Tàu ngầm lớp Balao

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Balao
USS Balao
Khái quát về lớp tàu
Xưởng đóng tàu: Xưởng đóng tàu hải quân Portsmouth, Công ty đóng tàu Cramp, Xưởng đóng tàu hải quân đảo Mare, Tập đoàn Electric Boat, Công ty đóng tàu Manitowoc
Bên sử dụng: Flag of the United States.svgHải quân Hoa Kỳ
Lớp trước: Tàu ngầm lớp Gato
Lớp sau: Tàu ngầm lớp Tench
Thời gian đóng: 1942–1946
Thời gian hoạt động: 1943–1975
Hoàn tất: 128
Hủy bỏ: 63
Còn hoạt động: 0
Bị mất: 11
Nghỉ hưu: 117
Giữ lại: 9
Đặc điểm khái quát
Kiểu: Tàu ngầm
Trọng tải choán nước:
  • 1.550 tấn khi nổi
  • 2.429–2.463 tấn khi lặn
Độ dài: 94,9 m –95 m
Sườn ngang: 8,3 m
Mớn nước: 5,13 m tối đa
Động cơ đẩy:
  • 4 động cơ điện diesel gắn với máy phát điện (Fairbanks-Morse hoặc General Motors)
  • 2 ác quy Sargo tích trữ điện tương đương 126-pin
  • 4 mô tơ điện tốc độ cao với việc gắn nhiều bánh răng giảm tốc hay 2 mô tơ điện tốc độ thấp (Elliott Company hoặc General Electric)
  • 2 chân vịt
Tốc độ:
  • 20,25 knot (38 km/h) khi nổi
  • 8,75 knot (16 km/h) khi lặn
Tầm xa: 11.000 hải lý (20.000 km) với 10 knot (19 km/h) khi nổi
Tầm hoạt động: 48 giờ với 2 knot (3,7 km/h) khi lặn, 75 ngày cho một cuộc tuần tra
Độ sâu thử: 120 m
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
10 hoa tiêu, 70–71 thủy thủ
Vũ trang:

Tàu ngầm lớp Balao là một thiết kế thành công của Hải quân Hoa Kỳ được dùng trong chiến tranh thế giới thứ hai và với 128 chiếc đã được đóng đây là loại tàu ngầm được sử dụng nhiều nhất trong Hải quân Hoa Kỳ. Nó được cải tiến từ mẫu tàu ngầm lớp Gato trước đó nên có một số thay đổi nhỏ phía trong. Một cải tiến có thể dễ nhìn thấy nhất là nó sử dụng một lớp thép dày hơn và đàn hồi cao hơn ơ phần vỏ chịu lực của tàu đã cho phép nó xuống đến được độ sâu 120 m.

Khả năng hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Khả năng di chuyển của tàu ngầm lớp Balao nhìn chung tương tự như lớp Gato. Giống như người tiền nhiệm chúng thực sự là các tàu ngầm điện-diesel bốn động cơ diesel chạy các mô tơ phát điện và các mô tơ điện quay các trục gắn chân vịt. Không hề có sự gắn kết trực tiếp giữa động cơ diesel và chân vịt.

Lớp Balao trang bị động cơ diesel của một trong hai nhà sản xuất Fairbanks-Morse cung cấp động cơ Model 38D8-⅛ với các piston có thể chuyển động ngược nhau hoặc Electro-Motive Diesel của General Motors cung cấp động cơ Model 16 V16. lúc đầu Fairbanks-Morse thường cung cấp mẫu động cơ Model 38D8-⅛ với 9 xy lanh cho các tàu, sau này chiếc tàu sân bay USS Sand Lance (SS-381) đã được cung cấp động cơ 10 xy lanh. Lúc đầu thì General Motors cũng hay cung cấp mẫu động cơ Model 16-248 cho các tàu, sau này bắt đầu với chiếc USS Perch (SS-313) mẫu động cơ Model 16-278A đã được dùng. Cứ mỗi lần thay thế, các động cơ mới có công suất lớn hơn, nhưng tiêu thụ năng lượng tương đương mẫu cũ cũng như hoạt động hiệu quả với áp suất thấp hơn vì thế làm tăng độ tin cậy.

