retrieved December 30, 2010.
  14. ^ "Santana Album & Songs Chart History". Latin Albums for Santana. Prometheus Global Media. Retrieved December 30, 2010.
  15. ^ australian-charts – Santana – Supernatural. Hung Medien. Retrieved December 30, 2010.
  16. ^ Santana – Supernatural – austriancharts.at. Hung Medien. Retrieved December 30, 2010.
  17. ^ ultratop.be – Santana – Supernatural. Hung Medien / hitparade.ch. Retrieved December 30, 2010.
  18. ^ ultratop.be – Santana – Supernatural. Hung Medien / hitparade.ch. Retrieved December 30, 2010.
  19. ^ "Santana Album & Songs Chart History". Canadian Albums for Santana. Prometheus Global Media. Retrieved December 30, 2010.
  20. ^ finnishcharts.com – Santana – Supernatural. Hung Medien. Retrieved December 30, 2010.
  21. ^ lescharts.com – Santana – Supernatural. Hung Medien. Retrieved December 30, 2010.
  22. ^ italiancharts.com – Santana – Supernatural. Hung Medien. Retrieved December 30, 2010.
  23. ^ charts.org.nz – Santana – Supernatural. Hung Medien. Retrieved December 30, 2010.
  24. ^ norwegiancharts.com – Santana – Supernatural. Hung Medien. Retrieved December 30, 2010.
  25. ^ swedishcharts.com – Santana – Supernatural. Hung Medien. Retrieved December 30, 2010.
  26. ^ Santana – Supernatural – hitparade.ch. Hung Medien. Retrieved December 30, 2010.
  27. ^ “Discos de Oro y Platino - 2006” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Cámara Argentina de Productores de Fonogramas y Videogramas. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2012. 
  28. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2000 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. 
  29. ^ “Austrian album certifications – Santana – Supernatural” (bằng tiếng Đức). IFPI Áo.  Nhập Santana vào khung Interpret (Tìm kiếm). Nhập Supernatural trong khung Titel (Tựa đề). Chọn album trong khung Format (Định dạng). Nhấn Suchen (Tìm)
  30. ^ “Ultratop − Goud en Platina - 2000”. Ultratop & Hung Medien / hitparade.ch. 
  31. ^ “Brasil album certifications – Santana – Supernatural” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Associação Brasileira dos Produtores de Discos. 
  32. ^ “Canada album certifications – Santana – Supernatural”. Music Canada. 
  33. ^ a ă “Finland album certifications – Santana – Supernatural” (bằng tiếng Phần Lan). IFPI Phần Lan. 
  34. ^ “France album certifications – Santana – Supernatural” (bằng tiếng Pháp). Syndicat National de l'Édition Phonographique. 
  35. ^ “InfoDisc”. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2013. 
  36. ^ “Gold-/Platin-Datenbank (Santana; 'Supernatural')” (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. 
  37. ^ “México album certifications – Santana – Supernatural” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. 
  38. ^ “Netherlands album certifications – Santana – Supernatural” (bằng tiếng Hà Lan). Nederlandse Vereniging van Producenten en Importeurs van beeld- en geluidsdragers. 
  39. ^ “New Zealand album certifications – Santana – Supernatural”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm New Zealand. 
  40. ^ “Poland album certifications – Santana – Supernatural” (bằng tiếng Ba Lan). Polish Producers of Audio and Video (ZPAV). 
  41. ^ “Discos de platino y oro 2000”. El Mundo (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2011. 
  42. ^ “Guld- och Platinacertifikat − År 2000” (PDF) (bằng tiếng Thụy Điển). IFPI Thụy Điển. 
  43. ^ “The Official Swiss Charts and Music Community: Awards (Santana; 'Supernatural')”. Hung Medien. 
  44. ^ “Britain album certifications – Santana – Supernatural” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry.  Enter Supernatural trong khung Search. Chọn Title trong khung Search by. Chọn album trong khung By Format. Nhấn Go
  45. ^ “American album certifications – Santana – Supernatural” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ.  Nếu cần, nhấn Advanced, rồi nhấn Format, rồi nhấn Album, rồi nhấn SEARCH
  46. ^ “IFPI Europe Awards – 2001”. Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế. 
  47. ^ Amazon.com: Supernatural: Santana: Music. Amazon.com, Inc. Retrieved December 30, 2010.
  48. ^ Supernatural: Santana: Amazon.ca: Music. Amazon.com, Inc. Retrieved December 30, 2010.
  49. ^ Supernatural: Santana: Amazon.co.uk: Music. Amazon.com, Inc. Retrieved December 30, 2010.
  50. ^ Amazon.com: Supernatural (Legacy Edition): Santana: Music. Amazon.com, Inc. Retrieved December 30, 2010.

Bản mẫu:Santana