Lữ đoàn 125 Hải quân Nhân dân Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Tàu không số)
Bước tới: menu, tìm kiếm

Lữ đoàn 125 Hải quân là một đơn vị vận tải biển chủ lực của Hải quân Nhân dân Việt Nam. Hiện, lữ đoàn đóng ở cảng Cát Lái, quận 2, thành phố Hồ Chí Minh.

Lữ đoàn 125 Hải quân được thành lập vào ngày 23 tháng 10 năm 1965 với tên gọi ban đầu là Đoàn 759. Nhiệm vụ chính của đơn vị khi mới thành lập là bí mật vận tải vũ khí, cán bộ bằng đường biển từ miền Bắc vào miền Nam chi viện cho Quân Giải phóng miền Nam chiến đấu trong Chiến tranh Việt Nam. Thời kỳ đó, căn cứ của lữ đoàn là bến Bính (số hiệu là K20) ở Hải Phòng. Đơn vị sử dụng các tàu vận tải cỡ nhỏ thâm nhập miền Nam tại các căn cứ ở bến Sông Gianh (Quảng Bình), Sa Kỳ (Quảng Ngãi), Vũng Rô (Phú Yên), Lộc An (Bà Rịa - Vũng Tàu), Thạnh Phong (Bến Tre) và Vàm Lũng (Cà Mau).

Đồng thời, đoàn đã trực tiếp tham gia rà phá thủy lôi ở vùng biển Đông Bắc; tham gia giải phóng các đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa thuộc quần đảo Trường Sa, Cù Lao Thu thuộc tỉnh Ninh Thuận và đón các tù nhân cộng sản từ Côn Đảo trở về đất liền.

Sau khi đất nước thống nhất (tháng 4/1975), lữ đoàn lại được chỉ huy quân chủng giao nhiệm vụ chặn, chốt, gác tại các điểm khai thác dầu khí; vận chuyển những chuyến hàng chi viện cho Trường Sa; vận chuyển hàng hóa - phát triển kinh tế biển.

Đơn vị đã hai lần được Nhà nước Việt Nam thưởng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, huân chương quân công hạng nhất.

Đoàn tàu Không số[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Chiến tranh Việt Nam, đơn vị đã sử dụng các tàu vận tải cỡ nhỏ để thâm nhập vào miền Nam. Mặc dù có số hiệu đầy đủ, song để giữ bí mật, các tàu này không sơn số hiệu lên thân tàu. Vì thế, những con tàu này được biết đến với tên gọi chung là Đoàn tàu Không số.

Tàu 43[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: C-43AC-43B

Tàu 43 là một trong 4 con tàu vận chuyển vũ khí quân nhu vào Đức Phổ (43; 56; 165 và 235) tiếp tế cho chiến trường miền Nam trong cuộc tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Bốn tàu ra đi nhưng chỉ có Tàu 56 trở về. Ba chiếc còn lại đều đụng độ với tàu tuần duyên của Hải quân Việt Nam Cộng hòa và phải phá hủy tàu.

Tàu 54[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu 54 thuộc Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 125. Vào tháng 9 năm 1970, tàu chở 70 tấn vũ khí, xuất phát tại Cảng K35 Hải Phòng đi Rạch Gốc, Cà Mau. Chỉ huy của tàu bao gồm Thuyền trưởng Hai Đặng, Chính trị viên Hai Hiệu và hai phó thuyền trưởng là Chử Thái Bình và Đồng Xuân Chế. Tuy nhiều lần rơi vào tình thế nguy hiểm, tàu 54 an toàn trở về sau hơn một tháng hành trình.

Tàu 56[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Chiến tranh Việt Nam, Đoàn 125 HQ đã tổ chức 3 chuyến tàu cặp bến thành công, vận chuyển 109 tấn vũ khí, kịp thời trang bị cho quân dân các tỉnh miền Đông, Khu 6 tham gia các chiến dịch, chiến thắng ở trận Bình Giã, Đồng Xoài, Dầu Tiếng, Bầu Bàng