Hai chiếc tàu ngầm USS Unicorn (SS-429) và USS Vendace (SS-430) được dư kiến sẽ trang bị động cơ diesel Hooven-Owens-Rentschler (H.O.R.) tuy nhiên việc đóng hai chiếc này đã bị hủy bỏ.

Hai dòng mô tơ phát điện được trang bị cho tàu ngầm lớp Balao là: Mô tơ của Công ty Elliott chủ yếu là loại Fairbanks-Morse và mô tơ của General Electric chủ yếu là loại General Motors. Nhưng đôi khi các loại tàu trang bị mô tơ Fairbanks-Morse được thay thế bằng mô tơ của General Electric. Mô tơ Allis-Chalmers đã được dự định trang bị cho các chiếc từ SS-530 đến SS-536 nhưng việc đóng chúng đã bị hủy ngay cả trước khi chúng có thể được đặc tên.

Các tàu ngầm được đóng đầu tiên trang bị bốn mô tơ điện tốc độ cao (hai mô tơ mỗi trục) với việc chúng được gắn thêm nhiều bánh răng giảm tốc để giảm áp lực do tốc độ cao của mô tơ tác động lên trục. Các bánh răng giảm tốc này rất ồn khi hoạt động vì thế khiến cho tàu ngầm dễ bị phát hiện bằng bộ phận khuyết đại âm thanh. Các tàu lớp Balao sau này được trang bị các mô tơ có tốc độ thấp có khả năng phân ứng điện tiếp xúc trực tiếp với các trục và hoạt động yên lặng hơn nhưng việc nâng cấp này không được trang bị phổ biến cho đến khi chế tạo thành công tàu ngầm lớp Tench. Với việc các động cơ diesel không trực tiếp liên kết đến các trục chân vịt nên các mô tơ điện phải hoạt động suốt thời gian.

Tàu ngầm lớp Balao là loại tàu ngầm thành công của hải quân Hoa Kỳ, một chiếc thuộc lớp này là USS Archer-Fish (SS-311) đã đánh chìm chiếc tàu lớn nhất mà tàu ngầm từng đánh chìm lúc bấy giờ là chiếc tàu sân bay Shinano của Nhật Bản.

Hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 2007 chiếc USS Tusk (SS-426) là một trong hai chiếc duy nhất thuộc lớp Balao còn hoạt động. nó đã được chuyển cho Trung Hoa Dân Quốc những năm 70.

Bảo tàng[sửa | sửa mã nguồn]

Tám chiếc tàu ngầm lớp Balao được trưng bày tại viện bảo tàng cho dân chúng. Chúng hoạt động chủ yếu nhờ vào doanh thu của khách tham quan và tùy thuộc vào tiêu chuẩn của hải quân Hoa Kỳ. Mỗi tàu đều được kiểm tra hàng năm và lập một "thẻ báo cáo". Một số tàu ngầm như chiếc BatfishPampanito thì khuyến khích thiếu niên và các tình nguyện viên ngủ qua đêm trên tàu trong khoang thủy thủ. Các tàu hiện đang trong viện bảo tàng là:

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bauer, K. Jack; Roberts, Stephen S. (1991). Register of Ships of the U.S. Navy, 1775-1990: Major Combatants. Westport, Connecticut: Greenwood Press. ISBN 0-313-26202-0.
  • Friedman 1995
  • Peter T. Sasgen (2002). Red scorpion: the war patrols of the USS Rasher. Naval Institute Press.
  • Museum documents an operating US, WW II built submarine in Taiwan
  • Jimmy Chuang (Tuesday, Apr 17, 2007). "World's longest-serving sub feted". Taipei Times.
  • Friedman, Norman (1995). U.S. Submarines Through 1945: An Illustrated Design History. Annapolis, Maryland: United States Naval Institute. ISBN 1-55750-263-3.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]