Tàu 69[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu 69 là tàu sắt trọng tải 100 tấn, do Thuyền trưởng Nguyễn Vũ Phúc chỉ huy. Trước tháng 4 năm 1966, tàu đã đi được 7 chuyến vận chuyển thành công vũ khí vào Nam. Chuyến thứ tám khởi hành ngày 21 tháng 4 năm 1966 tại Đồ Sơn, chở 61 tấn hàng. Đến đêm 28 tháng 4, tàu đã cập bến Vàm Lũng và giao hàng xong. Trước khi tàu trở lại miền Bắc, phải kiểm tra mọi yếu tố về kỹ thuật, thì chân vịt của tàu bị hỏng nặng. Sau 1 tuần lễ, tàu được sửa xong và hạ thủy chuẩn bị ra Bắc. Nhưng lúc này lại xảy ra một vụ việc: Tàu 100 chuẩn bị vào bến thì bị lộ, bị phong tỏa, tàu buộc phải cho nổ để phi tang. Vụ đó làm cho tàu Hải quân Việt Nam Cộng Hòa tập trung quanh bến để theo dõi. Tàu 69 phải nằm 6 tháng trong rừng đước, đến ngày 30 tháng 6 năm 1966 mới có thể rời bến. 9 giờ tối ngày 31 tháng 12, tàu bị một tàu Việt Nam Cộng Hòa phát hiện. Tàu đó tiến thẳng về phía Tàu 69. Đến 9 giờ 30 phút tối, thấy không thể lẩn trốn, Thuyền trưởng Nguyễn Hữu Phước quyết định chiến đấu. Hai bên bắn nhau dữ dội. 0 giờ 20 phút ngày 1 tháng 1 năm 1967, khi tàu vào đến cửa Vàm Lũng thì 5 tàu Việt Nam Cộng Hòa đã rút lui. Tàu 69 cập bến với 121 lỗ thủng trên thành tàu. 6 giờ sáng ngày 1 tháng 1, đài phát thanh Việt Nam Cộng hòa thông báo vào lúc 23 giờ ngày hôm trước đã bắn chìm một tàu chở vũ khí của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Tàu 69 nằm lại trong rừng đước Cà Mau cho đến ngày kết thúc chiến tranh.[1]

Tàu 100[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu 100 với 17 thủy thủ, do Thuyền trưởng Lê Minh Sơn và Chính trị viên Nguyễn Hữu Tương chỉ huy, rời bến Bính Động đêm 24 tháng 4 năm 1966, chở theo 62,605 tấn vũ khí tới Cà Mau. Sau 6 ngày đi suôn sẻ, ngày thứ bảy tàu gặp một máy bay khu trục của Mỹ và bị đeo bám. Sau một tuần vòng vo trên hải phận quốc tế, đến ngày 9 tháng 5 tàu quyết định đột phá vào bờ thì bị phát hiện. Tàu USCGC Point Grey của Mỹ ập tới. Hai bên giao tranh dữ dội. Trận đánh kéo dài đến ngày 11 tháng 5, quân miền Nam cho máy bay giội bom thẳng vào Tàu 100 khiến tàu phát nổ.[1]

Tàu 176[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: C-176

Tàu 187[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu 187 gồm 18 thủy thủ, do Thuyền trưởng Phan Văn Xá và Chính trị viên Hồ Đức Thắng chỉ huy, rời bến ngày 11 tháng 6 năm 1966. Ngày 19 tháng 6, trên lộ trình ngoài hải phận quốc tế, tàu đã bị máy bay trinh sát của Mỹ phát hiện. Hải quân Hoa Kỳ điều đến 3 tàu USS John A. Bole (DD-755), USS Haverfield (DE-393), USS Tortuga (LSD-26). Hải quân Việt Nam Cộng hòa điều 4 tàu là HQ-225, HQ-227, HQ-231, HQ-238 thuộc Duyên đoàn 35 và Giang đoàn 23. Tàu 187 lao nhanh về phía bờ biển Trà Vinh, nhưng cách bờ chừng 300 m thì bị mắc cạn. Thuyền trưởng ra lệnh cho toàn bộ thủy thủ đoàn gấp rút rời tàu lên bờ, sau đó ra lệnh hủy tàu. Nhưng bộc phá không nổ. Tàu quân miền Nam tràn tới bắt sống được tàu 187 và toàn bộ 62,6 tấn hàng. 1 thủy thủ của tàu bị thương và bị bắt, 17 người còn lại chạy thoát vào rừng và gia nhập Đoàn 962.[1]

Tàu 198[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: C-198

Tàu 145[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu 649[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu 673[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu 675[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â 5 đường mòn Hồ Chí Minh, Đặng Phong, NXB Tri Thức

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]